Hôm nay,  

Hàm răng ngọc

16/02/202310:31:00(Xem: 3759)
Truyện

rang


Nhớ lắm lúc như si như dại

Nhớ làm sao bải hoải tay chân

Nhớ hàm răng nhớ hàm răng

Nhớ người ngày đó vẫn khăng khít nhiều

(Thơ Hàn Mặc Tử)

 

Khi ta làm chuyện gì không phải ta đều sợ người khác chê cười. Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa. Nhưng cũng có khi ta ngẫm việc đời thì phó mặc, cười hở mười cái răng. Cười hở mười cái răng thì hở cũng hơi nhiều thật, nhưng khi cười có ai kìm hãm được niềm vui bộc lộ. Cười thì cứ thoải mái cho nó muốn hở bao nhiêu cái thì hở, cho thấy nụ cười gắn liền với hàm răng.

 

Trong các bài tình ca Việt Nam, Tình Hoài Hương chẳng hạn, ta vẫn nghe hát:

 

Ai về có nhớ, nhớ cô mình chăng

Tôi về, về tôi nhớ, nhớ hàm răng, răng cô mình cười…

 

Nụ cười với hàm răng là biểu hiệu sức sống của con người. Ngày xưa có người nói ông Kennedy đắc cử cũng một phần nhờ ông có nụ cười có duyên, quả không ngoa. Đây là nụ cười và hàm răng cho ra thành quả chính trị.

 

Hàm răng có lúc còn đóng vai trò chính yếu trong tình yêu. Một nha sĩ quen đi kén vợ, ông tính hỏi cô A, trong thâm tâm nghĩ thế, nhưng đi giữa đường gặp em cô A là cô B đứng lại hỏi han trò chuyện, ông thấy hàm răng cô B đều đặn, xinh xắn và bóng như ngà. Ông thấy đáng yêu và duyên dáng quá. Thành ra có một sự di chuyển tình cảm, ông không cưỡng lại được. Ông xin ngỏ lời và hỏi cưới cô B. Không phải chỉ có một mình anh bạn nha sĩ đó mới bị ảnh hưởng nghề nghiệp lái đi quẹo ngã rẽ vậy đâu. Sự duyên dáng, sự đưa đẩy và duyên số là chính yếu. Cứ tạm cho là như vậy cho yên lòng.

 

Chúng ta khi gặp nhau chào hỏi, là trước tiên, chính yếu là phải đưa cái hàm răng ra trình diện cho nhau. Có ai mà nói không cười, nhứt là không hở mười cái răng?

 

Hàm răng đẹp là hàm răng như thế nào, thưa các nha sĩ? Tôi hỏi mà tôi xin mạn phép trả lời thô thiển trước, vô duyên thật, nhưng kẹt là tôi đang viết đây. Ôi chờ được cái hẹn trả lời hay cái hẹn đi trám răng lâu quá, thôi thì mạn phép được nghĩ đại khái như thế nầy, hàm răng đẹp là răng mọc đều, mọc ngay ngắn, cái nọ khít bên cái kia, trắng và sạch.

 

Có người ví răng đều như hạt bắp, có người bảo răng đẹp như hạt huyền, có ngươi còn trân trọng hơn gọi là hàm răng ngọc. Ngược lại có người răng mọc không đều gọi là răng khểnh, khểnh ở trước miệng gọi là răng hô hay vổ, mà có thời người Việt Nam mình hay gọi nhau là Henrô. Nhưng nếu có cái răng mọc khểnh, xích ra ở một bên khóe miệng thì lại là răng duyên vì nó tăng duyên dáng cho nụ cười của bạn bội phần. Nhưng coi chừng khểnh một bên khóe miệng thì có thể làm cho ý trung nhân vương vấn, trằn trọc khó ngủ. Nhưng lỡ ai có cái răng khểnh nhọn cùng nhô ra một lượt hai bên mép thì đối tượng sợ khiếp vía, rút êm, vì cứ tưởng người đẹp là phó bản của Dracula hiện hình.

