Hôm nay,  

Hàm răng ngọc

16/02/202310:31:00(Xem: 3736)
Truyện

rang


Nhớ lắm lúc như si như dại

Nhớ làm sao bải hoải tay chân

Nhớ hàm răng nhớ hàm răng

Nhớ người ngày đó vẫn khăng khít nhiều

(Thơ Hàn Mặc Tử)

 

Khi ta làm chuyện gì không phải ta đều sợ người khác chê cười. Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa. Nhưng cũng có khi ta ngẫm việc đời thì phó mặc, cười hở mười cái răng. Cười hở mười cái răng thì hở cũng hơi nhiều thật, nhưng khi cười có ai kìm hãm được niềm vui bộc lộ. Cười thì cứ thoải mái cho nó muốn hở bao nhiêu cái thì hở, cho thấy nụ cười gắn liền với hàm răng.

 

Trong các bài tình ca Việt Nam, Tình Hoài Hương chẳng hạn, ta vẫn nghe hát:

 

Ai về có nhớ, nhớ cô mình chăng

Tôi về, về tôi nhớ, nhớ hàm răng, răng cô mình cười…

 

Nụ cười với hàm răng là biểu hiệu sức sống của con người. Ngày xưa có người nói ông Kennedy đắc cử cũng một phần nhờ ông có nụ cười có duyên, quả không ngoa. Đây là nụ cười và hàm răng cho ra thành quả chính trị.

 

Hàm răng có lúc còn đóng vai trò chính yếu trong tình yêu. Một nha sĩ quen đi kén vợ, ông tính hỏi cô A, trong thâm tâm nghĩ thế, nhưng đi giữa đường gặp em cô A là cô B đứng lại hỏi han trò chuyện, ông thấy hàm răng cô B đều đặn, xinh xắn và bóng như ngà. Ông thấy đáng yêu và duyên dáng quá. Thành ra có một sự di chuyển tình cảm, ông không cưỡng lại được. Ông xin ngỏ lời và hỏi cưới cô B. Không phải chỉ có một mình anh bạn nha sĩ đó mới bị ảnh hưởng nghề nghiệp lái đi quẹo ngã rẽ vậy đâu. Sự duyên dáng, sự đưa đẩy và duyên số là chính yếu. Cứ tạm cho là như vậy cho yên lòng.

 

Chúng ta khi gặp nhau chào hỏi, là trước tiên, chính yếu là phải đưa cái hàm răng ra trình diện cho nhau. Có ai mà nói không cười, nhứt là không hở mười cái răng?

 

Hàm răng đẹp là hàm răng như thế nào, thưa các nha sĩ? Tôi hỏi mà tôi xin mạn phép trả lời thô thiển trước, vô duyên thật, nhưng kẹt là tôi đang viết đây. Ôi chờ được cái hẹn trả lời hay cái hẹn đi trám răng lâu quá, thôi thì mạn phép được nghĩ đại khái như thế nầy, hàm răng đẹp là răng mọc đều, mọc ngay ngắn, cái nọ khít bên cái kia, trắng và sạch.

 

Có người ví răng đều như hạt bắp, có người bảo răng đẹp như hạt huyền, có ngươi còn trân trọng hơn gọi là hàm răng ngọc. Ngược lại có người răng mọc không đều gọi là răng khểnh, khểnh ở trước miệng gọi là răng hô hay vổ, mà có thời người Việt Nam mình hay gọi nhau là Henrô. Nhưng nếu có cái răng mọc khểnh, xích ra ở một bên khóe miệng thì lại là răng duyên vì nó tăng duyên dáng cho nụ cười của bạn bội phần. Nhưng coi chừng khểnh một bên khóe miệng thì có thể làm cho ý trung nhân vương vấn, trằn trọc khó ngủ. Nhưng lỡ ai có cái răng khểnh nhọn cùng nhô ra một lượt hai bên mép thì đối tượng sợ khiếp vía, rút êm, vì cứ tưởng người đẹp là phó bản của Dracula hiện hình.

