Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Quên, Có Được Không?

23/07/202100:00:00(Xem: 2189)

Mười bảy tuổi đã làm mẹ. Cô gái ấy rụt rè như đứa trẻ. Cô đứng nhìn đứa bé sơ sinh như nhìn một vật lạ. Đứa bé có nước da vàng sậm. Người ta đặt nó trong lồng kính. Cô y tá bảo đó là cái incubator. Cái lồng ấp. Ấp đứa bé như người ta ấp trứng. Nhưng cái lồng ấp trong bệnh viện hôm nay không ấp trứng mà ấp đứa bé mới chào đời. Bác sĩ bảo cơ thể hài nhi tự nó chưa đủ khả năng biến dưỡng chất mật nên bilirubin tràn lan trong máu và đọng lại dưới da, thành ra da đứa bé màu vàng sậm. Bệnh viện đặt con của cô trong lồng ấp vài hôm dưới ánh đèn màu xanh da trời để tia sáng giúp làm tan bớt chất sắc tố mật đọng dưới da. Người mẹ đứng vẩn vơ bên cạnh cái lồng ấp. Đứa bé có miếng vải che hai con mắt để tia sáng khỏi làm hư nhãn cầu. Mười bảy tuổi. Người mẹ vừa mới qua cái tuổi dậy thì; cái tuổi (lẽ ra) bận rộn với đèn sách và (dĩ nhiên) tíu tít những hẹn hò.

Bạn thân mến. Đó là phần đầu của một câu chuyện thật. Phần cuối mới có nhiều điều đáng nói. Và trước khi kể tiếp câu chuyện có thật này có lẽ tôi cũng nên học theo những tay nhà báo trong nước, và chạy một cái “tít” đầy lôi cuốn, đại khái như: “Chuyện một người mẹ cho đi đứa con mới chào đời và cái kết bất ngờ.”

Đứa bé vàng khè như củ nghệ ấy nằm trong lồng ấp chỉ vài hôm thì cái thứ sắc tố màu vàng kia tan đi, và da dẻ nó hồng hào trở lại. Như người nữ diễn viên o bế nhan sắc để khi lên sân khấu khán giả thấy cô lung linh, rực rỡ; như con gà con vịt vỗ cho béo tốt, hồng hào để bán cho được giá; đứa trẻ sơ sinh ấy được nuôi trong lồng ấp cho da dẻ thôi vàng sậm, cho hồng hào, dễ thương trước khi người mẹ đặt tay lên tờ giấy cam kết ký vào cái ô đồng ý cho đi núm ruột của mình.

Bạn thân mến. Tôi có dịp làm nhân chứng cho buổi ký giấy tờ “sang nhượng” ấy. Tờ giấy quan trọng ấy bảo rằng người mẹ mười bảy tuổi kia sẽ tuyệt đối không được tiếp xúc, liên lạc - trực tiếp hay gián tiếp - với đứa bé – nó không phải là con của cô nữa đâu nhé! (nhân viên xã hội dặn dò người mẹ mười bảy tuổi như thế) – cho đến khi đứa bé lên 18 tuổi.

Những giấy tờ ấy đã được ký cách đây ba chục năm. Nếu ký ngày hôm nay, hẳn sẽ có thêm những chi tiết như “không tiếp xúc, không liên lạc trực tiếp hay gián tiếp, với đứa bé qua các phương tiện như điện thoại, Facebook, email, twitter, Viber, Whatsapp, Instagram…” hệt như điều kiện trong những “restraining order” của tòa án.

Mấy mươi năm rồi, tôi vẫn nhớ những giọt nước mắt của người mẹ trẻ khi ngập ngừng ký tên mình vào tờ “án lệnh”, và tôi cũng không quên được con mắt đen tròn của đứa bé khi cô y tá đem nó ra khỏi cái lồng ấp cho mẹ nó bế nó trên tay một lần cuối cùng. Tôi vẫn nhớ khi nó ọ oẹ đòi bú, mẹ nó đút ngón tay vào miệng nó, và nó ngậm lấy ngón tay ấy mút ngon lành theo phản xạ. Mấy mươi năm rồi, tôi vẫn băn khoăn không biết khi qua cái tuổi mười tám, đứa bé năm xưa có truy tìm cho ra mẹ ruột của nó không.

