Hôm nay,  

Thủ Mơn Condi Rice

09/04/200400:00:00(Xem: 5291)
Truyền thông Mỹ theo dõi vụ điều trần của Condoleezza Rice ngày hơm qua để xem Condi Rice và Dick Clarke, ai thắng ai bại. Sự thật cĩ khi lại phức tạp và nghiêm trọng hơn vậy.
Ngay giữa chiến tranh và trong mùa tranh cử, Hoa Kỳ lại mở cuộc điều tra về nguyên do và hồn cảnh dẫn đến vụ khủng bố 9-11 để từ đĩ tìm phương thức đối phĩ. Cuộc điều tra lại bị ơ nhiễm vì mục tiêu chính trị bầu cử với cuốn sách và chiến dịch tố giác chính quyền Bush do Richard Clarke tiến hành, với sự tường thuật quá chu đáo và ồn ào của truyền thơng. Kết cuộc thì vì nhu cầu tìm hiểu đúng sai, thượng cấp cũ của ơng Clarke là Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Bush là Condoleezza Rice phải ra điều trần, hữu thệ và cơng khai, trước ủy ban điều tra, gọi tắt là “Ủy ban 9-11”.
Với thĩi quen cố hữu, truyền thơng Mỹ coi đây là màn song đấu gián tiếp giữa Rice và Clarke, pha thư hùng phụ trội và miễn phí bên lề cuộc tranh cử. Nhưng, những điều mà vị cố vấn thân tín của ơng Bush trình bày trong gần ba tiếng điều trần hơm qua Thứ Năm phải làm ta nhìn xa hơn vậy, vào cuộc chiến chống khủng bố mà Mỹ đang tiến hành. Nếu cĩ cần một kết luận thì Hoa Kỳ khơng được chuẩn bị để đối phĩ với vụ khủng bố 9-11 và ngày nay cũng vẫn chưa được chuẩn bị để chiến thắng trong cuộc chiến chống khủng bố.
Trước hết, qua lời Condi Rice, từ cả chục năm trước vụ 9-11, Mỹ đã cĩ nhiều tín hiệu về mục đích của al-Qaeda và trùm khủng bố Osama bin Laden, mục đích đĩ là gây chiến và gieo tai họa ngay trong lãnh thổ Mỹ. Nhưng, những tín hiệu này khơng đủ chính xác để Mỹ ngăn ngừa vụ 9-11, và tâm lý ứng chiến cũng khơng cĩ, trước sau chỉ là những nỗ lực phịng thủ thụ động, hợp pháp. Cụ thể là tìm cách bắt giữ bin Laden để xin dẫn độ về Mỹ để bị truy tố trước tịa án. Đĩ là đặc tính của đối sách thời Bill Clinton. Khủng bố đã khai chiến với Hoa Kỳ, nhưng Hoa Kỳ lại khơng khai chiến với khủng bố. Chúng ta thiếu tâm lý chiến tranh.
Khi George W. Bush nhậm chức, ơng cĩ một khảo hướng khác, cĩ tính chất chủ động hơn vì coi đây là một cuộc chiến sinh tử. Nhưng, chính quyền ơng gặp khá nhiều trở ngại và chậm trễ để trù hoạch ra một đối sách quyết liệt hơn. Những trở ngại đĩ là thiếu phương tiện nhân sự, là cách xử lý đầy tính chất thư lại trong bộ máy an ninh và tình báo, là thủ tục chính trị của đảng Dân chủ đối lập để phê chuẩn các quyết định bổ nhiệm của Hành pháp mới. Quan trọng nhất trong những trở ngại này là một loại vấn đề thuộc về cơ cấu, sự cạnh tranh và thiếu hợp tác giữa hai bộ phận then chốt là tình báo CIA và an ninh FBI. Nĩi cách khác Hoa Kỳ khơng cĩ tai mắt đủ tinh vi để đối phĩ với lọai đe dọa mới.