 

Ngày nay y khoa, nha khoa, khoa học và kỹ thuật tiến bộ chấn chỉnh được các hàm răng vô ý tứ. Các em bé và mọi người bị răng hô, răng khểnh đều được mang đi chữa, cho răng mọc đều và mọc đúng vị trí. Cái nào hung hăng mọc ngang mọc quẹo làm phiền thì cứ nhổ béng đi là xong. Sau đó trồng lại, thậm chí đẹp hơn cái trời cho. Cám ơn nha sĩ.

 

Nhưng khoảng những chục năm về trước điều đó không dễ, nên thời chúng tôi còn trẻ, khoảng 1960–1970, đa số người có tật về răng phải ráng chịu, phải mang tên Henri, Henrô, Tôi còn nhớ mãi như còn trong cuộc đời, dù nay tuổi đã về chiều. Chúng tôi có hai người bạn, một nam tên K, một nữ tên V. Cả hai học chung lớp, chơi thân, và cha mẹ hai bên muốn kết thân. Như tôi vừa nói cả hai, K và V, đều chơi thân nhau và học chung với nhau nhiều năm cho tới lúc cả hai thi xong tú tài, cùng vào đại học. Họ có cảm tình với nhau. Nhưng khi mẹ anh K đề nghị đi dạm chị V cho anh thì anh khăng khăng không chịu, không chịu lấy vợ, cũng không chịu nói rõ tại sao. Cả hai cứ lơ lơ lửng lửng như thế cho tới ngoài ba mươi tuổi. Ba chục tuổi đầu vào thập niên 1970 kể đã muộn màng. Chúng tôi là những bạn đồng môn với K và V mà đã tay bồng tay mang, ríu rít và bận rộn, tối ngày vừa công việc làm vừa con mọn.

 

Có một ngày K đến thăm vợ chồng con cái tôi, nhìn K ham chơi ham giỡn với đám con nít, tôi không giữ được, bật hỏi:

 

– Nầy ông K, tôi hỏi thật, chuyện ông với bà V tới đâu rồi?

 

Anh gãi đầu gãi tai, tần ngần mãi rồi trả lời tôi:

 

– Thật ra thì lúc nầy trời mưa to.

 

– Ô hay cái ông nầy, đang nói chuyện tình yêu thì lại bảo mưa to với mưa nhỏ là sao?

 

K đi đi lại lại cố giải thích rõ hơn:

 

– Cô thật là kém thông minh, hay nhỉ, vậy mà cũng gọi là cô giáo. Nầy nhé, chỉ khi nào có lắm mưa to gió lớn thì người ta mới cần mái hiên chớ.

 

– Trời, sao anh lại xấu bụng và xấu miệng như thế với V hả? Anh mà cứ xấu như vậy thì sẽ bị trời phạt đấy. – Tôi lo dùm anh quá. Sợ cứ cái đà nầy rồi anh kiếm cô Henret cũng không ra.

 

K hơi đỏ mặt bào chữa:

 

– Tôi không ác đâu, tôi chỉ muốn nói ra cái sự thật mà không ai chịu hiểu là sao? Ngay cả mẹ tôi cả ngày bà cứ khen V ngoan và chịu khó. Tôi lấy vợ chớ có lấy cái chịu khó đâu. Tình yêu ít ra cũng phải có cái bề ngoài trông được được cho mình cảm mến, không nói là để xúc động chứ.

 

Tôi không còn lý do để cãi lại và từ đó chúng tôi không còn dịp để đề cập tới tình yêu hay răng lợi nữa. Nghĩ đến răng lúc nào thì dù bận rộn đến mấy chúng tôi cũng không khỏi cười thầm trong bụng về cái ý tưởng ngộ nghĩnh của K. Tôi đinh ninh là K hẹp hòi.