Rồi khi biết những người nuôi mình từ buổi sơ sinh là cha mẹ nuôi và nó bỗng dưng muốn nói với mẹ ruột (cô gái mười bảy tuổi năm xưa) chỉ một câu thôi, thì nó sẽ nói câu gì?

Đứa bé chắc chắn không thể hình dung ra khuôn mặt, ra vóc dáng, ra giọng nói, ra cử chỉ của mẹ nó nhưng mẹ nó – cô gái mười bảy tuổi năm ấy – có lẽ sẽ không quên nước da hồng hào của nó khi người ta đem nó ra khỏi lồng ấp, cùng hình ảnh cái miệng nhỏ xíu ọ oẹ đòi bú và cảm giác êm ái khi cái miệng bé tí ấy mút trên đầu ngón tay mình.

Mà có chắc cô gái mười bảy tuổi dạo ấy còn nhớ không. Nhiều hy vọng cô đã có một mái gia đình êm ấm, cô đã có những đứa con, và những đứa con ấy có cha có mẹ trọn vẹn chứ không như đứa bé vàng vọt ngày xưa trong khai sinh còn chưa kịp mang họ mẹ. Tôi đoán người mẹ ấy đã quên, và nếu quên hẳn được thì đó biết đâu lại là điều may mắn. Bởi có nhớ cũng chẳng thay đổi được gì.

Trên thế giới này có không biết bao nhiêu người mẹ phải cho đi đứa con mình vất vả cưu mang suốt chín tháng mười ngày. Và những chuyện như thế tưởng chừng chỉ có trong những cuốn phim bộ dài tới mấy mươi tập, để khán giả trốn chạy thực tại được phút nào hay phút ấy, tránh né được càng nhiều càng tốt những cảnh đời nhiễu nhương giữa cuộc sống nghèo nàn, đầy áp bức, bất công; và để khi thấy nhân vật đau khổ, người xem bỗng dưng thấy mình dù sao cũng còn hạnh phúc.

Chuyện tôi vừa kể xảy ra ở Xứ Tuyết. Bạn hãy cùng tôi về đất nước có cái tên dài lê thê Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Hãy hình dung một người đàn bà lam lũ, nặng trĩu trên vai quang gánh kẽo kẹt những củ khoai củ sắn sần sượng. Và khệ nệ phía trước một cái bụng vun tròn của bào thai vừa bước vào tháng thứ tám. Trên con dốc mòn dẫn ra phố chợ, một khách hàng đón đầu chị bán khoai, hỏi han chiếu lệ về những củ khoai sùng trong cái thúng tuột cạp phải niềng thêm bằng những sợi dây lác chằng chịt. Người đàn bà mừng rỡ vì có người hỏi tới những củ khoai củ sắn ế ẩm. Nhưng chuyện bán buôn dừng lại ở đó, bởi người khách kia hỏi thẳng chị có muốn có một số tiền lớn không. Chị bán khoai ngỡ ngàng. Tiền thì ai không muốn. Gia tài nhà chị chưa bao giờ có được tới mười triệu đồng tiền nhà nước Việt Nam. Chị đặt quang gánh xuống, vừa thở hì hạch vừa nhìn người khách lạ mà không biết trả lời sao cho phải lẽ. Người khách ấy không vòng vo xa xôi. Người khách ấy nhìn đăm đăm vào mắt chị, rồi chỉ vào cái bụng căng tròn nếp áo của chị và bảo nếu chị chịu qua Trung Quốc để sinh con thì chị sẽ có tám mươi triệu nếu đứa bé là con gái, và từ bốn mươi đến năm mươi triệu nếu đứa bé là con trai.

Chị bán khoai có ba ngày để suy nghĩ. Suốt ba ngày ấy, con số 40 cùng con số 80 ám lấy chị. Hạn ba ngày chưa hết, chị đã xuống phố chợ, tìm người khách kia, cho chị ta câu trả lời.