 

Ngày nay y khoa, nha khoa, khoa học và kỹ thuật tiến bộ chấn chỉnh được các hàm răng vô ý tứ. Các em bé và mọi người bị răng hô, răng khểnh đều được mang đi chữa, cho răng mọc đều và mọc đúng vị trí. Cái nào hung hăng mọc ngang mọc quẹo làm phiền thì cứ nhổ béng đi là xong. Sau đó trồng lại, thậm chí đẹp hơn cái trời cho. Cám ơn nha sĩ.

 

Nhưng khoảng những chục năm về trước điều đó không dễ, nên thời chúng tôi còn trẻ, khoảng 1960–1970, đa số người có tật về răng phải ráng chịu, phải mang tên Henri, Henrô, Tôi còn nhớ mãi như còn trong cuộc đời, dù nay tuổi đã về chiều. Chúng tôi có hai người bạn, một nam tên K, một nữ tên V. Cả hai học chung lớp, chơi thân, và cha mẹ hai bên muốn kết thân. Như tôi vừa nói cả hai, K và V, đều chơi thân nhau và học chung với nhau nhiều năm cho tới lúc cả hai thi xong tú tài, cùng vào đại học. Họ có cảm tình với nhau. Nhưng khi mẹ anh K đề nghị đi dạm chị V cho anh thì anh khăng khăng không chịu, không chịu lấy vợ, cũng không chịu nói rõ tại sao. Cả hai cứ lơ lơ lửng lửng như thế cho tới ngoài ba mươi tuổi. Ba chục tuổi đầu vào thập niên 1970 kể đã muộn màng. Chúng tôi là những bạn đồng môn với K và V mà đã tay bồng tay mang, ríu rít và bận rộn, tối ngày vừa công việc làm vừa con mọn.

 

Có một ngày K đến thăm vợ chồng con cái tôi, nhìn K ham chơi ham giỡn với đám con nít, tôi không giữ được, bật hỏi:

 

– Nầy ông K, tôi hỏi thật, chuyện ông với bà V tới đâu rồi?

 

Anh gãi đầu gãi tai, tần ngần mãi rồi trả lời tôi:

 

– Thật ra thì lúc nầy trời mưa to.

 

– Ô hay cái ông nầy, đang nói chuyện tình yêu thì lại bảo mưa to với mưa nhỏ là sao?

 

K đi đi lại lại cố giải thích rõ hơn:

 

– Cô thật là kém thông minh, hay nhỉ, vậy mà cũng gọi là cô giáo. Nầy nhé, chỉ khi nào có lắm mưa to gió lớn thì người ta mới cần mái hiên chớ.

 

– Trời, sao anh lại xấu bụng và xấu miệng như thế với V hả? Anh mà cứ xấu như vậy thì sẽ bị trời phạt đấy. – Tôi lo dùm anh quá. Sợ cứ cái đà nầy rồi anh kiếm cô Henret cũng không ra.

 

K hơi đỏ mặt bào chữa:

 

– Tôi không ác đâu, tôi chỉ muốn nói ra cái sự thật mà không ai chịu hiểu là sao? Ngay cả mẹ tôi cả ngày bà cứ khen V ngoan và chịu khó. Tôi lấy vợ chớ có lấy cái chịu khó đâu. Tình yêu ít ra cũng phải có cái bề ngoài trông được được cho mình cảm mến, không nói là để xúc động chứ.

 

Tôi không còn lý do để cãi lại và từ đó chúng tôi không còn dịp để đề cập tới tình yêu hay răng lợi nữa. Nghĩ đến răng lúc nào thì dù bận rộn đến mấy chúng tôi cũng không khỏi cười thầm trong bụng về cái ý tưởng ngộ nghĩnh của K. Tôi đinh ninh là K hẹp hòi.