 

Độ ấy các con tôi đã đến tuổi sâu răng và bị nhổ răng. Chúng rất sợ cha mẹ dắt đi nha sĩ săn sóc răng, mà ngược lại chúng thích theo bà nội ra chợ để cho « bà Năm giác lể » xông khói vào lợi răng đặng bắt ra con sâu răng. Có lần con tôi trở về với một gói kẹo to trên tay và khoe:

 

– Hôm nay nội đưa con ra bà Năm xông khói miệng bắt được một con sâu to bằng bấy nhiêu này mẹ.

 

Nó hăm hở nói như thật và chìa ra trước mặt mọi người xung quanh hẳn một ngón tay út xinh xắn. Hôm đấy trời sui khiến sao đó có cô V đến chơi, nghe con bé nói vậy cô cười ngất:

 

– Con sâu răng chi mà to dữ vậy. Nếu nó để trong răng, có ngày cáu tiết lên nó gậm hết hai hàm răng của bé Uyên thôi. Sao con không mang nó về đây bán cho cô, cô mua lại cho nó ăn hết ba cái răng vổ của cô đặng cô làm lại răng mới… nhưng sửa răng hô cũng khó lắm, răng có thể ngắn lại mà môi trên vẫn nhô ra, coi kỳ kỳ!

 

Thời gian vút qua như bóng câu qua cửa, hơn mười năm không gặp, khi K đến, trông đã thoáng nét mệt mỏi thời gian. Chúng tôi lại vấn đáp chuyện cũ khi K tâm sự:

 

– V bây giờ đã học xong luật. Cô làm lục sự ở tòa án và lấy một ông thẩm phán. Họ đã có hai cháu lớn bắt đầu đi học rồi. Tôi mới gặp họ ngoài phố.

 

– Còn anh?

 

– Tôi vẫn thế, vẫn trăm năm hạnh phúc một mình, vẫn lang thang và tự do.

 

– Nhưng anh vẫn có tin tức của V đều đấy chứ? Tụi tôi thì bận rộn.

 

– Dĩ nhiên, chúng ta là bạn thân từ nhỏ chứ giỡn đâu.

 

– Tôi đâu nói anh giỡn, tôi chỉ trách anh xem trọng cái hàm răng quá đáng.

 

– Cô quan niệm tình yêu không đúng, không toàn vẹn.

 

– Vậy tình yêu toàn vẹn phải có hàm răng đều cân xứng?

 

– Đúng. Hàm răng tự nhiên, không sửa chữa, không can thiệp.

 

Tôi tôn trọng ý kiến riêng của bạn, không nói thêm. Sau 1975, cộng sản áp đặt miền Nam, chúng tôi không được nghỉ hè mà phải đi học chính trị. Tình cờ trong một buổi hội thảo, mãi nhiều năm sau, tôi gặp lại K. Tôi được biết anh vẫn lủi thủi bên bà mẹ già tóc bạc phơ. Một lần, trong giờ giải lao, tôi đánh bạo hỏi:

 

– Anh vẫn chưa tìm được hàm răng đẹp?

 

– Rồi.

 

– Đâu? Nàng tên gì? Sao không mang lại đằng nhà chơi?

 

– Thủng thẳng, không gấp, nàng sẽ đến thăm vợ chồng cô và các cháu nếu tình hình tiến triển với chiều hướng tốt.

 

– Độ bao giờ?

 

– Đã bảo không lâu đâu. Từ từ, chỉ qua tháng tới thôi. Hết hè nầy là phải ra ngô, ra khoai… Tôi và nàng hẹn nhau cuối tuần sẽ tuyên bố chấp nhận tình yêu, hay là không bao giờ. Chúng tôi sẽ cùng đến ở điểm hẹn, tức là coi như ngầm đồng ý. Đó là điểm hẹn. Thiên Đàng, nơi gặp gỡ của bánh mì và hoa hồng, nói theo định nghĩa của Karl Marx. Tôi có bánh mì còn nàng mệnh danh là hoa hồng. Cứ xem như vậy đi.

 

– Đúng là học chính trị kiểu cộng sản, nói theo kiểu Vẹm.

