Hôm nay,  

Thăm thủ đô Hoa Thịnh Đốn (Washington D.C)

4/10/202321:37:00(View: 5375)


hung 1

Hoa anh đào ở Washington DC. 



Chúng tôi vừa thực hiện chuyến đi thăm vài tiểu bang dọc theo bờ biển vùng Đông-Bắc và Đông-Nam Hoa Kỳ. Khởi đầu chuyến đi ấy bằng cuộc du ngoạn từ Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Và nhân đây, chúng tôi xin được chia sẻ cùng các bạn vài điều hiểu biết và sự cảm nhận về thành phố này, nơi chúng tôi đã có dịp “cưỡi ngựa xem hoa” qua đó.
       (Từ đây tôi xin dùng tên Washington thay vì Hoa Thịnh Đốn trong bài viết).
      Thành phố Washington là thủ đô của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (The United States), mang tên vị Tổng Thống đầu tiên, với dân số trên một triệu người, đã hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý và thích thú của hàng triệu du khách tới thăm nơi đây mỗi năm.
      Ngoài cái thơ mộng của một thành phố soi bóng bên dòng sông Potomac với những rặng cây hoa anh đào nở rộ rực rỡ vào mùa xuân, đặc biệt trong những ngày “Hội hoa anh đào” nổi tiếng chẳng thua kém gì bên Nhật Bản. Washington còn là thành phố có nhiều cây xanh nhất thế giới, đứng hàng thứ hai là Paris.
      Khó mà tưởng tượng nổi, chỉ cách đây chưa đầy 250 năm, nơi đây còn là những vùng đất trồng trọt, chỉ có vài tòa nhà thuộc chính quyền biểu hiện uy quyền cho thủ đô của một quốc gia non trẻ.
      Thủ đô Washington hiện nay có một số công trình kiến trúc mang tính cách lịch sử và  những biểu tượng của thành phố đã thu hút số lượng lớn du khách phải kể đến Capitol Building hay Capital Hill (Tòa nhà Quốc Hội) nơi đó Lưỡng viện họp, White House (Nhà Trắng) nơi làm việc cũng là nơi ở của những vị tổng thống khi còn đương nhiệm, các tượng đài Washington Monument, Lincohn Memorial, Jefferson Memorial, Franklin D. Roosevelt Memorial, Martin Luther King Jr Memorial ... những đài tưởng niệm chiến tranh ở Việt Nam, Triều Tiên, Chiến Tranh Thứ Hai (Worl War II) ... , những công sự chính quyền như State Department Building (Bộ Ngoại giao), Treasury Building (Ngân khố) ... , Arlington National Cemetery (Nghĩa Trang Quốc Gia) nơi chôn cất khỏang 300.000 người gồm những người Hoa Kỳ có công trạng đặc biệt với đất nước, The National 9/11 Pentagon Memorial là đài tưởng niệm Quốc gia 11/9 của Lầu Năm Góc, Mount Vernon nơi nhà ở của George Washington khi ông còn sống, Đó là những nơi nằm trong giới hạn tôi được nghe hoặc có dịp tới thăm trong chuyến đi.
      Nhìn chung, Thủ đô Washington là một trong số những thủ đô đẹp nhất thế giới, xứng đáng là thủ đô của một đại cường quốc giàu mạnh. Ngoài cái văn minh, tráng lệ, nhiều kiến trúc đẹp, Washington còn là thành phố có nhiều bảo tàng viện phô diễn những nét độc đáo về văn hóa, nghệ thuật và khoa học kỹ thuật của Hoa Kỳ và thế giới.
 