 

Độ ấy các con tôi đã đến tuổi sâu răng và bị nhổ răng. Chúng rất sợ cha mẹ dắt đi nha sĩ săn sóc răng, mà ngược lại chúng thích theo bà nội ra chợ để cho « bà Năm giác lể » xông khói vào lợi răng đặng bắt ra con sâu răng. Có lần con tôi trở về với một gói kẹo to trên tay và khoe:

 

– Hôm nay nội đưa con ra bà Năm xông khói miệng bắt được một con sâu to bằng bấy nhiêu này mẹ.

 

Nó hăm hở nói như thật và chìa ra trước mặt mọi người xung quanh hẳn một ngón tay út xinh xắn. Hôm đấy trời sui khiến sao đó có cô V đến chơi, nghe con bé nói vậy cô cười ngất:

 

– Con sâu răng chi mà to dữ vậy. Nếu nó để trong răng, có ngày cáu tiết lên nó gậm hết hai hàm răng của bé Uyên thôi. Sao con không mang nó về đây bán cho cô, cô mua lại cho nó ăn hết ba cái răng vổ của cô đặng cô làm lại răng mới… nhưng sửa răng hô cũng khó lắm, răng có thể ngắn lại mà môi trên vẫn nhô ra, coi kỳ kỳ!

 

Thời gian vút qua như bóng câu qua cửa, hơn mười năm không gặp, khi K đến, trông đã thoáng nét mệt mỏi thời gian. Chúng tôi lại vấn đáp chuyện cũ khi K tâm sự:

 

– V bây giờ đã học xong luật. Cô làm lục sự ở tòa án và lấy một ông thẩm phán. Họ đã có hai cháu lớn bắt đầu đi học rồi. Tôi mới gặp họ ngoài phố.

 

– Còn anh?

 

– Tôi vẫn thế, vẫn trăm năm hạnh phúc một mình, vẫn lang thang và tự do.

 

– Nhưng anh vẫn có tin tức của V đều đấy chứ? Tụi tôi thì bận rộn.

 

– Dĩ nhiên, chúng ta là bạn thân từ nhỏ chứ giỡn đâu.

 

– Tôi đâu nói anh giỡn, tôi chỉ trách anh xem trọng cái hàm răng quá đáng.

 

– Cô quan niệm tình yêu không đúng, không toàn vẹn.

 

– Vậy tình yêu toàn vẹn phải có hàm răng đều cân xứng?

 

– Đúng. Hàm răng tự nhiên, không sửa chữa, không can thiệp.

 

Tôi tôn trọng ý kiến riêng của bạn, không nói thêm. Sau 1975, cộng sản áp đặt miền Nam, chúng tôi không được nghỉ hè mà phải đi học chính trị. Tình cờ trong một buổi hội thảo, mãi nhiều năm sau, tôi gặp lại K. Tôi được biết anh vẫn lủi thủi bên bà mẹ già tóc bạc phơ. Một lần, trong giờ giải lao, tôi đánh bạo hỏi:

 

– Anh vẫn chưa tìm được hàm răng đẹp?

 

– Rồi.

 

– Đâu? Nàng tên gì? Sao không mang lại đằng nhà chơi?

 

– Thủng thẳng, không gấp, nàng sẽ đến thăm vợ chồng cô và các cháu nếu tình hình tiến triển với chiều hướng tốt.

 

– Độ bao giờ?

 

– Đã bảo không lâu đâu. Từ từ, chỉ qua tháng tới thôi. Hết hè nầy là phải ra ngô, ra khoai… Tôi và nàng hẹn nhau cuối tuần sẽ tuyên bố chấp nhận tình yêu, hay là không bao giờ. Chúng tôi sẽ cùng đến ở điểm hẹn, tức là coi như ngầm đồng ý. Đó là điểm hẹn. Thiên Đàng, nơi gặp gỡ của bánh mì và hoa hồng, nói theo định nghĩa của Karl Marx. Tôi có bánh mì còn nàng mệnh danh là hoa hồng. Cứ xem như vậy đi.