 

Tôi hơi bực mình và buồn cười nhưng cũng lắng bụng chờ đợi, chờ đợi cho qua buổi hẹn để xem mặt Hoa Hồng, tò mò mà. Nhưng hỡi ơi, chủ thuyết cộng sản không đúng khi mà người ta không thực lòng đảm bảo, kể cả trong hoàn cảnh tình yêu muộn màng của anh bạn khó khăn. Hoa Hồng đến điểm hẹn mà bánh mì không đến. Không phải không đến kịp theo luật cung cầu, mà K tự ý không đến. Anh thành thực, tôi nghĩ là K thành thực, rất thành thực khi kể lại:

 

– Hôm đấy, một chiều chủ nhật đẹp trời, có sợi mây hồng vương vương trong gió, chúng tôi đã y hẹn bốn giờ chiều ở quán Thiên Đàng. Chúng tôi đã giao ước trước nếu cả hai cùng đến là cùng chấp nhận yêu nhau, nhưng nếu có một trong hai người thay đổi ý kiến vào giờ chót không đến, cuộc tình không thành thì người nầy không được vặn vẹo người kia là tại sao… và dù gì, về sau cả hai vẫn là bạn, vẫn là đồng nghiệp, cùng một tổ chuyên môn và vẫn cùng nhau soạn “giáo án“, dạy chung trường.

 

Tôi kiên nhẫn nghe. Anh lấy thuốc lá hút vài hơi, bình tĩnh nối lời:

 

– Tôi đã tắm rửa cho mát, diện quần áo bảnh bao, lên xe chạy, lòng ung dung thư thái tiến về phía Thiên Đàng. Còn cách điểm hẹn năm trăm thước, tôi ngừng lại bên đường, hút điếu thuốc, suy nghĩ thêm lần chót: tại sao mình lại đến? Tại sao lại phải đến? Tại sao sống lại cần đến Hoa Hồng? Nhìn trời, hút tàn điếu thuốc, tôi tìm ra một chân lý mới: tôi là tôi, cũng là mây, là gió, là trăng nước. Tại sao lại phải tùy thuộc vào một người. Cho dù người đó là Hoa Hồng? Thế là tôi quay xe trở về nhà. Ừ nhỉ, quên mất mình đang sống tự tại, tự do, muốn đi đâu thì đi, về đâu thì về. Tự nhiên lại buộc vào mình một gốc Hoa Hồng gai góc, phiền toái làm chi. Thôi thôi cứ tự nhìn trong cái xã hội nầy đã rồi tính sau. Tôi khỏi phải làm phiền ai và khỏi ai làm phiền tôi, sống vậy là tiên trong đời.

 

K nói một hơi, đắc ý một mình. Tôi nhìn cái bản mặt anh phát ghét.

 

– Thôi, anh lẩn thẩn lắm, đi về đi. Tôi chán nghe chuyện lẩm cẩm của anh lắm rồi. Đồ đàn ông mà sợ trách nhiệm.

 

Chúng tôi không chào từ biệt nhau.

 

Mãi gần khi tôi từ giã quê hương xuất ngoại để đoàn tụ gia đình với chồng con tôi, mùa Noël 1982–1983 thi K đến tìm tôi và cho chúng tôi hay:

 

– Các bạn ạ, vì mái hiên yêu dấu, nàng vừa đến chào tôi để đi xa, thật xa đây, đi đoàn tụ với đại gia đình bên kia trời tây thăm thẳm, có lẽ rồi tới cuối cuộc đời… không bao giờ tôi và V còn gặp lại nhau nữa.

 

Mặt anh hơi tái và phảng phất nét thống thiết, bàng hoàng. Chúng tôi chưa kịp phản ứng thì anh đã hậm hực, nói thêm:

 

Tôi chả hiểu tại sao cái ông Thượng Đế mà ai ai cũng khâm phục, lại ban cho V cái hàm răng chả hợp tí nào với khuôn mặt và con người của V. Răng lợi như vậy có khác nào chửi bố nhau còn đỡ tức hơn.

