Hôm nay,  

Hai Vì Sao Hội Tụ

19/04/202009:54:00(Xem: 4880)

 

Thành kính tưởng niệm nhà văn, nhà thơ Trần Nhất Hoan


C:\Users\VNPham\Desktop\TDH1 (1).jpeg

Trần Nhất Hoan trong youtube của Chi Chi


Như mọi buổi sáng, tôi vừa dùng điểm tâm vừa xem tin tức trên Internet. Sau đó, tôi vào Inbox để xem emails của bạn hữu. Khi thấy youtube tình khúc Hai Vì Sao Lạc – do ông Trần Nắng Phụng chuyển – cũng là lúc tôi chợt nhớ trái avocado để quên nơi bếp. Tôi “bấm” vào youtube rồi rời phòng computer, đi xuống lầu, với dụng ý khi tôi trở lên thì phần nhạc dạo đầu sẽ chấm dút.


Vừa bưng chén đựng trái avocado, tôi chợt nghe tiếng nhạc dập dìu một tình khúc xưa, rất quen – mà tôi từng đàn và hát trên đài phát thanh Nha Trang, tại sân khấu của các rạp xi-nê ở Nha Trang và những khi thơ thẩn nơi sân sau – vào thập niên 60. Tôi vội đi nhanh đến cầu thang để trở lên phòng computer. Bước chân của tôi vừa đến chân cầu thang thì tiếng hát bắt đầu:


Người về, một mùa Thu gió heo may.

Về đâu có nhớ chăng những vì sao long lanh

Đưa tiễn người một đêm không trăng

Nói sao nên lời, lòng buồn như chiều rơi… 


Âm hưởng thiết tha của dòng nhạc, lời ca ướt lệ cùng sự rung cảm dạc dào trong lòng như một mãnh lực vô hình đưa hồn tôi trở về khung trời cũ. Tôi cảm thấy nặng nơi lồng ngực rồi chân tôi cũng nặng, như không thể bước lên cầu thang! 


Đứng nơi chân cầu thang, nhìn ra khung cửa kính, tôi tưởng như có thể thấy được đứa bé gái – khoảng 14, 15 tuổi – đang thơ thẩn nơi sân sau, nhìn về phương xa như muốn tìm điều gì rất xa vời, rất thánh thiện đang phiêu bạc cuối trời!


Tôi nhớ rất rõ, thời điểm đó tôi chưa biết yêu là gì. Nhưng, mỗi khi thơ thẩn nơi sân sau hoặc âm thầm đi trên cát, dọc bờ biển, lòng tôi cứ bâng khuâng, ray rức về một hình bóng mà tôi thường tưởng tượng và ấp ủ. Trong khối óc còn non nớt, nhưng giàu tưởng tượng của tôi, chỉ có hai bóng hình tương phản nhau. Đó là thanh niên trong quân phục và thanh niên với cây đàn.


Thanh niên với cây đàn, tôi…không thể tìm được; vì các Bác, Chú, Anh trong ban ca nhạc Bình Minh đều gọi tôi là “con nhỏ”. Thanh niên đến nhà tôi vào cuối tuần để nghe ban Bình Minh tập dượt có hai “ông” sinh viên Y Khoa – sau chuyển sang Quân Y; còn các vị khác là dân sự và giáo sư trung học; không có vị nào là nhà binh chính gốc.


Một trong các vị giáo sư thường đến nhà thăm tôi vào mùa Hạ là thầy Trần Đình Hoàn. Thầy Hoàn dạy tại trường trung học Cường Để, Quy Nhơn. Mùa Hè thầy thường vào Nha Trang chấm thi.


Lần đầu tiên thầy Hoàn thấy tôi là lúc tôi cùng Xuân Diệu – con của giáo sư Lượng dạy Pháp văn tại trường Thống Nhất và trường Tương Lai, ngụ tại ngôi nhà lầu gần góc đường Nguyễn Huệ và Yersin, Nha Trang – đang ngồi trên cây trứng cá, hái trái, ăn. 


Sau đó, mỗi năm thầy Hoàn vào Nha Trang chấm thi, Xuân Diệu thường đưa thầy Hoàn đến nhà Ba Má tôi thăm tôi và nghe tôi đàn. Từ đó, tôi không hiểu tại sao mỗi khi tôi gặp thầy Hoàn tại nhà thầy cô Lượng thì cô Lượng lại cười, bảo:


-Hoàn! Gửi gạo vô Cô nuôi Thanh Điệp cho.


