Hôm nay,  

Giới trẻ Việt Nam và di sản Cộng hòa

20/11/202522:16:00(Xem: 478)

Luat Khoa
Bìa của ấn bản “70 năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung và Di Sản”, trái. Phải, trang Mục Lục, với các bài đầy ắp tài liệu dưới hai chủ đề Chân Dung và Di Sàn. Xem số đặc biệt tại đây. Đăng ký tài trợ tại đây để đọc các bài vở khác và tải ấn bản đặc biệt và các số báo khác tại đây.


“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56
 
Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại.
Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.

Từ nhiều năm nay tôi theo dõi việc làm của nhóm bạn trẻ này, khá ấn tượng về tính chuyên nghiệp báo chí của các anh chị em mà phần lớn nếu không là sinh ra thì cũng lớn lên trong lòng chế độ Cộng sản, với một số cộng tác viên hiện còn ở trong nước và đã hẳn phải hoạt động trong những điều kiện khó khăn, nếu không là nguy hiểm. Một thành viên của ban chủ trương là ký giả Phạm Đoan Trang đã bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt và hiện đang còn thụ án tù vì tội “tuyên truyền chống nhà nước.”

Một trong những điều gây ấn tượng nơi tôi còn là chủ trương minh bạch của nhóm Luật Khoa. Mặc dù tòa soạn đặt tại Đài Bắc, Luật Khoa thuộc một tổ chức vô vị lợi có đăng ký chính thức ở tiểu bang California, minh bạch về tài chính và các tiết lộ công khai vốn là điều kiện của một tổ chức phi lợi nhuận. Tuy nhiên có một lần Luật Khoa minh bạch một cách khá độc đáo, đó là lần ban chủ trương phạt một phóng viên về tội đạo văn, chẳng những giáng chức người phóng viên mà còn phạt tổng biên tập Trịnh Hữu Long bằng việc cúp một tháng lương của anh ta nữa.

Trở lại ấn bản đặc biệt của tạp chí Luật Khoa có tựa đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa,” cái tựa đề đã khiến tôi chợt khựng lại. Từ hồi nào tới giờ tôi, và có lẽ nhiều người cùng lứa, vẫn đinh ninh là VNCH chỉ tồn tại có 20 năm, chứ sao lại 70 là làm sao? Phải đọc tới bài thứ 11, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở” (trang 56), tôi mới hiểu ra.

Trước khi đi vào chi tiết bài trên, cũng là trọng tâm của bài viết này, xin nói qua về nhóm Luật Khoa, kế đó là tổng quát về nội dung ấn bản “70 năm.”
Ra đời cuối năm 2014, do các bạn trẻ gồm có Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long, Trần Quỳnh Vi và Trương Tự Minh thành lập, Luật Khoa là một tạp chí độc lập chỉ hiện hữu trên mạng. Mục đích, theo nhóm chủ trương, là “để lấp vào khoảng trống của nền báo chí tiếng Việt trong nước vốn thiếu vắng một nền báo chí độc lập, với chủ trương thoát ly những định kiến lịch sử, hệ thống kiểm duyệt và khuôn mòn của ý thức hệ.”

“Với tâm niệm: báo chí độc lập là thành trì của tự do ngôn luận, là nền tảng của dân chủ và pháp quyền, Luật Khoa tạp chí từ những ngày đầu hoạt động cho đến nay vẫn kiên trì với một chủ trương xuyên suốt: nỗ lực đưa tin một cách trung thực, công bằng thông qua nội dung và tác phong làm báo chuẩn mực, trách nhiệm, với nguồn động lực từ tinh thần cầu thị và lý tưởng khai phóng,” theo một thư gửi bạn đọc gần đây nhân kỷ niệm sinh nhật 11 năm tuổi của tạp chí. [Xem thêm về sự hình thành của tạp chí điện tử này tại đây]

Tính tới nay nhóm đã phát hành hàng ngàn bài viết, cả Việt lẫn Anh ngữ; hàng trăm phim tài liệu ngắn đăng tải trên băng tầng YouTube; và, cùng với cơ quan mẹ là Sáng kiến Luật pháp cho Việt Nam (Legal Inititative for Viet Nam, LIV), đã thực hiện một số báo cáo về thực trạng thực thi nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng tại Việt Nam. Bên cạnh đó, khởi từ hơn năm qua, là kế hoạch khai triển Dự án 1975 nhằm lưu trữ các tư liệu lịch sử, báo chí và lời kể của các nhân chứng về biến cố năm 1975.
 
