Hôm nay,  

Quên, Có Được Không?

23/07/202100:00:00(Xem: 6048)

Mười bảy tuổi đã làm mẹ. Cô gái ấy rụt rè như đứa trẻ. Cô đứng nhìn đứa bé sơ sinh như nhìn một vật lạ. Đứa bé có nước da vàng sậm. Người ta đặt nó trong lồng kính. Cô y tá bảo đó là cái incubator. Cái lồng ấp. Ấp đứa bé như người ta ấp trứng. Nhưng cái lồng ấp trong bệnh viện hôm nay không ấp trứng mà ấp đứa bé mới chào đời. Bác sĩ bảo cơ thể hài nhi tự nó chưa đủ khả năng biến dưỡng chất mật nên bilirubin tràn lan trong máu và đọng lại dưới da, thành ra da đứa bé màu vàng sậm. Bệnh viện đặt con của cô trong lồng ấp vài hôm dưới ánh đèn màu xanh da trời để tia sáng giúp làm tan bớt chất sắc tố mật đọng dưới da. Người mẹ đứng vẩn vơ bên cạnh cái lồng ấp. Đứa bé có miếng vải che hai con mắt để tia sáng khỏi làm hư nhãn cầu. Mười bảy tuổi. Người mẹ vừa mới qua cái tuổi dậy thì; cái tuổi (lẽ ra) bận rộn với đèn sách và (dĩ nhiên) tíu tít những hẹn hò.

Bạn thân mến. Đó là phần đầu của một câu chuyện thật. Phần cuối mới có nhiều điều đáng nói. Và trước khi kể tiếp câu chuyện có thật này có lẽ tôi cũng nên học theo những tay nhà báo trong nước, và chạy một cái “tít” đầy lôi cuốn, đại khái như: “Chuyện một người mẹ cho đi đứa con mới chào đời và cái kết bất ngờ.”

Đứa bé vàng khè như củ nghệ ấy nằm trong lồng ấp chỉ vài hôm thì cái thứ sắc tố màu vàng kia tan đi, và da dẻ nó hồng hào trở lại. Như người nữ diễn viên o bế nhan sắc để khi lên sân khấu khán giả thấy cô lung linh, rực rỡ; như con gà con vịt vỗ cho béo tốt, hồng hào để bán cho được giá; đứa trẻ sơ sinh ấy được nuôi trong lồng ấp cho da dẻ thôi vàng sậm, cho hồng hào, dễ thương trước khi người mẹ đặt tay lên tờ giấy cam kết ký vào cái ô đồng ý cho đi núm ruột của mình.

Bạn thân mến. Tôi có dịp làm nhân chứng cho buổi ký giấy tờ “sang nhượng” ấy. Tờ giấy quan trọng ấy bảo rằng người mẹ mười bảy tuổi kia sẽ tuyệt đối không được tiếp xúc, liên lạc - trực tiếp hay gián tiếp - với đứa bé – nó không phải là con của cô nữa đâu nhé! (nhân viên xã hội dặn dò người mẹ mười bảy tuổi như thế) – cho đến khi đứa bé lên 18 tuổi.

Những giấy tờ ấy đã được ký cách đây ba chục năm. Nếu ký ngày hôm nay, hẳn sẽ có thêm những chi tiết như “không tiếp xúc, không liên lạc trực tiếp hay gián tiếp, với đứa bé qua các phương tiện như điện thoại, Facebook, email, twitter, Viber, Whatsapp, Instagram…” hệt như điều kiện trong những “restraining order” của tòa án.

Mấy mươi năm rồi, tôi vẫn nhớ những giọt nước mắt của người mẹ trẻ khi ngập ngừng ký tên mình vào tờ “án lệnh”, và tôi cũng không quên được con mắt đen tròn của đứa bé khi cô y tá đem nó ra khỏi cái lồng ấp cho mẹ nó bế nó trên tay một lần cuối cùng. Tôi vẫn nhớ khi nó ọ oẹ đòi bú, mẹ nó đút ngón tay vào miệng nó, và nó ngậm lấy ngón tay ấy mút ngon lành theo phản xạ. Mấy mươi năm rồi, tôi vẫn băn khoăn không biết khi qua cái tuổi mười tám, đứa bé năm xưa có truy tìm cho ra mẹ ruột của nó không.

Rồi khi biết những người nuôi mình từ buổi sơ sinh là cha mẹ nuôi và nó bỗng dưng muốn nói với mẹ ruột (cô gái mười bảy tuổi năm xưa) chỉ một câu thôi, thì nó sẽ nói câu gì?