Tôi vẫn vô tư leo lên cây trứng cá, hái trái, ăn trong khi thầy Hoàn chỉ nhìn tôi, cười hoặc nói vài câu bâng quơ theo kiểu người lớn nói với trẻ em.


Dòng ý tưởng trong tôi vừa đến đây, tiếng hát trong youtube cũng vừa đến đoạn cuối:


“… Ɓước đi âm thầm lòng buồn như chiều rơi
Ɲghe chăng thu ơi để lá rơi chi hoài
Gợi lòng thương nhớ ai nhiều!”


Lên đến phòng computer tự dưng tôi hết muốn ăn. Ngồi vào bàn computer, nhìn ra cửa sổ, tôi tưởng như tôi có thể thấy lại tôi bên bờ biển xưa vào một chiều cuối tuần. Thầy Hoàn đi với một “ông” Hải Quân và chị Thúy Minh – thành viên trong ban ca nhạc Bình Minh. Thấy tôi, chị Thúy Minh gọi tôi đến. Tôi chào thầy Hoàn, và chị Thúy Minh. Lúc quay sang chào “ông” Hải Quân tôi mới thấy bảng tên Hồ Quang Minh. Thầy Hoàn giới thiệu “ông” Minh là bạn cùng lớp với thầy từ khi cả hai còn học tại trường Quốc Học. Ông Minh cũng nói tiếng Huế như Thầy Hoàn.


Sau lần gặp gỡ đó, thầy Hoàn, “ông” Minh và nhiều “ông” Hải Quân bạn của “ông” Minh, thường đến nhà tôi nghe tôi đàn vào những hôm ban Bình Minh không tập dượt. 


Một lần, bất ngờ nghe Minh nói tiếng Nam, tôi hỏi tại sao Minh đổi giọng nói? Minh chỉ cười, không đáp. Lúc gặp chị Thúy Minh trong trường Võ Tánh – chị học trước tôi vài lớp – tôi cho chị biết Minh không còn nói tiếng Huế nữa. Chị Thúy Minh cười ngất:


-Ui chao, “cái ông” Minh ni! Chắc ổng “mết” mi rồi!


-Chị nói gì em không hiểu?


-Anh Minh hỏi tau: Bác gái và bà Ngoại của mi là người Huế, chắc thích có rể người Huế? Tau đáp: Vì là người Huế cho nên bà Ngoại và Bác gái không muốn mi lấy người Huế. Anh Minh hỏi lý do? Tau đáp: Vì Ngoại và Bác gái ngại cảnh Mẹ chồng và mấy “ông chú mụ o” nhọn mồm!


Thời điểm này, trong khi Ba Má tôi bắt đầu nghiêm khắc đối với tôi – vì nhận ra tôi có vẻ đang “trổ mã” để trở thành thiếu nữ – thì tim tôi cũng vẫn chưa bị “lỗi nhịp” vì nhân vật nào cả. 


Một buổi chiều, từ bờ biển nhìn ra khơi, thấy chiến hạm mang số 327, tôi chợt nghĩ đến Minh; vì trước đó không lâu, Minh ghé nhà cho tôi biết Minh vừa tốt nghiệp khóa 8 sĩ quan Hải Quân và sẽ tòng sự trên Giang Pháo Hạm Long Đạo, HQ 327. 


Về đến nhà, tôi rất ngạc nhiên khi thấy Minh đang ngồi nơi phòng khách, dáng vẻ rất bồn chồn. Chỉ thăm hỏi được vài câu, Minh vội từ giã tôi để kịp chuyến xe lửa ra Quy Nhơn trình diện – Hải Quân đại úy Vũ Trọng Đệ – Ham Trưởng HQ 327.


Hôm sau tôi nhận được điện tín của Minh – do anh Quân Cảnh chuyển giùm – báo tin rằng Minh đang bị Quân Cảnh áp giải về Tổng Tam Mưu để ra Tòa Án quân sự về tội đào ngũ, bỏ tàu, đi từ giã “cô bạn”. Tôi khóc và tim tôi bị “lỗi nhịp”! 