Vài nét lịch sử (1)
         
Trước khi đi thăm thú Thủ đô Washington, chúng ta nên tìm hiểu một chút ít về lịch sử hình thànhnhững biến cố lịch sử xẩy ra cho thành phố này trong khoảng thời gian đầu lập quốc. 
      Vào năm 1789, khi George Washington trở thành Tổng Thống đầu tiên của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đất nước chưa có một thủ đô nhất định. Trong suốt thời kỳ Chiến Tranh Giải phóng (Revolutionary War) đã từng có 7 thành phố được sử dụng như thủ đô tạm thời. Thêm vào đó, các đại biểu Quốc Hội không thể thống nhất được với nhau về đia điểm của một thủ đô vĩnh viễn. Người thì chọn miền Nam, người thì chọn miền Bắc, mỗi người đều hy vọng nó sẽ nằm trong tiểu bang của mình. Cuối cùng mọi người đồng ý rằng thủ đô phải được xây dựng trên một vùng đất tự trị không thuộc vào bất cứ tiểu bang nào.
      Địa điểm cuối cùng được mọi người chọn lựa nằm bên bờ sông Potomac thơ mộng. Vùng đất thủ đô tương lai lúc đó thuộc về Tiểu bang Maryland, nhưng tiểu bang này đồng ý nhượng lại cho chính quyền Trung ương. Vùng đất này được đặt tên là District of Columbia (D.C.) để vinh danh Christopher Columbus người đầu tiên tìm ra châu Mỹ, và thủ đô tương lai được mang tên là Washington cũng để vinh danh Tổng thống đầu tiên George Washington của nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. (Người ta thường dùng Washington D.C để chỉ thủ đô vì Hoa Kỳ còn có một tiểu bang cũng mang tên Washington tức Washington State).
      Phần lớn những thủ đô trên thế giới đều được chọn lựa từ những thành phố đã có sẵn, nhưng trường hợp của Thủ đô Washington thì khác hẳn, nó được dự trù xây dựng lên từ đầu. Công việc xây dựng thủ đô được bắt đầu tiến hành vào năm 1791. Tới năm 1800, Quốc Hội chiếm điện Capitol làm nơi hội họp, và cũng cùng thời gian đó, President Palace (tức White House - Nhà Trắng) đã trở thành nơi làm việc và là nơi cư trú của những vị Tổng thống đương nhiệm trong tương lai.
 
hung 2           Capitol Hill (Quốc Hội)                                     White House

 

Người đưa ra những kế hoạch và dự án xây dựng Thủ đô Washington là Đại tá Pierre Charles L’Enfant, một kiến trúc sư gốc Pháp. Đại tá L’Enfant có một cuộc đời khá lý thú nhưng buồn thảm vào những năm cuối cùng của cuộc đời. Ông đến Hoa Kỳ vào năm 1775. Tương tự như hầu hết những người di dân đến từ Pháp trong thời gian ấy đều gia nhập quân đội trong cuộc Chiến tranh Giải phóng, trong đó có ông. Ông đã từng trải qua một mùa đông kinh hoàng trong hàng ngũ quân đội của Washington tại phòng tuyến Valley Forge thuộc tiểu bang Pennsylvania. Sau đó ông được thuyên chuyển về mặt trận miền Nam (South), ở đây ông từng tham dự vài trận đánh lớn, và vào năm 1781, ông bị quân Anh bắt làm tù binh.
      Trong suốt thời gian chiến tranh, L’Enfant đã tạo được sự chú ý của tướng Washington và những nhân vật trong chính quyền hồi đó về những đồ án kiến trúc khác nhau của ông. L'Enfant là một kiến trúc sư tài ba, con của một vị kiến trúc sư nổi tiếng thời bấy giờ của nước Pháp. Vào năm 1791 L’Enfant được cử làm Kiến trúc sư trưởng trong công việc xây dựng Thủ đô Washington. Ban đầu, ông nghiên cứu một đồ án dựa theo kiểu kiến trúc của thành phố bên Âu Châu tương tự như Versailles ở Pháp. Sau đó ông đưa ra một đề án khác, theo đồ án này thì thời gian xây dựng quá lâu và quá tốn kém. L'Enfant lại là người quá cứng rắn và bảo thủ, ông tranh cãi với tất cả mọi người trong chính quyền kể cả những người bạn cũng như những người từng mến mộ và ủng hộ ông như Washington. Ông đã chi tiêu quá nhiều tiền trong việc xây dựng Thủ đô đến nỗi chính quyền Trung ương không thể cung ứng nổi với sự đòi hỏi của ông và hơn nữa ông kiên quyết từ chối mọi sự sửa đổi hay cắt bớt bất cứ điều gì trong đồ án ấy. Cuối cùng Quốc Hội đành phải cách chức ông. Trước khi rời khỏi nhiệm sở, ông đã đem theo tất cả các hồ sơ lẫn đồ án ông đã vẽ. Những người kế nhiệm ông đã phải vất vả cùng nhau cố gắng nhớ lại những gì họ có thể nhớ được để tiếp tục công việc.
      Kế tiếp câu chuyện đó là một cuộc chiến đấu lâu dài và bền bỉ của L’Enfant về việc đòi chính quyền truy trả số tiền công cho ông. Cho tới lúc rời nhiệm sở, ông chưa nhận được một đồng thù lao nào. Sau mươi hay mười lăm năm đi lại tòa án tại Washington, ông được Quốc Hội và chính phủ đề nghị trả ông 2.500$ US Dollar, sau đó tăng lên 3.000$. Số tiền này ông cho là quá nhỏ so với số tiền ông đòi hỏi là 95.000$. Với đòi hỏi đó, kết quả là ông không nhận được đồng nào cho tới ngày ông chết trong nghèo đói.
      Vào năm 1909, Quốc Hội Hoa Kỳ vinh danh ông bằng cách di chuyển chiếc mộ vô danh của ông ở Maryland về chôn cất ở Nghĩa trang Quốc Gia Arlington, ngay trên đỉnh đồi cao nhất, ngay trước nhà tướng Lee. Mộ bia đề tên ông với chức vụ là Kiến trúc sư tạo dựng nên Thủ đô Washington này. Không có tượng đài để kỷ niệm dành riêng cho ông, nhưng đích thực, kiến trúc của cả Thủ đô Washington xinh đẹp ngày nay chính là tượng đài của ông vậy.