 

– Thôi mệt quá rồi ông tướng ơi. Đầu đời cũng chuyện cái răng, cuối đời lăn lộn mãi cũng chuyện cái răng hô. Thôi quên đi là xong.

 

– Tôi cũng cố quên, mà quên cũng có nghĩa là phải nhớ nhiều hơn nữa.

 

– Sao ngày xưa anh không nghĩ như vậy có êm đẹp hơn không? Còn cô Hoa Hồng giờ ra sao rồi?

 

– Hoa Hồng sau đó giận tôi đổi đi xa. Nhưng đừng nói đến cô ấy nữa. Tôi đang nghĩ về V.

 

– Khi nào anh cũng quyết định trễ và khó khăn hơn mọi người.

 

Chung quy cũng tại lỗi ở cái hàm răng. Tôi tranh luận thật lâu với bạn tôi. Tôi khăng khăng cho là bạn K không thật lòng yêu V vì khi đã yêu, người ta yêu cả nét đẹp lẫn nét xấu. Khi yêu cô Lan, hay yêu cô Mai thì tại vì đó là Lan, là Mai. Bạn tôi nhứt định cãi tôi. Anh nói trong tình yêu mà không toàn vẹn, dễ nhìn (?) rồi sẽ bỏ nhau sớm hay muộn mà thôi. Anh dẫn chứng là lúc thuận thảo thì sao cũng xong, nhưng khi đã xích mích thì nhìn cái vô duyên của người đối diện « chỉ muốn vả » cho một cái.

 