Từ hôm đó, mỗi chiều tôi thường ra sân sau, nhìn về phương xa như chờ đợi, như mong ngóng bóng dáng một người; rồi, từ tâm thức thơ dại của tôi tiếng hát của bài Hai Vì Sao Lạc ngân lên âm thầm:


…Ɲgười về, đường đi kết gió trăng sao
Ɲgười đi có biết chăng tôi chiều naу bơ vơ
Ɲghe lá thu vàng rơi bâng khuâng… 


Không hiểu tại sao tôi lại thầm ví cuộc đời thầm lặng của tôi và cuộc đời trôi nổi của Minh như “hai vì sao lạc”! 


Sau khi trở thành vợ của Minh, tôi nhận ra – ngoài cá tính “ba gai”, không biết sợ ai – Minh lại là một người bạn tốt, rất xứng đáng để bạn hữu tin cậy. 


Chiều cuối tuần, Minh và tôi đi dạo biển, đẩy chiếc xe có con gái đầu lòng của chúng tôi nằm bên trong. Bất chợt chúng tôi thấy thầy Hoàn vừa bước vội về phía chúng tôi vừa gọi: “Minh! Minh!”


Minh mời thầy Hoàn vào quán uống nước, hàn huyên. Tính tôi ít nói, lại ngoại giao không khéo, cho nên chỉ chào thầy rồi ngồi im. Thầy Hoàn lấy từ cặp-táp tập truyện Nỗi Buồn Ngày Tháng Cũ – tác phẩm đầu tay của thầy, bút hiệu Trần Nhất Hoan – viết vội vài dòng rồi trao cho Minh. Minh đọc dòng chữ tác giả viết tặng rồi trao cuốn sách cho tôi. Tôi mở tập truyện và thấy thầy Hoàn viết: “Tặng Minh ‘sún’ và Thanh Điệp với những kỷ niệm ấu thơ còn đó”. Lật tiếp vài trang, đọc qua, bất ngờ tôi thấy câu: “…Thanh Điệp, con ông Ngữ ở Nha Trang. Điệp có nụ cười rất đầm và cái cằm chẻ đôi…” Ngữ là tên của Ba tôi. Lòng tôi chợt chùng thấp, không thể đọc tiếp! Vừa khi đó thầy Hoàn đứng lên, bắt tay từ giã Minh. Minh nói:


-“Cái thằng”! Mới gặp, chưa thăm hỏi được chi cả thì đòi đi; đi mô mà gấp rứa?


-Tau đi bắt…con giã tràng!


Minh và tôi tròn mắt nhìn nhau!

 

Năm 1968, Minh chỉ huy Giang Đoàn 30 Xung Phong, chịu trách nhiệm dài hạn vùng Bình Điền, Chợ Lớn. Trong lần về hậu cứ họp hành quân, Minh ghé nhà,  hỏi:


-Biết anh gặp lại ai không?


-Ai vậy?


-“Thầy” Hoàn “của cô” chứ ai!


Biết tính Minh hay đùa, tôi chỉ hỏi:


-Anh gặp thầy ở đâu?


-Ở Bình Điền. “Nó” đến với phái đoàn quay phim, dường như để quay phim tài liệu. 


-Ủa, thầy hết viết văn rồi hay sao mà làm phim?


-Anh không biết. “Nó” gửi lời thăm em.


Trong bữa cơm chiều, vừa bưng chén cơm, tự dưng Minh cười, hỏi:


-Em biết gì không?


Tôi nhìn Minh, lắc đầu. Minh tiếp:


-Hồi đó cô Lượng bảo “thằng” Hoàn gửi gạo vô cô nuôi Thanh Điệp cho mà “nó” gửi ít quá cho nên…


Minh chưa dứt câu tôi vội nghiêm nét mặt, cắt ngang:


-Ông không nên đùa với thầy Hoàn như vậy!


-Biết rồi, “cô nương”! Đùa với cô thôi chứ ai “cà chớn” đi đùa với “nó”. “Nó” là “thằng” bạn “nối khố” của “tui” mà.


Từ đó về sau Minh không nhắc đến thầy Hoàn và tôi cũng không được gặp lại hoặc nghe tin gì về thầy nữa.


Đầu thâp niên 80, đang nấu cơm chiều, nghe điện thoại reng, tôi nhờ Minh trả lời. Không biết ai ở đầu giây bên kia, tôi chỉ nghe giọng Minh rộn ràng vui rồi cứ “tau tau, mi mi” liên hồi. Minh là vậy. Khi nói chuyện với vợ con hoặc người Nam, Minh nói tiếng Nam; khi nói chuyện với người Huế, Minh nói tiếng Huế. Vì vậy, tôi đoán Minh đang nói chuyện với người bạn Huế nào đó vừa vượt biển đến Mã Lai. Một chốc sau, tôi nghe Minh hỏi:


-Mi muốn nói chuyện với bả không?