 

– Đúng là học chính trị kiểu cộng sản, nói theo kiểu Vẹm.

 

Tôi hơi bực mình và buồn cười nhưng cũng lắng bụng chờ đợi, chờ đợi cho qua buổi hẹn để xem mặt Hoa Hồng, tò mò mà. Nhưng hỡi ơi, chủ thuyết cộng sản không đúng khi mà người ta không thực lòng đảm bảo, kể cả trong hoàn cảnh tình yêu muộn màng của anh bạn khó khăn. Hoa Hồng đến điểm hẹn mà bánh mì không đến. Không phải không đến kịp theo luật cung cầu, mà K tự ý không đến. Anh thành thực, tôi nghĩ là K thành thực, rất thành thực khi kể lại:

 

– Hôm đấy, một chiều chủ nhật đẹp trời, có sợi mây hồng vương vương trong gió, chúng tôi đã y hẹn bốn giờ chiều ở quán Thiên Đàng. Chúng tôi đã giao ước trước nếu cả hai cùng đến là cùng chấp nhận yêu nhau, nhưng nếu có một trong hai người thay đổi ý kiến vào giờ chót không đến, cuộc tình không thành thì người nầy không được vặn vẹo người kia là tại sao… và dù gì, về sau cả hai vẫn là bạn, vẫn là đồng nghiệp, cùng một tổ chuyên môn và vẫn cùng nhau soạn “giáo án“, dạy chung trường.

 

Tôi kiên nhẫn nghe. Anh lấy thuốc lá hút vài hơi, bình tĩnh nối lời:

 

– Tôi đã tắm rửa cho mát, diện quần áo bảnh bao, lên xe chạy, lòng ung dung thư thái tiến về phía Thiên Đàng. Còn cách điểm hẹn năm trăm thước, tôi ngừng lại bên đường, hút điếu thuốc, suy nghĩ thêm lần chót: tại sao mình lại đến? Tại sao lại phải đến? Tại sao sống lại cần đến Hoa Hồng? Nhìn trời, hút tàn điếu thuốc, tôi tìm ra một chân lý mới: tôi là tôi, cũng là mây, là gió, là trăng nước. Tại sao lại phải tùy thuộc vào một người. Cho dù người đó là Hoa Hồng? Thế là tôi quay xe trở về nhà. Ừ nhỉ, quên mất mình đang sống tự tại, tự do, muốn đi đâu thì đi, về đâu thì về. Tự nhiên lại buộc vào mình một gốc Hoa Hồng gai góc, phiền toái làm chi. Thôi thôi cứ tự nhìn trong cái xã hội nầy đã rồi tính sau. Tôi khỏi phải làm phiền ai và khỏi ai làm phiền tôi, sống vậy là tiên trong đời.

 

K nói một hơi, đắc ý một mình. Tôi nhìn cái bản mặt anh phát ghét.

 

– Thôi, anh lẩn thẩn lắm, đi về đi. Tôi chán nghe chuyện lẩm cẩm của anh lắm rồi. Đồ đàn ông mà sợ trách nhiệm.

 

Chúng tôi không chào từ biệt nhau.

 

Mãi gần khi tôi từ giã quê hương xuất ngoại để đoàn tụ gia đình với chồng con tôi, mùa Noël 1982–1983 thi K đến tìm tôi và cho chúng tôi hay:

 

– Các bạn ạ, vì mái hiên yêu dấu, nàng vừa đến chào tôi để đi xa, thật xa đây, đi đoàn tụ với đại gia đình bên kia trời tây thăm thẳm, có lẽ rồi tới cuối cuộc đời… không bao giờ tôi và V còn gặp lại nhau nữa.