– Chúc Thanh

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Những tàng cây ngả nghiêng trong gió. Lá me xanh rải đầy đường. Cơn đói bò lan ra cả ngoài da. Chỉ còn hai tiếng đồng hồ nữa là tới giờ hẹn. Không còn cách nào khác. Hắn đạp xe vòng quanh con phố. Bụng quặn lên ngàn con sóng. Biển động cấp năm trong bao tử và ruột non ruột già. Nhưng cơn đói hùng hổ như thế cũng chẳng thấm thía gì so với nỗi lo âu đầy nanh vuốt của cái việc phải làm. Hắn quẹo gắt vào con hẻm. Tay lái xe vướng vào quang gánh một người đàn bà bán hàng rong. Cú giật ngược làm hắn lao đao và người đàn bà nhùng nhằng sắp ngã. Chén bát xô vào nhau loảng xoảng hai đầu quang gánh. Người đàn bà trợn ngược con mắt.
Sau ngày 30 tháng tư 1975 tôi bị ở tù như mọi người cựu quân nhân Cộng Hòa. Ở tù ra, đói khát, lang thang, tới giai đoạn mà “cái đèn đường có chưn nó cũng muốn kiếm đường mà đi.” Đi khỏi quê hương đất tổ mồ mả ông cha, còn cái gì khổ cho bằng? Vậy mà phải đi. Nhứt định đi. Nếu được tới bến bờ tự do thì nhờ phúc đức ông bà kiếm sống rồi tím cách đem thân nhân còn lại không thì chết cũng lẹ làng hơn là chết đói chết khát tại quê hương. Tù vượt ngục về còn có cái mình không với cái quần xà lỏn. Tiền bạc có đâu???, vàng cây để vượt biên là chuyện ngoài chân mây. May mắn hết sức là tôi liên lạc được thằng bạn đồng ngũ đã qua Mỹ, má nó mua chiếc ghe bầu tính chuyện vượt biên đang cần người lái tàu mà tôi là cựu hải quân ngành Rada truyền tin. Bà cho tôi giữ ghe một năm để chuẩn bị.
Chủ Nhật mùng 9 vừa qua của tháng 5 này là Ngày Hiền Mẫu (Mother’s Day) tại Hoa Kỳ, để cho tất cả con cái có dịp đặc biệt tỏ lòng thành kính tri ân người Mẹ qua nhiều hình thức khác nhau, đã phải cực nhọc hy sinh mọi gian khổ để nuôi dưỡng con khôn lớn, ăn học thành tài và sống tự lập ngoài xã hội. Nói riêng về Đạo Công Giáo, trong suốt tháng 5 này gọi là tháng Dâng Hoa Đức Mẹ của tất cả các tín đồ người Công Giáo Việt Nam trên hoàn vũ, bầy tỏ lòng kính mến và tôn vương Thánh Nữ Đức Mẹ Đồng Trinh Maria là Mẹ Thiên Chúa.
Ông già đứng chờ ở chỗ thiên hạ trả xe đẩy hàng, cạnh cửa ra vào tiệm thực phẩm Á Châu. Ông cụ mong ngóng từ tâm của khách hàng. Và con mắt ông cụ sáng lên khi người thanh niên đẩy chiếc xe lại chỗ trả. Anh ta gài sợi dây từ chiếc xe trước vào xe mình để đồng tiền cắc một đồng lọt ra. Ông già chớp vội hai mắt chờ đợi. Người thanh niên cầm đồng xu và ném về phía ông già. Ông già nhanh miệng cảm ơn và đưa tay đón bắt, nhưng hụt, và đồng tiền lăn tròn trên nền xi măng, phía dưới những chiếc xe đẩy cho khách dùng chất đồ mua trong tiệm.
Theo lệ thường thì Elite Nguyen thức giấc lúc bảy giờ sáng vào mỗi cuối tuần, riêng tuần này thì dậy sớm hơn, sau khi vệ sinh cá nhân thì Elite công phu buổi sáng. Mỗi thời công phu của Elite chỉ chừng hơn một tiếng đồng hồ, có khi thì niệm Phật, tụng kinh hoặc ngồi quán hơi thở. Elite đã có lần cảm nhận sự an lạc tuyệt vời, cái an lạc từ nội tâm làm khoan khoái lan tỏa khắp thân và có cảm giác như bay bổng như làn mây. Cũng có đôi khi đang niệm Phật, Elite thấy thân mình phình to ngang trời đất, nhìn xuống thấy sơn hà đại địa nhỏ xíu như cái sa bàn, những giây phút ấy rất ngắn nhưng đủ để cảm thấy lạ thường. Elite cũng tự cảnh tỉnh mình, đó chỉ là cảm giác huyễn hoặc, dù có hỷ lạc nhưng không chấp vào cái cảm giác ấy. Sáng chủ nhật tuần này cũng thế, sau khi công phu thì Elite ra vườn tưới hoa và ngắm hoa, khu vườn nhỏ nhưng đủ các loại hoa cho bốn mùa, nào là: Pansy, tulip, dạ lý hương, dã yên, cẩm tú cầu, lyli...