hung 3 pierre

Pierre Charles L’Enfant và mộ 

 
Thủ đô Washigton ngày nay là một thành phố tân kỳ, đẹp đẽ và đầy quyền lực đứng vào bậc nhất thế giới. Cái đẹp của Thủ đô Washington là hình ảnh những con đường dài và rộng rãi tỏa ra, phát xuất chạy từ toà nhà Quốc Hội Capitol Hill. Nhiều công trường, công viên đã từng nằm trong đồ án ban đầu của L’Enfant.
       Thời gian 50 năm đầu tiên, người ta vẫn còn đánh giá Thủ đô Washington như là một thành phố xấu xí và bẩn thỉu. 
      Vào năm 1814, Thủ đô Washington đã phải chịu đựng một biến cố thảm khốc nhất trong lịch sử của thành phố này. Nó bị chiếm đóng bởi lực lượng quân thù và bị tàn phá đến gần như toàn bộ. Thủ đô Washington bị đốt cháy trong thời kỳ chiến tranh (1812-1814), cuộc chiến xẩy ra giữa Hoa Kỳ và người Anh. Theo sử liệu thì đây là một cuộc chiến không cần thiết mà nguyên nhân của nó cũng không rõ ràng, ngay cả những người thời bấy giờ cũng nhận định như thế. Vào năm 1812, những dân biểu trẻ tuổi hiếu chiến trong Quốc Hội Hoa Kỳ chủ trương tiến đánh Florida và Canada của người Anh vì muốn lợi dụng cơ hội nước Anh đang bị bận rộn trong cuộc chiến tranh giữa nước Anh và nước Pháp thời Napoleon.
      Vào thời điểm đó, quân đội Hoa Kỳ chưa được huấn luyện để trở thành đội quân tinh nhuệ, chỉ là một đội quân ô hợp chưa sẵn sàng cho chiến tranh.
      Tháng 8 năm 1814, quân đội Anh ra tay trước, với lực lượng 4.000 người đổ bộ lên vịnh Chesapeake Bay đặt dưới quyền điều binh của Đô đốc Sir George Cockburn. Đội quân này di chuyển một cách chậm chạp tiến về hướng Thủ đô Washington. Tất cả mọi người trong Thủ đô rất sợ hãi. Những người ở các tiểu bang lân cận được động viên, đa số là người trẻ không có kinh nghiệm chiến trường. Ngay cả những nhân viên hành chính trong chính quyền cũng được vũ trang để chống trả quân thù. Tất cả lực lượng phòng thủ Thủ đô được tập trung ở Blacdenburg, một thành phố nhỏ cách Washington vài dặm (miles).
      Cuộc chiến đấu không xẩy ra vì khi vừa trông thấy những binh lính tinh nhuệ của người Anh thì đoàn quân phòng thủ của Hoa kỳ đã bỏ chạy tán loạn. Người Anh tiến vào thành phố Washington không gặp một sự chống cự nào. Sir Cockburn và quân lính của ông tiến vào mục tiêu đầu tiên, đó là Capitol Building (Capital Hill). Cockburn ngồi vào ghế của Chủ tịch Hạ viện Hoa kỳ và tuyên bố cho binh lính dưới quyền có quyền phá huỷ tất cả những gì họ muốn. Ngay lập tức họ đốt Capital Building, lúc đó vào khoảng 6 giờ chiều. Sau đó những người lính Anh di chuyển trên đại lộ Pennsylvania, họ đốt cháy và tiêu huỷ tất cả những gì trên đường họ đi qua. Vào 9 giờ tối hôm đó, họ tới President Palace, nơi cư ngụ của Tổng thống Madison và ngưòi vợ xinh đẹp Dolly. Cả hai ông bà và đoàn tuỳ tùng đã rời khỏi trước đó vài giờ. Bà Dolly Madison đã đem đi được vàng bạc và bức tranh quý giá vẽ chân dung cựu Tổng thống George Washington. Lính Anh sau khi ăn uống say sưa tại đây, họ nổi lửa đốt cháy căn nhà này.
      Thật may mắn thay, một cơn mưa lớn đã trút nước xuống từ suốt đêm hôm đó cho tới sáng ngày hôm sau nên đã dập tắt được những ngọn lửa còn cháy dở dang rải rác khắp Thủ đô. Căn nhà White House đã được cứu thoát một phần và không bị thiêu rụi đến tận nền móng. Những phần còn lại của căn nhà trở nên đen xì vì lửa, khói. Khi căn nhà được tu sửa lại, người ta phải dùng sơn trắng để sơn phủ lên những chỗ bị ám khói đen. Vì vậy, President Palace được gọi nôm na là White House (Nhà Trắng). Và cái tên White House được dùng phổ thông trong đại chúng cho tới ngày nay.
 