Tuyển tập “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa” là kết quả của “nhiều tháng suy tư và làm việc,” theo lời tòa soạn, “như một cách chúng tôi tri ân độc giả – những người đã cùng chia sẻ niềm tin rằng, chỉ khi lịch sử được kể lại một cách đa chiều và nhân bản, chúng ta – và cả những thế hệ tiếp theo – mới có thể bình tâm đối thoại và cùng nhau bước tiếp.”

Đây không phải là lần đầu Luật Khoa đề cập tới Việt Nam Cộng Hòa, một đề tại được coi là cấm kỵ trong nước, song đã trở thành một thao thức đối với những người trẻ lớn lên có suy tư trong lòng một chế độ độc đảng độc tài. Rải rác qua các số báo, Luật Khoa đã có nhiều bài về nền dân chủ duy nhất mà Việt Nam có được dù chỉ tồn tại có 20 năm, từ 1955 tới 1975. Niềm thao thức trên đã khiến một tác giả trong nhóm từng thốt lên qua tựa một bài viết, là “Việt Nam Cộng Hòa chỉ tồn tại 20 năm – Vì sao tôi vẫn tiếp tục viết về nó?” Và gọi đó như “một nỗi niềm thương nhớ ngược (‘reverse nostalgia’) – một nỗi niềm thương nhớ cho một tương lai không bao giờ có thể thành hình, một tương lai bị đánh mất – và từ đó ám ảnh người sống về sự ‘không tồn tại’ của nó.”

Bài viết “Việt Nam Cộng Hòa chỉ tồn tại 20 năm – Vì sao tôi vẫn tiếp tục viết về nó?” được chuyển sang dạng phim, tại https://youtu.be/5v2FWUIAHIU

 
Lớn lên trong lòng chế độ Cộng sản, những người trẻ này đã nghe nói về một thời Cộng hòa vốn có một sự tự do dù tương đối nhưng đã để lại một di sản cụ thể qua sách báo băng nhạc được lén lút truyền tay nhau khiến họ không khỏi “tò mò sâu sắc về một trong những đề tài bị chính quyền che giấu và kiểm duyệt nặng nề nhất,” ban biên tập tâm sự. “Tò mò nhưng cũng nghe được tiếng lòng rung động của những người ở cả hai phía, chúng tôi tự gán cho mình cái sứ mệnh ghi chép lại không chỉ là dữ liệu lịch sử mà cả những tiếng lòng đó.”

Trong thư tòa soạn cho ấn bản đặc biệt “70 năm Việt Nam Cộng hòa,” Luật Khoa tâm sự: “Ngày nay, chúng ta có thể nói chuyện một cách lắng đọng và bình tâm về những xung đột long trời lở đất trong quá khứ như Nguyễn Phước Ánh – Nguyễn Huệ, Đàng Trong – Đàng Ngoài, Vua Lê – Chúa Trịnh. Lắng đọng và bình tâm như thể chúng ta là khách vãng lai ghé thăm một mốc lịch sử và nhìn những cảnh binh đao khói lửa đó bằng con mắt tò mò nhưng không phán xét. Chúng ta lật hết góc nọ tới góc kia mà không sợ báng bổ hay xúc phạm ai, không sợ chạm đến lòng tự ái của ai, và không sợ đụng đến lợi ích của ai.”
Thế nhưng, “[C]huyện lại hoàn toàn khác khi chúng ta nói về Việt Nam Cộng hòa, vốn là một quá khứ không xa và vẫn còn là vết thương rỉ máu của dân tộc.
“Sự ra đời của Việt Nam Cộng hòa vào ngày 26/10/1955, nhìn từ con mắt của bất kỳ phía nào, đều là một trong những biến cố chính trị quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại. Nó định hình số phận của dân tộc và vẫn còn ám ảnh dân tộc chúng ta cho tới ngày nay.