Và khi thai kỳ qua đến tháng thứ chín, người đàn bà bán khoai ấy quyết định sang Tàu đẻ con.

Người ta đưa chị đến thị trấn ven biên, người dẫn đường đưa chị len lỏi những lối mòn hoang vu, qua những khoảng rừng thưa, băng qua nhiều con suối, đi thuyền, đi xe cả ngày trời. Và người ta giấu chị trong một căn nhà tối tăm ẩn khuất cuối con ngõ cụt. Người ta cho chị ăn uống đầy đủ nhưng không được phép ra ngoài. Chị bán khoai Việt Nam lưu lạc giữa một thôn xóm xa lạ trong nội địa nước láng giềng phương bắc.

Rồi cái ngày quan trọng đã tới. Những cơn đau rung cả giường chiếu. Những lời trấn an (hay la mắng) bằng ngôn ngữ xa lạ vây quanh chị. Thời gian ngừng trôi. Bọc nước ối vỡ. Đứa bé chào đời. Sản phụ người Việt Nam dẫu lả đi vì cơn đau bất tận cũng cố chống tay ngồi dậy để nhìn con mình, nhưng một người đàn ông đã nhanh nhẹn cuốn hài nhi vào mấy lớp khăn vải và bế vội ra ngoài. Sản phủ nghiêng đầu lắng nghe tiếng khóc trẻ sơ sinh xa dần rồi chìm vào tiếng xào xạc của cành lá rậm rạp cọ vào mái nhà. Sản phụ người Việt Nam xớn xác hỏi: Cháu là con trai hay con gái vậy? Những người Tàu chung quanh không trả lời. Có thể vì họ không hiểu tiếng Việt, cũng có thể họ không bận tâm trả lời. Một người đưa cho chị cọc tiền giấy. Sản phụ run rẩy mở mớ Nhân Dân Tệ ấy ra đếm. Sản phụ nhẩm tính. Sản phụ băn khoăn không biết con mình là trai hay gái, cho đến khi đếm xong cọc tiền và nhẩm tính trị giá tương đương qua tiền nhà nước Việt Cộng. Tám mươi triệu. Chị hiểu là chị vừa sinh con gái.

Và chị thầm hỏi không biết con gái có giống mình không.

Ngày hôm sau, người ta đốc chị khăn gói chuẩn bị lên đường. Chị lại đi xe cả ngày trời, lại đi thuyền, lại lội suối, lại băng rừng, lại len lỏi những lối mòn để về lại quê nhà.

Chuyến vượt biên mẹ đi cùng với con. Chuyến hồi hương mẹ chỉ có một mình.

Đường về, chị gặp người đồng cảnh ngộ. Cũng người Việt, cũng phụ nữ, cũng nghèo, cũng có thai, cũng đem con đi bán, nhưng người đồng cảnh ngộ ấy không may mắn như chị. Người ấy chỉ thu về được có bốn mươi triệu tiền nhà nước Việt Cộng.