Theo lời Condi Rice, những trở ngại này giờ đây vẫn chưa hết và điều đĩ cĩ thể bị đối phương khai thác để cơng kích khả năng của một Cố vấn An ninh, là người cĩ nhiệm vụ phối hợp hoạt động của các bộ phận về an ninh và tình báo.
Một cách gián tiếp, Condi Rice cũng cho biết là trong suốt giai đoạn “tiền 9-11”, chính quyền Bush vẫn phải lưu dung thành phần nhân sự cao cấp do chính quyền Clinton để lại. Điều đĩ cĩ thể giải thích vì sao việc trù hoạch chính sách thường bị tiết lộ, thậm chí phá hoại, vì mục tiêu chính trị nội bộ. Sự kiện này cĩ thể sẽ được cánh hữu hay các xu hướng thân Bush khai thác để cơng kích phe Dân chủ và hĩa giải địn phá hoại của Dick Clarke.
Nhưng, bao trùm lên những tranh chấp nhất thời về lẽ đúng sai hay thắng bại giữa hai đảng và hai người, dư luận cịn thấy cái lẽ thắng bại của Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống khủng bố.
Sau khi bị tấn cơng nặng nề, Hoa Kỳ đã thành cơng trong việc phịng thủ là bảo vệ an ninh lãnh thổ, nhưng chưa thành cơng trong việc diệt trừ khủng bố cho tuyệt căn. Những nguyên nhân khiến Mỹ thất bại trong việc ngăn ngừa vụ 9-11 cĩ thể cũng và vẫn là những nguyên nhân khiến Mỹ sẽ khơng thành cơng trong trận chiến diệt khủng bố.
Một thí dụ cụ thể được Cố vấn Rice nêu ra là đối sách của Mỹ với al-Qaeda đã khơng cĩ kết quả vì đối sách của Mỹ với A Phú Hãn khơng thành cơng, mà đối sách với A Phú Hãn khơng thành cơng cũng vì chánh sách của Mỹ với Pakistan khơng thành cơng. Chúng ta cứ đi theo xốy chơn ốc đĩ vào những hành lang bí hiểm của tiến trình quyết định để thấy ra là nước Mỹ rất trọng nguyên tắc dân chủ và chế độ pháp trị, nhưng vì vậy mất nhiều thời giờ cơng sức đối phĩ với nhau thay vì với quân khủng bố.

Một thí dụ khác cũng cần được nhắc lại ở đây là nguyên tắc “tiên hạ thủ”, tấn cơng trước để diệt hậu họa. Sau vụ 9-11, người Mỹ cĩ thể đồng ý với nguyên tắc này, và cịn cĩ vẻ ân hận là khơng nghĩ ra từ trước, nếu khơng, cĩ khi đã khỏi bị tổn thất 9-11. Nhưng, ngay sau đĩ, dư luận lại mất sự thống nhất ý chí, khi nhiều người đả kích đạo luật Ái quốc (Patriot Act) nhằm tăng cường kiểm sốt để trị an là đạo luật vi phạm quyền tự do của cơng dân. Như đứa trẻ bước vào hàng quà, cái gì cũng muốn cĩ, người Mỹ muốn nhiều thứ một lúc và các chính khách lại khéo khai thác tâm lý đĩ để tìm thành quả nhất thời trong khi quay lưng lại cuộc chiến. Và khi gặp khĩ khăn trở ngại thì xoay ra đổ lỗi cho nhau.
Kết luận chung của người quan sát tồn bộ vụ điều trần và đọc lại tồn bộ bản văn của cuộc điều trần là Ủy ban 9-11 sẽ cĩ trách nhiệm rất nặng để xác định lại ưu tiên xử lý của mọi thành phần hữu trách, từ chính quyền, các bộ phận về an ninh, tình báo, quân sự hay tư pháp, cho đến giới dân cử. Người viết khơng tin rằng Ủy ban này sẽ hồn thành được trách nhiệm, căn cứ trên việc họ đã khơng tránh nổi làn giĩ hơi hám của chính trị gây nhiễu xạ và che mờ khả năng ứng phĩ của quốc gia. Đây là một kết luận khá bi quan.