Thưởng ngoạn Thủ đô Washington
 
Chúng tôi đến thăm thủ đô vào mùa Xuân đúng dịp mùa hoa anh đào nở rộ. Tuy ngày đầu, dù thời tiết còn giá lạnh đến buốt thấu xương mỗi khi có những cơn gió thổi mạnh, chúng tôi vẫn không thể bỏ qua việc đi tản bộ bên dòng sông Potomac để thưởng thức vẻ đẹp thanh khiết của những rặng cây hoa anh đào mọc dọc theo khúc sông và chung quanh hồ Tidal Basin. Có những cành hoa anh đào lớn nhoài mình ra dòng nước thu hút nhiều du khách phương xa xúm lại chụp ảnh. Qua sang ngày thứ hai, trời nắng ấm, hoa anh đào trở nên rực rỡ làm sao. Tất nhiên là chúng tôi chụp rất nhiều ảnh tại đây vì không thể cưỡng lại cái vẻ đẹp thiên nhiên trong sáng của những cành đào chớm nở rung rinh trong làn gió nhẹ và lung linh dưới anh nắng thủy tinh ấm áp của mùa xuân đích thực, mà mới ngày hôm qua đây, thời tiết vẫn còn mang cái giá buốt bất thường rơi rớt lại của mùa đông. Nếu ta so sánh cái đẹp của ngày “Hội hoa anh đào” tại thủ đô Washington và tại cố đô Kyoto của Nhật Bản, tất nhiên mỗi nơi một vẻ, nhưng tôi thiên về cái vẻ đẹp của Washington hơn. Hội hoa anh đào ở Nhật mang nặng tính chất về “hội chợ” nhiều hơn vì quá đông người, đủ mọi thứ trò chơi tạo nên không khí ồn ào, nhộn nhịp trái ngược hẳn với vẻ tươi đẹp của những vườn hoa anh đào tươi mát, lung linh dưới ánh ban mai quanh đó.
 
hung 4

Ảnh chụp “Trục thẳng hàng” từ Capitol Hill (xa xa)

qua Whashington Monument (tháp Bút chì) tới Lincohn Memorial

nằm gần sát phía bờ sông Potomac.