 

Mặt anh hơi tái và phảng phất nét thống thiết, bàng hoàng. Chúng tôi chưa kịp phản ứng thì anh đã hậm hực, nói thêm:

 

Tôi chả hiểu tại sao cái ông Thượng Đế mà ai ai cũng khâm phục, lại ban cho V cái hàm răng chả hợp tí nào với khuôn mặt và con người của V. Răng lợi như vậy có khác nào chửi bố nhau còn đỡ tức hơn.

 

– Thôi mệt quá rồi ông tướng ơi. Đầu đời cũng chuyện cái răng, cuối đời lăn lộn mãi cũng chuyện cái răng hô. Thôi quên đi là xong.

 

– Tôi cũng cố quên, mà quên cũng có nghĩa là phải nhớ nhiều hơn nữa.

 

– Sao ngày xưa anh không nghĩ như vậy có êm đẹp hơn không? Còn cô Hoa Hồng giờ ra sao rồi?

 

– Hoa Hồng sau đó giận tôi đổi đi xa. Nhưng đừng nói đến cô ấy nữa. Tôi đang nghĩ về V.

 

– Khi nào anh cũng quyết định trễ và khó khăn hơn mọi người.

 

Chung quy cũng tại lỗi ở cái hàm răng. Tôi tranh luận thật lâu với bạn tôi. Tôi khăng khăng cho là bạn K không thật lòng yêu V vì khi đã yêu, người ta yêu cả nét đẹp lẫn nét xấu. Khi yêu cô Lan, hay yêu cô Mai thì tại vì đó là Lan, là Mai. Bạn tôi nhứt định cãi tôi. Anh nói trong tình yêu mà không toàn vẹn, dễ nhìn (?) rồi sẽ bỏ nhau sớm hay muộn mà thôi. Anh dẫn chứng là lúc thuận thảo thì sao cũng xong, nhưng khi đã xích mích thì nhìn cái vô duyên của người đối diện « chỉ muốn vả » cho một cái.

 