“Bảy mươi năm với lịch sử không phải là một quãng thời gian dài. Xung quanh chúng ta vẫn còn rất nhiều người sinh trước Việt Nam Cộng hòa cả chục năm, hai chục năm,” ban biên tập số đặc biệt “70 năm” viết trong Lời Tòa soạn. “Và cuộc chiến Nam – Bắc cũng mới chỉ chấm dứt được năm chục năm. Chừng đó thời gian là chưa đủ để một cộng đồng lắng đọng và bình tâm mà nhìn nhận lịch sử bằng con mắt tò mò nhưng không phán xét. … Trong số báo này, bạn đọc sẽ cùng chúng tôi lần lại lịch sử của Việt Nam Cộng hòa từ khi chính thể này còn phôi thai trong trứng nước của Quốc gia Việt Nam cho tới những giây phút cuối cùng khi Dương Văn Minh đọc giấy khai tử vào trưa ngày 30/4/1975.

“Nhưng lịch sử của Việt Nam Cộng hòa không phải chỉ là lịch sử vật chất, với đất đai, nhà xưởng và tòa thị chính. Nó còn là lịch sử phi vật chất với những giá trị tinh thần về giáo dục, nghệ thuật, chính trị, pháp quyền – những giá trị vượt lên trên giới hạn về thời gian lẫn không gian. Đó cũng là lý do mà giờ đây, 50 năm sau ngày Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, chúng tôi vẫn tìm về, không phải để ngưỡng mộ, không phải để oán thù, càng không phải để ngắm nghía cho vui, mà là để hiểu và học, một cách lắng đọng và bình tâm.”

Qua hơn 80 trang báo, dưới hai tiểu đề “Chân dung” (chín bài) và “Di sản” (bốn bài), độc giả có dịp viếng lại lịch sử từ những ngày đầu tiên lấy lại nền độc lập sau một thế kỷ thuộc Pháp; việc thành lập Quốc gia Việt Nam vào năm 1945 với lá cờ vàng ba sọc đỏ; việc QGVN trở thành Việt Nam Cộng Hòa; 20 năm kiến quốc trong xáo trộn chính trị và khói lửa chiến tranh bên cạnh những thành tựu văn hóa, giáo dục, văn học nghệ thuật. Những thành tựu trở thành phần di sản mà người Việt miền Nam mang theo trên đường di tản phân tán ra mọi ngả trên thế giới sau 1975. Và hiện đang được một nhóm giáo sư đại học gốc Việt nghiên cứu và lưu trữ qua cơ quan Nghiên cứu Việt Mỹ, trụ sở đặt tại Oregon University.

Dù vậy, cái di sản Việt Nam Cộng hòa ấy đã trở thành điều cấm kỵ suốt 50 năm qua trong chế độ độc đảng độc tài, và đã trở thành mối trăn trở đối với nhiều người trẻ sinh ra và lớn lên sau 1975 trong một đất nước tuy thanh bình nhưng không có nhân quyền, đầy rẫy áp bức ngăn cấm, sẵn sàng bỏ tù những ai dám nghĩ bên ngoài các khuôn khổ chế độ đã đặt để ra.

Dien Bien

“70 Năm Việt Nam Công Hòa – Chân dung & Di sản,” trang 3-4.

 
Mở đầu phần chủ đề Di sản là bài viết thoạt tưởng khô khan nhưng lại chan chứa khát vọng, tình tự của những người trẻ trưởng thành sau 1975, tựa là “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56. Bài viết đã khiến tôi suy nghĩ và hiểu tại sao đối với nhóm Luật Khoa, VNCH không chỉ tồn tại có 20 năm mà thực ra giờ đã 70 tuổi, và có lẽ còn tiếp tục hiện hữu ngày nào họ còn nuôi khát vọng về một Việt Nam tươi sáng xứng đáng để sánh vai với thế giới của một nhân loại văn minh khai phóng, đặt nhân quyền làm đối tượng phục vụ, không phải đảng phái hay chế độ như trong một chế độ độc tài.