Ngày còn là sinh viên Đại học U.C. Berkeley, trưa thứ Sáu nắng đẹp anh em trong ban chấp hành Hội Sinh viên Việt Nam thường đem bàn, ghế ra ngồi ngoài Sproul Plaza để quảng bá sinh hoạt, tạo cơ hội cho các bạn ghé thăm nhau, chia sẻ buồn vui hay tán gẫu sau một tuần học hành căng thẳng. Những buổi trưa như thế, tôi đi loanh quanh dưới hàng cây xanh rợp bóng mát, chụp vài pô hình, ghé vào bàn của các hội đoàn sinh viên khác xem có những hoạt động gì.
Đến đây, tôi nghĩ, có vị sẽ nghĩ rằng chiến tranh đã chấm dứt từ lâu rồi, khơi dậy làm chi nữa! Xin thưa, cứu đói Thương Binh V.N.C.H. trong lúc này không phải là khơi dậy những đau thương của cuộc chiến mà chính là quý vị đang xoa dịu nỗi đau/đang hàn gắn phần nào những tan tác/đang chia xẻ phần nào những tệ hại còn sót lại sau cuộc chiến.
Cô thường kể cho hắn nghe về vùng biển ấm nơi cô đang ở. Giọng cô mời mọc, “Có dịp nào đó, anh qua đây chơi. Đêm trăng sáng em sẽ dẫn anh ra biển nghe sóng vỗ rì rào. Em sẽ dẫn anh đi tìm những con ốc biển thường bò lăng quăng trên bãi. Em sẽ chỉ cho anh coi những con dã tràng loay hoay se cát. Em sẽ chỉ cho anh coi những vết cắt san hô dưới bàn chân rướm máu. Bữa trước, em đuổi bắt một con hải âu anh biết không. Con chim dạn không tưởng tượng được. Nó chờ em lại thật gần rồi mới vỗ cánh bay đi. Có lần em chạm cả vào bộ lông trơn mượt. Con chim dụ em chạy vòng quanh trên bãi mãi tới khi em ngã nhào vào con sóng. Lúc ấy, nó mới vỡ ra những tiếng kêu thích thú. Đám du khách nhìn em cười ngặt nghẹo. Em xấu hổ quá thôi...”
Là người dân của Mỹ cũng may mắn như được làm con nhà giàu. Nếu được làm con nhà giàu thì phải biết mở lòng để giúp những người kém may mắn. Chúng tôi vẫn luôn nhớ, và thực hành điều này như lời dạy của các đấng sinh thành trong các bữa cơm thời thơ dại, như lời dạy của các thầy cô môn Công Dân giáo dục thời còn cắp sách.
Đời nhà Lý, các sư Pháp Thuận, Vạn Hạnh… cũng vì nước mà tham gia chính sự, ra tay hộ quốc, an định thế nước, từ ấy quốc thạnh dân an, đạo pháp xương long. Đời Trần có nhiều bậc long tượng thiền môn hết lòng hộ quốc như: Pháp Loa, Huyền Quang… Các vua Thái Tổ, thánh Tông, Nhân Tông… đều là thiền sư kiệt xuất cả, nhưng khi sơn hà xã tắc lâm nguy thì các ngài tạm gác Phật sự để ra tay hộ quốc, hộ dân, âu đó cũng là độ sanh giác chúng!
Ai đâu có ngờ mùa tan trường năm 1975 là mùa chia tay vĩnh viễn các thầy, các cô, các bạn hoc trò nam nữ. Họ ra đi muôn phương, mất hút trong màu khói lửa. Còn đâu hình ảnh thân kính các Thầy, các Cô, hình ảnh thân thương của các cô cậu hoc trò trường Duy Tân, Bồ Đề, Phan Rang năm nào...
Cô muốn quay lại, nhìn thẳng vào mặt từng người, dằn từng chữ; vâng, từng chữ, vào những cái mặt câng câng đang hóng chuyện ở góc hẻm. Nhưng sao câu nói ấy nghe quen quen. Và cô nhớ ra mới hồi sáng nay, anh ruột cô, lúc khệnh khạng đi tới đi lui trên nền xi măng xám xịt, sửa đi sửa lại cái cà vạt đang siết cứng lấy cổ, đã ề à câu ấy. Ừ, lỡ bỏ tiền mướn xe phải chạy cho nó đáng chứ. Đàng nào cũng trả tiền rồi. Xe đã bao trọn buổi sáng chả lẽ chỉ chạy từ nhà cô dâu thẳng qua nhà chú rể coi sao được. Làm vậy mất giá con gái người ta chứ bộ. Chú rể đã nói thế thì phải như thế. Đời người chỉ có một lần. Lòng cô chợt lắng xuống, như phím đàn bị ngón tay ai đó bấm trúng một nốt thật trầm. Anh cả thay đổi quá. Mới có mấy năm trời mà anh đã nói năng như bị ai đó nhập vào. Cả câu nói chỉ còn hai chữ “chứ bộ” là của anh, là của cái thời cắp sách đến trường. Cũng may là chỉ hai chữ đó thôi, đã làm lòng cô lắng xuống và hình ảnh bao nhiêu trường lớp nhập nhòe trước mắt cô.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.