– Chúc Thanh

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi là một nhân viên dân sự hay đi công tác xa nhà để hỗ trợ kỹ thuật cho các đơn vị lính chiến Mỹ đóng đồn ở các nơi tiền tuyến xa xôi, nguy hiểm, và gian khổ như Iraq, Afghanistan, Châu Phi. Dĩ nhiên khi sống trong các trại lính, tôi cũng phải sống kỷ luật như lính và đương nhiên ăn, ngủ trong lều bạt cũng như lính. Không có một sự ưu đãi nào hơn lính. Hôm nay tôi kể bạn nghe về việc ăn và uống của họ khi được ăn những bữa ăn nóng hổi hoặc khi phải nhai lương khô, để bạn thấy được khi xa nhà, họ nhớ và thèm đến thế nào những bữa ăn bốc khói ngon lành của mẹ, của vợ nấu khi ngồi quây quần chung quanh bàn ăn gia đình dưới ánh đèn ấm áp tràn đầy tiếng cười vui. Thuở xa xưa khi quân đội còn chiến đấu bằng vũ khí thô sơ như gươm giáo, cung nỏ, bất cứ đoàn quân nào, khi chinh chiến xa, chỉ có xe lừa, ngựa chuyên chở chậm chạp, người chỉ huy đều phải tính sao cho có đủ lương thực nuôi quân thì mới mong đánh thắng được kẻ thù. Mỗi người lính ngày xưa chỉ đem theo mình cao lắm là khoảng
New York City đang dần dần hồi sinh. Tháng Tám nầy sẽ có “home coming concert” ở Central Park để ăn mừng, nghe đâu có mời Simon và rất nhiều người tiếng tăm khác.
Châu Về Hợp Phổ - đó là câu nói của Bs Nguyễn Đức Tùng, khi ông có nhã ý trao tặng bức tranh khảm xà cừ để chúng tôi đưa về Mẹ tôi. Chúng tôi thoạt đầu rất áy náy nhưng khi hiểu rõ câu nói và tấm chân tình của ông thì hân hạnh và cảm động được làm người nối tiếp cuộc hành trình 50 năm của bức tranh hy hữu. Bên dưới góc phải của bức tranh là tấm bảng nhỏ ghi tên người tặng là Ba tôi, đại tá Nguyễn Ngọc Khôi đang trong chức vụ thị trưởng Đà Nẵng và người nhận là trung tướng Donn J. Robertson, thuộc Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.
Người đáng sợ hơn ma, chỉ có người mới sân hận thù ghét, chỉ có người mới đâm bị thóc thọc bị gạo, dèm pha phỉ báng; cũng chỉ có người mới tham lam tranh đoạt bằng mọi giá và cũng chỉ có người mới chơi đểu, chơi dơ, chơi xấu... Người hại người mới ghê gớm và tàn bạo.
Anh đậu xe trước chung cư, đèn khẩn cấp nhấp nháy đều đặn. Năm phút rưỡi chờ đợi. Những người qua lại nhìn anh. Những cái nhìn tọc mạch, xét nét. Bốn giờ ba mươi sáu phút, bóng em lấp ló ngoài khung cửa. Mắt em dừng lại ở xe anh. Trời lạnh. Em mặc áo da trông ấm cúng lạ thường. Nhưng anh không cảm thấy thèm được ôm chầm lấy em để hơi ấm hai thân thể hòa lẫn trong nhau như thuở trước. Em thong thả bước xuống những bậc thang xi măng ẩm ướt. Một chiếc xe van dừng lại phía sau anh. Những đầu tóc mầu đen rối bù ló ra khung cửa. Rồi những bàn chân da vàng khẳng khiu bước xuống xe, tất tả. Tiếng cười đùa, gọi nhau ơi ới vang cả một góc đường. Em luống cuống mở cửa xe. Em chào anh. Vẫn giọng nói thì thầm như hơi thở độ nào. Anh cố cười thật tươi đáp lại.
Người ta thường ca tụng tình yêu là vật đẹp muốn mầu (Love is a splendid thing). Quả đúng như thế, vì tình yêu đúng nghĩa cao đẹp của nó là bao gồm hành động bác ái, chỉ biết cho đi mà không cần nhận lại, nào là những lời yêu thương ngọt ngào trìu mến chân thật trao cho nhau, phát xuất từ đáy con tim, chứ không phải bằng đầu môi chóp lưỡi, như người ta vẫn thường nghe thấy.
Không lẽ người Việt giờ chỉ mới lên ba sao? Sao cứ phải ạ khan như thế này? Cứ ạ, ạ, ạ vô tội vạ kiểu này chắc chết! Mà đâu chỉ có ạ, còn bao nhiêu từ ngữ khác nữa, hiểu được chết liền! Tâm tư Michael nghĩ mông lung, cũng may buổi diễn vừa đến hồi kết thúc.