Luat Khoa 2
Ảnh minh họa, Thiên Tân/Luật Khoa
Bài viết mở đầu bằng việc VNCH ban hành bản Hiến pháp 1967, chấm dứt bốn năm xáo trộn chính trị kể từ sau khi chế độ Ngô Đình Diệm kết thúc và mở đầu cho nền đệ nhị Cộng hòa.
 
Trong diễn văn nhậm chức, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khẳng định: “Hiến pháp mà chúng ta ban hành hôm nay là một bước đầu tiên cần thiết cho Quốc gia để xây dựng một nền dân chủ. Và như tôi thường trình bày với đồng bào, chỉ có dân chủ mới có tạo dựng được đoàn kết quốc gia thực sự, có dân chủ mới đòi hỏi được sự tham gia tích cực của mọi tầng lớp nhân dân để mở đường cho sự phát triển toàn diện của dân tộc, có dân chủ mới tập trung được mọi sinh lực quốc gia để có đủ sức mạnh sớm chiến thắng xâm lăng, thực hiện được mọi chương trình phục hưng xứ sở và cải tiến xã hội.”
 
Tiếc thay, nền dân chủ thành lập tự năm 1955 và được tái khẳng định trong khói lửa chiến tranh ấy chỉ tồn tại vỏn vẹn thêm có tám năm thì bị khai tử với cuộc tấn công tàn bạo cuối cùng của Cộng sản, tiếp theo là việc áp đặt chế độ độc tài trên toàn quốc.
 
Ong Thieu
Ông Nguyễn Văn Thiệu tuyên thệ nhậm chức tổng thống Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa. Phía sau ông là Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên. Ảnh: U.S. Information Agency 67-0480.
  
“Ta chưa có cơ hội được chứng kiến, rằng nếu đi đến cùng,” tác giả Hải Sa tự hỏi, “bản hiến pháp này sẽ đem lại thành quả gì trên chặng đường dân chủ hóa.
 
“Một nhà nước dân chủ, trước và trên hết, phải là nhà nước tôn trọng nhân quyền. Không ngẫu nhiên khi bản hiến pháp kinh điển của Hoa Kỳ đã mở đầu bằng những tuyên ngôn bất hủ về quyền con người.”
 
Từ đó, tác giả phân tích và đánh giá những điều khoản về quyền con người đã được thừa nhận và hiến định trong hai bản Hiến pháp 1956 và 1967, nhưng chưa kịp áp dụng đặng hoàn thành sứ mệnh.
 
“Những ước mơ và những lời hứa về dân chủ hay nhân quyền chưa được thực hiện đầy đủ theo lời hiệu triệu mà Nguyễn Văn Thiệu gửi đi, cũng như theo những gì bản Hiến pháp 1967 đã quy định, có thể xem là những đề án còn dang dở mà hậu thế phải tiếp quản, dù có muốn hay không,” Hải Sa tiếp. “Nhìn nhận cả những món nợ của ông cha với hậu nhân, âu có lẽ, cũng là một cách để người nay nghiêm túc đón nhận một di sản.”
 
Di sản đó gồm những gì? Sau khi liệt kê những văn hóa phẩm mà người Việt tị nạn đã mang theo, lưu giữ và khai triển trên bước đường lưu vong, điều tác giả Hải Sa kể thêm khiến tôi cảm động vì đó là những gì mình vẫn sống, vẫn đầm mình trong đó nhưng không mấy khi để ý bởi nó đã trở thành một phần bản chất của mình.
 
“Nhìn từ góc độ di sản, những gì một thời Việt Nam Cộng hòa để lại mà ta thấy được … không chỉ là số lượng những sách, báo, văn nghệ phẩm đã phát hành và được lưu giữ,” tác giả Hải Sa viết. “Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.”
 