Đứa bé chắc chắn không thể hình dung ra khuôn mặt, ra vóc dáng, ra giọng nói, ra cử chỉ của mẹ nó nhưng mẹ nó – cô gái mười bảy tuổi năm ấy – có lẽ sẽ không quên nước da hồng hào của nó khi người ta đem nó ra khỏi lồng ấp, cùng hình ảnh cái miệng nhỏ xíu ọ oẹ đòi bú và cảm giác êm ái khi cái miệng bé tí ấy mút trên đầu ngón tay mình.

Mà có chắc cô gái mười bảy tuổi dạo ấy còn nhớ không. Nhiều hy vọng cô đã có một mái gia đình êm ấm, cô đã có những đứa con, và những đứa con ấy có cha có mẹ trọn vẹn chứ không như đứa bé vàng vọt ngày xưa trong khai sinh còn chưa kịp mang họ mẹ. Tôi đoán người mẹ ấy đã quên, và nếu quên hẳn được thì đó biết đâu lại là điều may mắn. Bởi có nhớ cũng chẳng thay đổi được gì.

Trên thế giới này có không biết bao nhiêu người mẹ phải cho đi đứa con mình vất vả cưu mang suốt chín tháng mười ngày. Và những chuyện như thế tưởng chừng chỉ có trong những cuốn phim bộ dài tới mấy mươi tập, để khán giả trốn chạy thực tại được phút nào hay phút ấy, tránh né được càng nhiều càng tốt những cảnh đời nhiễu nhương giữa cuộc sống nghèo nàn, đầy áp bức, bất công; và để khi thấy nhân vật đau khổ, người xem bỗng dưng thấy mình dù sao cũng còn hạnh phúc.

Chuyện tôi vừa kể xảy ra ở Xứ Tuyết. Bạn hãy cùng tôi về đất nước có cái tên dài lê thê Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Hãy hình dung một người đàn bà lam lũ, nặng trĩu trên vai quang gánh kẽo kẹt những củ khoai củ sắn sần sượng. Và khệ nệ phía trước một cái bụng vun tròn của bào thai vừa bước vào tháng thứ tám. Trên con dốc mòn dẫn ra phố chợ, một khách hàng đón đầu chị bán khoai, hỏi han chiếu lệ về những củ khoai sùng trong cái thúng tuột cạp phải niềng thêm bằng những sợi dây lác chằng chịt. Người đàn bà mừng rỡ vì có người hỏi tới những củ khoai củ sắn ế ẩm. Nhưng chuyện bán buôn dừng lại ở đó, bởi người khách kia hỏi thẳng chị có muốn có một số tiền lớn không. Chị bán khoai ngỡ ngàng. Tiền thì ai không muốn. Gia tài nhà chị chưa bao giờ có được tới mười triệu đồng tiền nhà nước Việt Nam. Chị đặt quang gánh xuống, vừa thở hì hạch vừa nhìn người khách lạ mà không biết trả lời sao cho phải lẽ. Người khách ấy không vòng vo xa xôi. Người khách ấy nhìn đăm đăm vào mắt chị, rồi chỉ vào cái bụng căng tròn nếp áo của chị và bảo nếu chị chịu qua Trung Quốc để sinh con thì chị sẽ có tám mươi triệu nếu đứa bé là con gái, và từ bốn mươi đến năm mươi triệu nếu đứa bé là con trai.

Chị bán khoai có ba ngày để suy nghĩ. Suốt ba ngày ấy, con số 40 cùng con số 80 ám lấy chị. Hạn ba ngày chưa hết, chị đã xuống phố chợ, tìm người khách kia, cho chị ta câu trả lời.

Và khi thai kỳ qua đến tháng thứ chín, người đàn bà bán khoai ấy quyết định sang Tàu đẻ con.

Người ta đưa chị đến thị trấn ven biên, người dẫn đường đưa chị len lỏi những lối mòn hoang vu, qua những khoảng rừng thưa, băng qua nhiều con suối, đi thuyền, đi xe cả ngày trời. Và người ta giấu chị trong một căn nhà tối tăm ẩn khuất cuối con ngõ cụt. Người ta cho chị ăn uống đầy đủ nhưng không được phép ra ngoài. Chị bán khoai Việt Nam lưu lạc giữa một thôn xóm xa lạ trong nội địa nước láng giềng phương bắc.