Ngồi nội dung sâu xa của cuộc điều trần, hãy nĩi về hình thức.
Condi Rice là người lịch sự nhưng quyết liệt và lạnh lùng phản bác từng địn tấn cơng của các ủy viên nêu câu hỏi với dụng ý hay ác ý. Sơi nổi nhất là khi (cựu) Nghị sĩ Bob Kerrey dồn dập tra hỏi và phải lãnh những câu trả lời mạch lạc mà dồn dập khơng kém, khiến ơng mất bình tĩnh. Là người dày dặn kinh nghiệm tranh luận nghị trường, ơng gặp một cao thủ già địn và coi như bị thất thế.
Một điều nữa ở bên lề sẽ làm truyền thơng Mỹ tìm ra đồ chơi mới là Tờ trình Tổng thống về An ninh Tình báo ngày 6 tháng Tám năm 2001 (một tháng trước vụ 9-11). Báo chí sẽ địi giải mật tài liệu này sau khi nội dung bị chính các Ủy viên đọc ra. Tiêu đề của tài liệu là “Osama bin Laden nhất định tấn cơng vào trong nước Mỹ”, nhưng lại khơng đủ chính xác để cĩ thể kết luận là bin Laden cĩ kế hoạch tấn cơng nước Mỹ. Sự khác biệt tưởng như lý thuyết này thực ra là vấn đề lớn. Chủ nghĩa cộng sản cũng từng địi chơn sống chủ nghĩa tư bản, nhưng quyết tâm đĩ chưa đủ chính xác bằng một loại thơng tin khác: “một nước cộng sản sẽ tấn cơng, bằng cách gì, ở đâu, vào lúc nào.” Condi Rice cho biết là nội dung đĩ dựa vào những phân tách đã cũ và khơng đề ra được giải pháp đối phĩ thích đáng.
Cũng liên hệ đến vấn đề trên là câu hỏi về các giải pháp đối phĩ do Richard Clarke đề nghị. Theo lời bà, những giải pháp đĩ khơng hữu hiệu và cịn khiến nước Mỹ đi lệch huớng (wrong direction). Khơng thể nào cĩ lời phản bác rõ ràng hơn về khả năng chuyên mơn của ơng Clarke, và chi tiết đĩ cĩ thể giải thích vì sao ơng ta đảo ngược lập trường xoay ra tấn cơng chính quyền đã lưu dụng ơng sau tám năm phục vụ chính quyền Clinton trong bộ phận chống khủng bố, mà chống khơng xong.
Dick Clarke cĩ nhắc đến một tài liệu báo động đệ trình Condi Rice bảy ngày trước vụ 9-11 mà khơng được cứu xét. Được Ủy viên Roemer hỏi về tài liệu này, Condi cho biết đĩ khơng là một tài liệu cảnh báo về nguy cơ khủng bố mà chỉ là những than phiền đầy xúc động (emotional) về trở ngại hành chánh và thư lại của bộ Quốc phịng hay CIA để thượng cấp Condi Rice tự chuẩn bị khi tham dự buổi họp với các giới chức cao cấp về an ninh. Vả lại, trước đĩ, chính Dick Clarke cũng cơng nhận với Ủy ban 9-11 là nếu chính quyền Bush cĩ thi hành tất cả những biện pháp phịng ngự do ơng đề nghị thì Hoa Kỳ cũng khơng tránh khỏi một vụ 9-11! Thế mà cũng vẫn phân trần cãi cọ!
Lời cuối ở đây là truyền thơng Mỹ chờ đợi tài bắt banh của thủ mơn Condi Rice nhưng ít ai ngờ là nhân vật này chẳng những bắt dính mà cịn đá lại cho rách lưới những ai quan tâm đến chính trị hơn là an ninh. Bậc nữ lưu này quả là đáng sợ cho những ai khơng thích chính quyền Bush. Theo dõi cuộc giao đấu giữa Condi với các Ủy viên Ben-Venister hay Kerrey là điều lý thú, nếu như al-Qaeda và khủng bố khơng cịn đĩ...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.