Quay ra cửa, thấy Ba tôi, ông y tá chạy thoát bằng cửa sau, bỏ quên bộ đồ tây của Ba tôi. Dòng kỷ niệm buồn của tôi vừa đến đây, tôi chợt nghe tiếng Ba tôi gọi: “Con!” Quay lại, tôi thấy Ba tôi ngồi xuống chiếc ghế cạnh tôi, vừa chỉ theo ba Bố con đang đi trên đường trước nhà tôi vừa nói: -Cậu đó với hai đứa nhỏ làm Ba nhớ thời gian gia đình mình sống ở Sơn Tịnh và Hà Bằng.
- Anh ấy chung tình lắm chị ạ. Em dám cá bây giờ cho một cô gái thật đẹp sống chung trong nhà thì anh ấy vẫn chỉ biết có em thôi. - Thế em đã thử chưa ? - Cần gì phải thử chị ! Lần này thì Nguyệt nghiêm trang nói: - Không thử sao biết người ta thật chung tình với mình ? Dường như hơi bị đuối lý nhưng Nga vẫn chống chế: - Thử thì cũng được nhưng ngộ nhỡ ? - Ngộ nhỡ tức là người ta đâu thực sự chung tình với mình, có phải vậy không ? - Nhưng làm thế nào để thử ?
Tôi thì thầm với hắn chuyện ấy, thêm chút muối, chút mắm rằng tôi có thể nói giùm để mụ chủ thông cảm chuyện viết lách của hắn. Hắn cám ơn tôi và hào hứng nói thêm rằng một giây phút cảm hứng có thể ghi tên nhà văn vào danh sách vĩnh cửu. Rồi hắn lan man qua chuyện ông Gheorghiu nhà văn nào đó ở nước tôi. Hắn say mê nói về những anh nông dân Johan, những mục sư Kuruga, những nhân vật Traian… (không biết tôi viết tên có đúng không) vớ vẩn trong cuốn “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” nào đó mà tôi chưa bao giờ nghe nói đến chứ đừng bàn đến chuyện đã đọc hay chưa. Nhìn hai con mắt rực rỡ tin yêu của hắn, tôi chỉ thấy tội nghiệp, nhưng hắn không hiểu. Hắn hăng hái bảo mỗi lần tạo ra một nhân vật, hắn phải cố sống trọn vẹn tâm trạng nhân vật ấy. Từ kẻ sát nhân, kẻ anh hùng, người thất nghiệp, gã ăn mày, ăn xin, tên sở khanh, người đứng vất vơ đầu đường xó chợ, kẻ trộm, kẻ cướp, tên hãm hiếp phụ nữ… Tất cả những tâm lý nhân vật ấy hắn đều đã tự đọa đày mình để trải qua, để sống thực, để viết cho “sống”
Câu cá là một thú vui tao nhã và nhàn hạ, nhưng chỉ bắt được ít cá chứ không nhiều. Đánh bắt bằng lưới và tàu thuyền thì được nhiều hơn, nhưng phải sắm sửa vật dụng, tàu bè, chắc chắn tốn kém nhiều tiền. Trong cuộc sống, khi đi làm phải chịu nhiều áp lực công việc, nhiều người chọn câu cá như một thú vui xả căng thẳng ở chỗ làm. Tôi chẳng bao giờ sắm cần câu để tự mình đi câu vì tôi không có số “sát cá”. Tôi đã thử mấy lần theo bạn bè đi câu mà chẳng bao giờ câu được con cá nào. Muốn ăn cá, tôi vào chợ “câu” là chắc ăn. Nhưng có 1 lần trong đời tôi chẳng tốn kém gì mà vẫn bắt được rất nhiều cá, cả 5, 6 bao tải cá, ăn không kịp phải phơi khô. Tôi xin kể cho bạn làm thế nào tôi bắt cá được nhiều, nhưng xin bạn đừng bắt chước theo tôi với kiểu nói quen thuộc trên TV bây giờ: “Do not try this at home”. Những ngày còn trong nước, khoảng thời gian năm 1975, 1976, tại ngã ba cây số 67 trên đường đi ra Bà Rịa, Vũng Tàu, có một vùng kinh tế mới tự túc tên là Bầu Cạn. Thời đó cả nước
Mùa Hè đầu thập niên 60, từ Đà Nẵng, chúng tôi mở cuộc “hành phương Nam” vào thành phố Nha Trang. Dũng có người bà con ở dưới Cầu Đá, đã nhiều lần vào Nha Trang, mô tả vùng trời phương xa thật hấp dẫn, ba đứa còn lại được nghe bạn kể nên rất náo nức, được dịp rủ rê nên chớp ngay cơ hội sau vài ngày nghỉ hè. Bốn đứa mang theo hai chiếc xe đạp để tiện việc di chuyển, đáp chuyến xe đò Phi Long từ mờ sáng, đến Nha Trang vào lúc mặt trời lặn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.