Tôi tròn mắt nhìn minh, hỏi nhỏ:


-Ai vậy?


Minh chỉ cười, trao điện thoại cho tôi. Sau khi nhận ra thầy Hoàn, tôi hỏi:


-Làm thế nào thầy biết được số điện thoại của tụi em?


-Hỏi mấy người Hải Quân thì ra chứ có chi mô.


Thầy cho biết thầy chỉ vượt biển một mình; vợ con kẹt lại. Thăm hỏi nhau được vài câu, thầy chợt hỏi:


-Bà còn đàn, còn viết không?


-Dạ, đàn thì em “dẹp” từ hồi còn ở Việt Nam lận!


-Tại răng rứa?


-Thầy hỏi “ông bạn của thầy”; đừng hỏi em.


-Còn viết thì răng?


-Dạ, cũng chưa biết. Khi nào ổng vui, ổng để yên cho em viết thì em viết; khi ổng “quạu”, ổng “cự” thì em “dẹp”. Còn thầy thì sao?


-Để lo bảo lãnh bả với mấy đứa nhỏ sang rồi tính.


Lâu lắm, tôi không nhớ là mấy năm, điện thoại reng. Tôi nhất ống nghe,  “Allo”. Không ai trả lời mà tôi chỉ nghe tiếng Piano thánh thót cùng tiếng hát nồng nàn trong tình khúc Longer của Dan Fogelberg. Trong khi tôi còn ngẩn ngơ, chưa biết ai nghịch một cách dễ thương đến như vậy thì dòng nhạc Việt vang lên rồi tiếng hát ngọt ngào diễn đạt được tất cả nỗi niềm của nhạc sĩ Ngọc Bích qua ca khúc Ngày Nào Một Giấc Mơ. Sau đó thầy Hoàn cho biết, sau khi gia đình đoàn tụ, đời sống bớt vất vả, thầy học Piano và Saxophone. Tôi mừng cho thầy và tủi thân tôi!


Bẳng đi một thời gian dài, thầy Hoàn điện thoại. Minh nói chuyện với thầy một chốc rồi trao điện thoại cho tôi. Sau vài câu thăm hỏi, thầy Hoàn đổi đề tài:


-Bà quen với Phụng Hồng khi mô?


-Ủa, tại sao thầy biết em quen với ông Phụng Hồng? Mà thầy biết Phụng Hồng là ai hay không?


-Chao! Cũng “dân’ Khải Định Quốc Học với nhau chứ chi mà không biết. Phụng Hồng sáng tác thơ tặng “cô bé tóc dài Thanh Điệp/ĐML”, đăng trên báo Ngày Nay mà không phải tặng cho bà thì tặng cho ai?


-Thảo nào ông Phụng Hồng bảo ổng biết thầy.


-Mần răng bà biết Phụng Hồng biết tôi?


-Dạ, thỉnh thoảng ông Phụng Hồng điện thoại thăm em; em hỏi ông ấy biết thầy hay không. Ông ấy đùa, bảo, Trần Nhất Hoan là Hoan Nhất Trần, “dân” Quốc Học ai mà không biết.


-Rứa bà với Phụng Hồng thường liên lạc với nhau bằng điện thoại à?


-Da, không. Ông Phụng Hồng xin số điện thoại của em từ báo Ngày Nay. Chưa bao giờ em gọi cho ông ấy cả.


-Rứa bà có biết “khi xưa” Phụng Hồng có bút hiệu khác hay không?


-Dạ, biết. Hoàng Việt Sơn, đúng không, thưa thầy? 


-Đúng. Rứa là bà quen Phụng Hồng lâu lắm rồi đó, hỉ?