Bạn thân mến. Tôi chỉ gặp người mẹ mười bảy tuổi một lần duy nhất khi cô ấy ký giấy cho đi đứa con mới sinh được một tuần. Tôi cũng chỉ thấy đứa bé ấy thấp thoáng qua khung kính khu trại trẻ sơ sinh lúc mẹ nó đút ngón tay vào miệng cho nó mút. Không bao giờ gặp lại họ nên tôi không có “cái kết bất ngờ” như các anh chị nhà báo Việt Cộng hay “giật tít”. Tôi cũng không biết đoạn kết liên quan đến những sản phụ Việt Nam sang Tàu bán con ra sao. Tôi chỉ biết thương những bé gái Việt (dưới một góc nhìn khác) sau khi bị bán sang Tàu, sẽ chỉ là những công cụ đáp ứng cho hậu quả của việc nhà nước cộng sản Tàu áp đặt chính sách mỗi nhà chỉ được phép có một con phối hợp với quan niệm cổ lỗ và phản khoa học rằng chỉ con trai mới có thể duy trì nòi giống; còn những bé trai Việt Nam lớn lên trong gia đình Tàu, nói tiếng Tàu, thấm nhuần thứ văn hóa của những kẻ tự nhận là mình trung tâm của thế giới, lớn lên đi lính Tàu và biết đâu trong một lần “dạy cho bọn Việt Nam một bài học”, nó gặp lại người đàn bà đem nó đi bán năm xưa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Em nhìn lên trăng qua khung cửa sổ. Đêm nay trăng đã tròn. Trăng chiếu vào nơi Bà Ngoại ngồi. Em thấy nhớ Bà Ngoại quá! Chú Cuội, Chị Hằng đi vắng rồi! Chỉ còn vầng trăng trải một màu thương nhớ. Bỗng em nghe tiếng Mẹ thì thầm. Em lắng nghe. Mẹ ở trong phòng. Mẹ đang nói chuyện điện thoại với Ba. Tiếng của Mẹ nghe khác lạ. “Có gì thì anh về nhé!”
Thiên đạp xe hết tốc lực, cái sức một thằng bé mười lăm tuổi đang nhổ giò phát lớn cộng với sự háo hức chờ mấy ngày qua, chẳng mấy chốc là đến nhà nội. Nhà nội Thiên ở quê, cách thị trấn chừng ba cây số, ngôi nhà nằm giữa một vườn cây xanh mát nào là mít, ổi, xoài, chanh, khế… ra khỏi vườn cây là đến rẫy mía phía sau nhà.
Ngày cuối tuần tôi theo đám trẻ đi rước đèn tháng Tám. Đàn em bé ca hát rộn ràng những bài hát Trung Thu của Sài Gòn ngày trước. Những cái đèn giấy đủ mọi hình dạng. Có thật nhiều đèn cá chép. Những con cá chép mập ú, tròn quay, có ngọn nến lung linh mờ ảo bên trong. Đám rước chỉ thiếu những chiếc đèn làm bằng giấy bóng kính trong suốt. Những chiếc đèn đủ sắc màu. Lũ trẻ một tay níu tay mẹ, tay bà, tay bố, tay anh, tay chị; một tay cầm khúc que ngắn với chiếc đèn treo ở đầu. Ríu rít theo chân nhau đi dọc theo đoạn đường ngắn ngủn bọc quanh ngôi chùa, dưới ánh đèn đường nhạt nhòa. Những chiếc đèn trung thu, bầy trẻ nhỏ, những câu hát quen, giọng trẻ thơ ê a đưa tôi về những ngày thơ ấu.
Trong một dịp cùng đi hướng dẫn thực tập Chánh Niệm (Mindfulness) cho một liên đoàn hướng đạo ở Quận Cam, tôi có tâm sự với anh bạn trẻ Bạch Xuân Phẻ rằng có lẽ một trong những nơi thanh thiếu niên cần thực tập chánh niệm nhất chính là Việt Nam. Ước gì những buổi hướng dẫn chánh niệm như thế này được tổ chức rộng rãi ở những đoàn thể của thanh thiếu niên Việt Nam trong nước. Ước muốn được thì làm cũng được. Trong một chuyến về Việt Nam năm 2018, tôi liên lạc trước với chị T., một người bạn thân lâu năm của gia đình. Chị T. là Giám Đốc Điều Hành của WWO Việt Nam, một tổ chức phi chính phủ Hoa Kỳ chuyên giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Chị là một người có đầu óc cởi mở, thích học hỏi cái mới. Dưới tay chị là một đội ngũ nhân viên trẻ, hàng ngày phải đối mặt với những hoàn cảnh đáng thương trong xã hội. Tôi nói với chị T. là muốn có một buổi hướng dẫn thực tập chánh niệm cho nhân viên WWO, vì điều này có thể đem lại lợi lộc cho các bạn trong môi trường làm việc mà tâm lý dễ bị