Nhận định trên làm tôi nhớ đến một bài viết, “Từng có một nơi hoàn cảnh không thể làm hỏng con người” của nhà phê bình Vương Trí Nhàn ở Hà Nội, khi suy ngẫm về sự tha hóa của con người trong xã hội Cộng sản và trường hợp của một nhà thơ Miền Nam, Tô Thùy Yên, qua bài thơ “Ta về” ông viết sau khi đi tù về.
 
Bị đầy đọa hàng chục năm trong các trại tù lao động khổ sai của Cộng sản nhưng không vì thế mà nhà thơ mất đi tính nhân bản và nhất là hồn thơ.
 
Trong bài thơ “Ta về” có bốn câu mà lần đầu nghe được tôi đã ứa nước mắt. Đó là trong một chuyến đi thăm mộ thuyền nhân trên một hòn đảo hẻo lánh ở Nam Dương khi anh trưởng đoàn rưới nước thay rượu lên đôi ba “ngôi mộ” vô danh chỉ vỏn vẹn có mấy hòn đá do dân địa phương, sau khi vớt xác các thuyền nhân trôi giạt lên chôn cất, đặt để dánh dấu phòng hờ có người thân trong tương lai đi tìm xác họ. Ta về như lá rơi về cội / Bếp lửa nhân quần ấm tối nay / Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống / Giải oan cho cuộc biển dâu này …
 
“Đọc bài thơ của Tô Thùy Yên tôi nhớ lại nhiều cuộc gặp gỡ tiếp xúc với con người ở miền nam sau ngày 30/4/1975,” Vương Trí Nhàn viết, “tôi nhớ lại những trang văn bài thơ mà tôi đã đọc, những công trình nghiên cứu khoa học xã hội được làm trước 1975 và tôi nhận ra rằng cũng trong sự bao vây của chiến tranh, nhưng con người nơi đó không bị hoàn cảnh làm cho tê cứng về mặt tâm hồn, liều lĩnh về cách sống, bất cẩn về mọi hậu quả gây ra cho mọi người. Tôi hiểu rằng ở xã hội đó, văn hóa vẫn còn, vẫn chi phối người ta trong mọi mặt đời sống. Cái sức mạnh tinh thần của Tô Thùy Yên hôm nay cũng như của bao nhiêu người khác là kết quả của một nền giáo dục nhân bản và giữ vững chuẩn mực. Người ta không những biết sống để thích nghi với hoàn cảnh mà còn biết giữ được cả những gì tốt đẹp nhất được bồi đắp từ nhiều thế hệ và chuẩn bị cho người ta ra tiếp xúc với thế giới.”
 
Cái di sản “mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định” mà người Việt hải ngoại đã mang theo trên bước đường lưu vong và thể hiện qua trong đời sống các cộng đồng ở rải rác khắp nơi trên thế giới.
 
“Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp,” theo tác giả Hải Sa. Và anh gọi đó là những phiên bản “hiến pháp bất thành văn.”
 
Và kết luận: “Những tạo vật mà người xưa để lại, cố nhiên là di sản trao truyền cho người nay. Và di sản, không chỉ là của để dành, còn là nợ phải trả. Phần của, gồm những gì tinh túy có thể góp nhặt, mang vẹn nguyên giá trị vận dụng để hậu thế kế thừa và tiếp bước. Phần nợ, là những bản đề án dang dở, hay những gì người xưa còn thiếu sót, và người nay phải góp sức bổ khuyết, hoàn thành.”
 
[TD2025/11] 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.
Trong hơn bảy mươi năm qua, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Iran đã trải qua nhiều bước ngoặt – từ một liên minh chiến lược thời Chiến tranh Lạnh, đến một trong những nước đối đầu gay gắt và kéo dài nhất của thời đại hậu thuộc địa. Bản tóm lược dưới đây ghi lại những cột mốc chính từ năm 1953 đến 2025, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về diễn biến phức tạp của quan hệ Hoa Kỳ–Iran trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.