-Dạ không! Ông Phụng Hồng chỉ thấy em hai lần. Lần đầu tiên, khi anh Nguyễn Bá Liên – về sau bị tử trận tại Ben Hét, được phong cố chuẩn tướng – mời ban ca nhac Bình Minh giúp vui, ủy lạo đơn vị Thủy Quân Lục Chiến tại Nha Trang, vào dịp Trung Thu. Sau đó, anh Nguyễn Bá Liên trao cho em bài thơ Tiếng Đàn Đêm Trung Thu, tác giả là Hoàng Việt Sơn, gửi tặng “cô bé tóc dài” Thanh Điệp. Lần thứ hai ông Phụng Hồng thấy em trong buổi hội ngộ Phượng Vỹ của trường Quốc Học Đồng Khánh khi em “bị” mời lên sân khấu. Sau đó, ông Phụng Hồng không những đăng thơ trên báo tặng em mà ông ấy còn xuất bản tập thơ Nửa Đời Thương Đau để tặng em. Chi tiết này em đã viết trong bài Tạ Lỗi với Người Thơ khi được tin ông Phụng Hồng qua đời. 

-Gan dữ rứa! Rứa mà “thằng” Minh để yên à?


-Thầy ơi! Ông Phụng Hồng chỉ sáng tác thơ tặng em chứ ông ấy đâu có làm gì tội lỗi và em cũng đâu có tình ý gì với ông Phụng Hồng. Cho đến khi chết, ông Phụng Hồng cũng vẫn chưa hề gặp em. Anh Minh biết rõ điều đó mà.


Sau cuộc điện đàm, Minh cho tôi hay rằng thầy Hoàn đã cho Minh biết vợ chồng thầy không còn chung sống với nhau nữa. 


Tôi không nhớ năm nào, thầy Hoàn lại điện thoại, nói chuyện với Minh rồi nói chuyện với tôi. Giọng thầy rất vui:


-Mới xong bài thơ tối hôm qua, hôm nay điện thoại “khoe” với bà đây.


-Em đọc truyện của thầy chứ chưa được đọc thơ của thầy.


-Chừ tôi tặng bà đây.


Thầy hắng giọng, tiếp:


-Tôi đọc, bà ghi, hỉ! (Thời điểm đó chưa có Internet).


-Dạ.


-Tựa của bài thơ là Mây Trắng, của Trần Nhất Hoan, tặng Thanh Điệp/Điệp Mỹ Linh.


Gót ngọc hồng phai dáng Hạ về.
Ngày rưng rưng nắng bóng pha lê.
Áo trời mây trắng vươn thương nhớ.
Ôm trọn hoa niên hẹn đợi chờ.


Đường kim mối chỉ đơn sơ quá!
Thơ dại nằm yên giữa đôi ta!...

Buổi xưa chia cách sao vội vã?
Theo gió chiều lên áo bay xa.


Sông nước ngày thơ mây trắng xóa.
Áo em cánh bướm tự phương nhà.
Xin cho nhắm mắt, hình dung lại
Một người áo trắng ở trong ta!

 

Trong khi tôi viết, Minh đứng cạnh, đọc từng chữ. Tôi vừa viết vừa…run tay vì xúc động! Sau cuộc điện đàm, Minh cười:

 

-“Cái thằng”! Mấy mươi năm rồi mà cũng vẫn còn trách “Thơ dại nằm yên giữa đôi ta”!

 

Tôi giả vờ không hiểu bài thơ:

 

-Thầy viết về cô áo trắng nào đó chứ đâu có tên “tui”.

 

-Đồng phục của nữ sinh Võ Tánh không phải áo trắng là gì?

 

Iim lặng! Minh tiếp:

 

-“Nó” tu tại gia, ăn chay trường được vài năm rồi.

 

-Ủa, sao thầy không nói gì với em về việc đó?

 

Im lặng. Một chốc sau, Minh bảo:

 

-“Cái thằng”! Đã tu, ăn chay trường mà còn “Xin cho nhắm mắt, hình dung lại,
Một người áo trắng ở trong ta”!

 

Vài tuần sau, chúng tôi nhận được tập thơ Tràng Phang Tiếp Dẫn và truyện dài Vùng Trời Quê Hương do Trần Nhất Hoan sáng tác, gửi “Tặng Minh ‘sún’ và con gái cụ Ngữ”. Tôi đọc và nhận ra tâm hồn của thầy Hoàn đã hoàn toàn xa lìa tục lụy.

 

Sau đó rất lâu, giữa Minh và tôi có quá nhiều bất đồng. Minh dời đến sống với vợ chồng con gái của chúng tôi. 

 

Vào ngày Mother’s Day, thầy Hoàn điện thoại. Sau khi chúc tôi ngày Mother’s Day, thầy khuyên tôi nên cho Minh trở về. Tôi ngạc nhiên:

 

-Làm thế nào thầy biết được chuyện giữa ông Minh và em?