Rồi cái ngày quan trọng đã tới. Những cơn đau rung cả giường chiếu. Những lời trấn an (hay la mắng) bằng ngôn ngữ xa lạ vây quanh chị. Thời gian ngừng trôi. Bọc nước ối vỡ. Đứa bé chào đời. Sản phụ người Việt Nam dẫu lả đi vì cơn đau bất tận cũng cố chống tay ngồi dậy để nhìn con mình, nhưng một người đàn ông đã nhanh nhẹn cuốn hài nhi vào mấy lớp khăn vải và bế vội ra ngoài. Sản phủ nghiêng đầu lắng nghe tiếng khóc trẻ sơ sinh xa dần rồi chìm vào tiếng xào xạc của cành lá rậm rạp cọ vào mái nhà. Sản phụ người Việt Nam xớn xác hỏi: Cháu là con trai hay con gái vậy? Những người Tàu chung quanh không trả lời. Có thể vì họ không hiểu tiếng Việt, cũng có thể họ không bận tâm trả lời. Một người đưa cho chị cọc tiền giấy. Sản phụ run rẩy mở mớ Nhân Dân Tệ ấy ra đếm. Sản phụ nhẩm tính. Sản phụ băn khoăn không biết con mình là trai hay gái, cho đến khi đếm xong cọc tiền và nhẩm tính trị giá tương đương qua tiền nhà nước Việt Cộng. Tám mươi triệu. Chị hiểu là chị vừa sinh con gái.

Và chị thầm hỏi không biết con gái có giống mình không.

Ngày hôm sau, người ta đốc chị khăn gói chuẩn bị lên đường. Chị lại đi xe cả ngày trời, lại đi thuyền, lại lội suối, lại băng rừng, lại len lỏi những lối mòn để về lại quê nhà.

Chuyến vượt biên mẹ đi cùng với con. Chuyến hồi hương mẹ chỉ có một mình.

Đường về, chị gặp người đồng cảnh ngộ. Cũng người Việt, cũng phụ nữ, cũng nghèo, cũng có thai, cũng đem con đi bán, nhưng người đồng cảnh ngộ ấy không may mắn như chị. Người ấy chỉ thu về được có bốn mươi triệu tiền nhà nước Việt Cộng.

Bạn thân mến. Tôi chỉ gặp người mẹ mười bảy tuổi một lần duy nhất khi cô ấy ký giấy cho đi đứa con mới sinh được một tuần. Tôi cũng chỉ thấy đứa bé ấy thấp thoáng qua khung kính khu trại trẻ sơ sinh lúc mẹ nó đút ngón tay vào miệng cho nó mút. Không bao giờ gặp lại họ nên tôi không có “cái kết bất ngờ” như các anh chị nhà báo Việt Cộng hay “giật tít”. Tôi cũng không biết đoạn kết liên quan đến những sản phụ Việt Nam sang Tàu bán con ra sao. Tôi chỉ biết thương những bé gái Việt (dưới một góc nhìn khác) sau khi bị bán sang Tàu, sẽ chỉ là những công cụ đáp ứng cho hậu quả của việc nhà nước cộng sản Tàu áp đặt chính sách mỗi nhà chỉ được phép có một con phối hợp với quan niệm cổ lỗ và phản khoa học rằng chỉ con trai mới có thể duy trì nòi giống; còn những bé trai Việt Nam lớn lên trong gia đình Tàu, nói tiếng Tàu, thấm nhuần thứ văn hóa của những kẻ tự nhận là mình trung tâm của thế giới, lớn lên đi lính Tàu và biết đâu trong một lần “dạy cho bọn Việt Nam một bài học”, nó gặp lại người đàn bà đem nó đi bán năm xưa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chẳng hiểu vì sao, vào lúc bắt đầu cảm thấy già, tôi lại lẩm cẩm đi tìm lại định nghĩa về chữ “bạn”. Bạn tôi là ai? Tại sao tôi lại kết bạn với họ? Lúc trẻ đã từng có một thời suýt bị vợ bỏ vì “lo cho bạn nhiều hơn cho gia đình”; nhưng khi đến độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” tôi lại đâm ra làm biếng gặp hầu hết những nhóm bạn từng một thời thân thiết.
Hôm đó, cô nhất định phải giết cây dạ quỳnh. Khi đêm tối bao phủ, cô sẽ ra tay. Lấy một con dao bén để xắt cành lá nó ra từng mảnh nhỏ. Lấy chai thuốc Draino loại hủy hoại rễ cây để ngâm hết các rễ của nó. Nó phải chết một cách tiệt tích, không còn một chút cơ hội nào sống sót. Nó phải bị phơi khô trên cao vì Quỳnh đụng đất sẽ có thể mọc lại. Cô biết, giết Quỳnh là mất đi tiếng nói vo ve chị em tâm sự. Cô đơn khi có Quỳnh sẽ thay vào cô đơn không có Quỳnh. Cô sẽ bắt đầu một cô đơn khác.
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Lộc đã chết! Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.