(trong ảnh, chưa xây World War II Memorial cũng nằm trên trục này)

 

  
Để mở đầu, tôi xin nói về một quần thể kiến trúc nổi tiếng ở trung tâm Thủ đô đã thu hút du khách nhiều nhất.
      Quần thể kiến trúc khu thứ nhất. Nếu ta hướng thẳng từ tiền đình của Capitol Hill (Tòa nhà Quốc Hội) nhìn ra bờ sông Potomac, ta sẽ thấy một số công trình kiến trúc được xây dựng theo “trục thẳng hàng theo hướng đó. Đầu tiên là toà nhà Capitol Hill (Capital Building) hay Quốc Hội được xây trên một đồi cao mà tiền đình Quốc Hội là một công viên lớn, cổng vào có nhiều tượng đồng đúc rất to và đẹp; kế đến là một khu đất rộng, hình chữ nhật ngay ngắn, trồng cỏ xanh chạy dài từ Capital Hill tới Washington Monument mang tên National Mall, dọc theo hai bên khu đất này là những bảo tàng viện và những nhà trưng bày nghệ thuật rất lớn; chạy dọc kế tiếp khu đất National Mall là Washington Monument, một tượng đài hình tháp cao vút mà ta thường gọi là tháp “Bút chì”; kế sau đó là World War II Memorial gồm những búc tường cao riêng rẽ thẳng đứng được sắp xếp có khoảng cách đều nhau tạo thành một vòng tròn lớn và trên mỗi bức tường cao có ghi tên tượng trưng cho mỗi tiều bang của Hoa Kỳ; kế tiếp sau nữa là hồ nước Reflecting Pool rất rộng hình chữ nhật chạy dài thẳng tắp. Và đứng sau cùng là Lincohn Memorial, một kiến trúc có dáng vẻ đồ sộ, uy nghiêm, đầy nghệ thuật tọa lạc gần sát ngay bờ sông Potomac thơ mộng và bên trong kiến trúc là tượng Tổng thống Abraham Lincohn bằng đồng rất lớn cùng với những danh ngôn của ông để lại.
      Nói thêm ở đây, nếu ta trở ngược lại hai bên hồ Reflecting Pool:
      - Bên phía tay phải của hồ Reflecting Pool (nhìn từ Capital Hill) là Vietnam Veterans Memorial, đó là bức tường bằng đá hoa cương (marble) màu đen ghi tên những chiến binh Hoa Kỳ tử trận trong chiến tranh Việt Nam, và cạnh đó, một khu đất nhỏ dành cho The Memorial To Honor Woman Who Served In Vietnam để tưởng niệm những nữ quân nhân hay nữ dân chính chết vì phục vụ tại Việt Nam.
      - Bên phía tay trái của hồ Reflecting Pool (nhìn từ Capital Hill) là Korean War Veterans Memorial đối diện với Vietnam Veterans Memorial được dựng lên để tưởng niệm những chiến binh Hoa Kỳ tử trận tại cuôc chiến tranh Triều Tiên. Tại đây người ta dựng nên một cảnh di chuyển theo đội hình hành quân của một nhóm binh sĩ Hoa Kỳ dưới mưa.

hung 5Reflecting Pool          Vietnam War Memorial    Korean War Memorial
  
Từ quần thể kiến trúc này, nếu ta băng qua cầu Arlington Memorial Bridge, ngay tượng đài Lincohn Memorial, ta sẽ tới Arlington National Cemetery (Nghĩa trang Quốc gia).
      Và cũng từ tượng đài Lincohn Memorial, thay vì băng qua cầu để sang Nghĩa trang Arlington, ta quẹo trái dọc theo bờ sông Potomac thì sẽ tới hồ Tidal Basin ngay bên bờ sông Potomac và hồ được ăn thông với sông này.
      Quanh bờ hồ Tidal là một quần thể kiến trúc thứ hai được xây đựng như Franklin Delano Roosevelt Memorial, George Mason National Memorial, Martin Luther King Jr Memorial và đặc biệt nổi bật tượng đài Thomas Jefferson Memorial rất đẹp, nguy nga, tráng lệ không thua gì tượng đài Lincohn.