 

-“Hắn” điện thoại cho tôi, kể lể mọi điều rồi nhờ tôi nói với bà cho hắn về.

 

-Là bạn thân của ông Minh, thầy còn lạ gì tính của ổng.

 

-Biết rồi! Nhưng tôi khuyên bà, thôi, bà đã chịu đựng được “hắn” mấy mươi năm rồi; chừ có tuổi cả rồi, tha thứ cho nhau mà sống, chấp nê chi nữa?

 

-Thưa thầy, càng già em càng nghiệm được rằng: Mọi điều xảy ra trên vũ trụ này đều khởi từ Nhân, Duyên và Nghiệp.

 

-Ui chao! Tu khi mô mà nói nghe như ni cô thuyết giảng rứa, Trời!

 

-Ông Minh và em vẫn là bạn, không thù hận gì cả; gặp nhau vẫn chào hỏi. Đôi khi – nếu biết được em sẽ tham dự bữa tiệc nào đó – ông Minh đứng nơi cửa để đón em, đưa em vào bàn rồi mua nước uống cho em. Thầy hỏi bạn ông Minh ở đây xem có đúng không.

 

-Chừ hắn chỉ muốn trở về với bà thôi. Hắn nói hắn rất ân hận vì đã đẩy bà đến cuối đường.

 

-Thôi, thầy ơi! Đừng nói chuyện “cái ông ba gai” đó nữa. Thầy đàn và hát cho em nghe đi, thầy.

 

-Bà hứa cho hắn trở về thì bà muốn tôi đàn, hát cả trăm bài tôi cũng đàn, hát cho bà nghe.

 

-Nếu em không hứa thì sao, thưa thầy?

 

-Nếu bà không cho hắn trở về thì “nhiệm vụ” hắn giao cho tôi kể như…tiêu! Rứa thì tôi còn lòng dạ mô mà đàn, hát cho bà nghe?

 

-Em sorry, thưa thầy!

 

Khi Minh đột ngột qua đời – năm 2014 – tôi emailed và điện thoại thông báo cho bạn hữu của Minh. Lúc bấm số điện thoại của thầy Hoàn, nghe máy trả lời, tôi để lại lời nhắn:

 

-Thưa thầy, ông bạn của thầy “đi” rồi!

 

Sau đó thầy Hoàn gọi lại, an ủi tôi rồi hỏi:

 

-Bạn bè của hắn có đứa mô đến viếng hắn chưa? Tiếc là tôi có việc phải đi xa.

 

-Dạ, ngoài gia đình Hải Quân, bạn của ổng đến đông lắm.

 

-Hắn rất tốt với bạn cho nên ai cũng thương quý hắn.

 

-Dạ, hôm được tin ông Minh qua đời, anh Trần Đoàn trên DC cũng emailed cho em một câu tương tự như câu thầy vừa nói. Trong email hồi đáp cho anh Đoàn, em đùa: “Ông Minh tốt với cả triệu người; còn Thanh Điệp là người thứ một triệu lẽ một… Đành chịu!”

 

-Bậy! “Thằng” Minh “hắn” thương bà lắm đó! Nhưng vì tính hắn “ba gai”, không biết sợ, không tự chế và không do lường được hậu quả mà ra “cớ sự”.

 

-Thôi, thầy ơi! Có lẽ ông Minh và em Duyên Nợ không còn!

 

-Thôi nha, để tôi vào niệm cho “thằng” Minh một hồi kinh.

 

Đó là lần sau cùng thầy Hoàn liên lạc với tôi.

 

Từ ngày có lệnh “không rời nhà” vì sự lan tràn của Covid-19, tôi bị tù quẩn trong nhà. Tôi tức giận vì Trung cộng lừa gạc thế giới từ khi dịch Coronavirus vừa bộc phát, rồi cố che giấu số nạn nhân tử vong. Tôi cũng thất vọng về sự “ngây thơ” của Hoa Kỳ và Âu châu trước mưu đồ quỹ quyệt của Trung cộng trong vấn nạn Covid-19. Tôi rất lo âu cho con cháu, bạn hữu của tôi. Tất cả những điều đó đều ngoài tầm tay của tôi cho nên tinh thần của tôi bị căn thẳng một cách đáng ngại. Tôi bị mất ngủ liên tục rồi cổ và vai của tôi đau thắt.