Một ngày nọ Chàng Lười Peter hay biết có một ngôi làng đang tổ chức hội chợ. Chàng ta biết chắc rằng nhiều dân quê sẽ tới đây để bán ngựa, bò và những gia súc khác và thế nào họ cũng có nhiều tiền. Mặc dù rất cần tiền nhưng chàng ta có thói xấu là không chịu làm việc để kiếm tiền. Chàng ta, đầu đội chiếc mũ đỏ ba cạnh, tìm cách mò đến ngôi làng.
Tiếng trống thì thùng vang khắp xóm chợ, xóm chùa, xóm đình… Âm thanh trống lân giục giã đầy hào hứng tỏa đến từng nhà, lọt vào lỗ nhĩ thằng Tí. Tiếng trống kích thích nó, làm cho nó và cơm thật lẹ, đoạn nó chan canh vào chén để húp cho xong, dường như nó nuốt chứ hổng có nhai. Cô Hai nhìn nó rồi đưa mắt cho chú Hai: - Thường ngày đâu có vậy, nó ăn nhơi nhơi cả buổi hổng hết chén cơm, vậy mà bữa nay nó ăn nhanh như lân ăn bắp cải.
Buổi sáng định mệnh đó, thầy giáo lớp 5 của Max, nhận được một cú điện thoại. Max còn nhớ khuôn mặt thầy tái đi sau cú điện thoại đó, Thầy bảo Max thu dọn cặp sách lên ngay văn phòng của trường. Max kinh ngạc nhưng vâng lời Thầy thu xếp ra về. Ở cửa văn phòng, Mẹ của Max đứng đó, khuôn mặt nhợt nhạt, thất thần còn hơn cả Thầy giáo. Cho đến tận bây giờ, mỗi khi có ai đó nói với Max "chúng tôi rất tiếc, ba của bạn đã qua đời", người đàn ông 30 tuổi đã buồn bã trả lời "Không, ông bị giết chết bởi không tặc."
Mọi người như muốn cướp thời gian để vui sống. Họ không chịu ngồi yên nhìn thời gian trôi nhanh vuột khỏi tầm tay. Las Vegas là nơi họ thích đến để “hành lạc” mỗi năm một lần, hay vài ba lần (Có thể họ còn đến những nơi khác để chen vào những kẽ hở của một năm cặm cụi làm việc). Thế nhưng đại dịch đã ngang nhiên xía vào cuộc sống của họ. Nay “xả cảng”, thì họ phải vội vàng “đến bù”.
Một con cú to lớn màu trắng, đột nhiên quay đầu nhìn Steven, đôi mắt nó tròn đen như hai hột nhãn, cứ như ai đó gắn vào cái mặt bẹt của nó, cái nhìn lạnh tanh mà xoáy vào lòng người ta. Steven nổi da gà, nỗi sợ bắt đầu len lỏi từng tế bào, luồng sóng lạnh lan tỏa từ thần kinh trung ương đi khắp thân. Steven thoáng nghĩ: ”Con cú nhồi bông không thể cử động được? mình đã nhìn nó bao nhiêu năm nay rồi cơ mà”.
Buổi chiều mưa rây rây. Thành phố lạ. Nhà hàng có cái tên quen. Chúng tôi vào, náo nức gọi món ăn. Sau gần một tuần lễ rong ruổi núi đá chênh vênh, với thác nước tung bọt trắng, với mặt hồ biếc xanh, với vô vàn những con dốc cheo leo, chúng tôi về thành phố. Cả tuần lễ ăn toàn đồ Tây, hôm nay ai cũng thèm món Á châu. Vừa ngồi vào ghế, âm thanh nhốn nháo đã kéo tôi ngước nhìn màn hình ti vi trước mặt. Khung cảnh quen thuộc từ ký ức nào đó bỗng dưng chói lòa. Lũ người chen chúc nhau bu quanh chiếc máy bay khổng lồ đang lăn bánh trên phi đạo. Mắt tôi dán lên màn hình. Ngực tôi thắt lại. Tôi không dám nhìn. Tôi nhắm mắt. Tôi cố không nghe. Nhưng hình ảnh và những âm thanh ấy vẫn còn. Thật rõ nét. Dù tôi chỉ tình cờ bắt gặp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.