hung 6 Thomas Jefferson Memorial                            Lincohn Memorial
Trong khi đi thăm Roosevelt Memorial tôi không thể quên được những câu tuyên bố của ông được ghi trên vách tường như:
      - The structure of world peace can not be the work of one man, or one party or one nation... It must be a peace which rests on the cooperative effort of the whole world. (tạm dịch: Cấu trúc hòa bình thế giới không thể là công việc của một người, một bên hay một quốc gia ... Mà phải là một nền hòa bình dựa trên nỗ lực hợp tác của toàn thế giới).
      - I have seen war on land and sea. I have seen blood running from the wounded. I have seen the dead in the mud. I have seen cities destroyed. I have seen children starving. I have seen the agony of mothers and wives. I hate war. (tạm dịch: Tôi đã thấy chiến tranh trên bộ và trên biển. Tôi đã thấy máu chảy ra từ người bị thương. Tôi đã thấy người chết trong bùn. Tôi đã thấy các thành phố bị phá hủy. Tôi đã thấy những trẻ em chết đói. Tôi đã thấy sự thống khổ của những người mẹ và người vợ. Tôi ghét chiến tranh).
     Tượng đài cuối cùng chúng tôi đi thăm trong khu vực này là Martin Luther King Jr Memorial. Tượng đài được tạc hình tượng chân dung toàn thân ông Martin Luther King trên tảng đá trắng toát, lớn, oai nghiêm cùng với những lời nói của ông được đánh giá như những danh ngôn được ghi khắc trên những phiến đá cũng một màu trắng toát. Hẳn không ai không nhớ tới bài diễn văn bất hủ của ông với chủ đề “I have a dream” (Tôi có một mơ ước).
      - I have a dream that my four little children will one day live in a nation where they will not be judged by the color of their skin but by the content of their character. (tạm dich: Tôi có một ước mơ rằng bốn đứa con nhỏ của tôi một ngày nào đó sẽ được sống trong một quốc gia nơi đó chúng sẽ không bị đánh giá bởi màu da mà bởi tính cách của chúng)
       Trở lại khu trung tâm Thủ đô.  Chúng tôi tiếp tục được đi xem hầu hết những “bảo tàng viện”, nằm dọc theo hai bên giải đất National Mall, gồm nhiều loại khác nhau. Nào bảo tàng viện dành cho nền văn minh từ tiền sử đến hiện đại trên toàn thế giới, ngay đến cả những nơi xa xôi như vùng núi cao Hy Mã Lạp Sơn hay vùng Tây Tạng được mệnh danh là “nóc nhà thế giới”. Nào bảo tàng viện về văn hóa của nhiều sắc tộc khác nhau. Nào bảo tàng về hàng không với nhiều mô hình và hình ảnh được trưng bày theo tiến trình phát triển kể cả quân sự lẫn dân sự từ thời kỳ khởi thủy cho đến ngày nay, và kể cả khoa học không gian vũ trụ. Nào bảo tàng về nghệ thuật trưng bầy gồm nhiều họa phẩm nổi danh và cũng không thiếu những tác phẩm điêu khắc cổ điển được trưng bầy trong bảo tàng viện và những tác phẩm điêu khắc hiện đại tân kỳ được đặt trưng bày rải rác đây đó trong những khu “vườn nghệ thuật” ngoài trời. Tất nhiên còn nhiều điều thích thú khác cần được khám phá thêm nếu có đủ thời gian cho phép.
      Quả thật Thủ đô Washington là nơi “cái gì cũng có” đáp ứng cho những ai muốn đến đây tìm hiểu, học hỏi về một phần lớn lịch sử, văn minh Hoa Kỳ và một phần lớn trên thế giới.

 

(Còn tiếp)

 

– Nguyễn Giụ Hùng

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.