 

Một buổi trưa, đang ngủ chập chờn, tôi chợt choàng tĩnh vì cơn mộng dữ! Tôi sợ hãi, vội điện thoại, emailed hỏi thăm tình trạng của các con, cháu, bà con, bạn hữu, v.v... 

 

Khi điện thoại sang thầy Hoàn, tôi bàng hoàng khi người trả lời điện thoại – Chi Chi, con gái của thầy Hoàn –  cho tôi hay là thầy… không còn nữa! Tôi khóc nhiều, cũng như tôi đã khóc vùi khi con tôi báo tin Minh “ra đi”! Chi Chi hỏi:

 

-Thưa, cô là bạn hay là học trò của Ba con?

 

-Tôi không là gì của thầy Hoàn cả.

 

-Vậy thì tại sao cô gọi Ba con bằng thầy?

 

-Tôi gọi thầy Hoàn bằng thầy từ lần đầu tiên tôi gặp thầy tại nhà thầy cô Lượng; vì thầy Hoàn là giáo sư, tôi là học trò – dù thầy không dạy tôi ngày nào cả. 

 

-Dạ, vậy có phải cô là … người tình của Ba con hay không?

 

-Càng không phải nữa.

 

-Thế thì sao cô khóc? Cô có vẻ bị xúc động nhiều.

 

-Vâng. Tôi xúc động rất nhiều. Nhưng, sự xúc động trong tôi xuất phát từ mối tình cảm tinh khiết, thánh thiện chứ không phải từ tình cảm đời thường giữa nam và nữ.

 

Rồi tôi kể lại cho Chi Chi nghe câu chuyện giữa thầy Hoàn, Minh và tôi. Chi Chi bảo:

 

-Thưa cô, con nhớ câu “Thanh Điệp, con ông Ngữ ở Nha Trang. Điệp có nụ cười rất đầm và cái cằm chẻ đôi…” trong cuốn Nỗi Buồn Ngày Tháng Cũ của Ba con mà con không biết Thanh Điệp là ai; không ngờ bây giờ con được tiếp chuyện với cô Thanh Điệp.

 

-Chi Chi còn cuốn Nỗi Buồn Ngày Tháng Cũ hay không? Nếu có thể, Chi Chi copy trang có câu thầy Hoàn viết về cô, gửi sang cho cô, được không, Chi Chi?

 

-Dạ, bây giờ họ “cấm đường” và con cũng rất bận tại bệnh viện; vì nạn nhân Covid-19 nhiều quá! Hôm nào số bệnh nhân giảm, có thì giờ, con sẽ gửi cuốn Nỗi Buồn Ngày Thàng Cũ biếu cô.

 

-Cảm ơn Chi Chi nhiều.

 

-Bây giờ con chuyển sang cô youtube Ba con đàn và hát để cô thấy Ba con rất yêu đời.


Sau khi mở youtube, thấy ông cụ tóc bạc, chân mày cũng trắng, đang đàn, tôi mỉm cười. Chỉ một thoáng sau, nhận ra thầy đang đàn tình khúc Mùa Thu Chết của Phạm Duy, tôi tự hỏi tại sao thầy thường chọn những tình khúc lãng mạn, buồn thảm và đầy trách hờn? Và, tôi cũng không hiểu tại sao và bắt đầu từ lúc nào thầy Hoàn gọi tôi bằng “bà”! Lúc tiếng hát của thầy đến đoạn cuối, tôi thở dài, lòng xót xa vô vàn!


…Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo.
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em.
Vẫn chờ em, vẫn chờ em…
Vẫn chờ, vẫn chờ... đợi em!


Trong khi giọng của thầy Hoàn vút cao hẳn một bát trình – octave – ở hai tiếng “đợi em” và tiếng vỗ tay của bạn hữu vang lên thì tôi chấp hai tay, cúi đầu, khép mắt, thầm khấn: “Cuối cùng rồi thầy và ông Minh – hai người bạn tốt – cũng gặp lại nhau như Hai Vì Sao Hội Tụ.”


ĐIỆP MỸ LINH



www.diepmylinh.com


 

 

Ý kiến bạn đọc
23/04/202022:08:49
Khách
Sao toi co cam tuong thay Hoan tham yeu co Thanh Diep.
19/04/202022:21:06
Khách
Cái bài thơ Mây Trắng đọc lời nghe như là 1 bản nhạc viết nhịp 4/4
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.