Hôm nay,  

Sau lằn vạch trắng -- Phần II

29/04/202217:57:00(Xem: 3031)

Hồi ức Tháng Tư Đen

chi-hoa

PHẦN II: TÙ CHÍ HÒA

 

Về nhà, tôi mới biết trong thời gian tôi đi tù, có người quen xưa là “dì” Bích Hà, con gái đầu của “bác” Đặng Thái Mai, đồng thời là người vợ sau của ông Võ Nguyên Giáp, đến tận nhà thăm Măng tôi hai lần, do hỏi thăm địa chỉ từ ngoài trường Đồng Khánh. Ba tôi và ông Đặng Thái Mai từng là bạn học với nhau ở Hà Nội trong thập niên 20. Có thể nhờ hai cuộc viếng thăm đặc biệt này, cộng thêm với người chồng mới cưới của một trong hai chị sinh đôi của tôi còn lại tại Việt Nam – anh ta là một cán bộ giảng dạy tại trường Mỹ Thuật Gia Định – các anh công an khu vực có phần nương tay với ngôi nhà của Măng tôi trong cư xá Bắc Hải; đến khi đi tù về, tôi cũng không bị làm khó dễ, nhất là Măng tôi rất biết điều, thường xuyên biếu 5, 10 đồng khi các anh ghé thăm.

 

Tôi muốn tạo cơ hội đến gần để tìm hiểu người anh rể mới nên tôi đề nghị anh dạy tiếng Nga cho tôi, vì (theo lời kể) anh từng được gởi qua Liên Xô học mỹ thuật trong 3 năm. Sau nhiều lần từ chối không được, cuối cùng anh thành thật cho biết tất cả sinh viên Miền Bắc du học Nga bắt buộc phải học qua người thông dịch – có nghĩa là chính các sinh viên không có đủ trình độ ngoại ngữ tiếng Nga để nghe, hiểu và học trực tiếp từ thầy dạy người Nga. Cái may mắn của sinh viên là có người thông dịch giỏi, có lương tâm, hiện diện thường trực tại các giảng đường, nhưng chuyện này rất ít xẩy ra. Tôi quá ngạc nhiên, cho anh biết tất cả các du học sinh của Miền Nam, tự túc hay được học bổng, hay từ gốc quân đội, đều phải hiểu và nói trôi chảy lưu loát sinh ngữ của nước mình sẽ du học. Anh ta còn cho tôi biết thêm một ví dụ chính xác về du học. Như sau: nước Tiệp Khắc muốn tặng cho Miền Bắc một nhà máy có 200 người làm việc, từ kỹ sư đến chuyên viên, nhân công. Miền Bắc tuyển chọn đúng 200 người theo đúng vị trí phân phối như vậy và ráp vào làm việc bên cạnh các đồng nghiệp người Tiệp, không cần phải biết nói, tiếng Tiệp Khắc. Sau khi nhà máy được xây dựng xong tại Miền Bắc, 200 người trở về nước và cứ thế “copycat” làm việc theo đúng cách thức từng nhìn thấy trước đây tại Tiệp Khắc. Nghe xong, tôi xin chào thua!!!

 

Vụ hỏi thăm sức khỏe thằng Phước “rắn” tưởng xong rồi, không ngờ trại cải tạo gởi hai anh quản giáo xuống tận nhà tìm tôi, muốn biết câu chuyện thực hư ra sao. May nhờ hôm ấy tôi không có nhà, lại có anh công an khu vực thêm lời che chở này nọ, nên họ đi về, không làm khó dễ. Về nhà nghe Măng tôi kể lại, tôi cũng hết hồn. May mà chưa thượng cẳng tay hạ cẳng chân với nó!! Vào lại tù như chơi!!

 

Trong những ngày đầu tiên, tuần đầu tiên về lại nhà, ngoài hâm nóng tình yêu vợ chồng, chúng tôi đèo nhau trên xe đạp rong chơi khắp Sài Gòn, nhìn thế thái dân tình, những nhóm người rách rưới lang thang vô định hay túm chùm tại các góc đường, cảnh xuống cấp của các khu phố, khu thương mãi, đâu đâu cũng tràn ngập những biểu ngữ sắt máu… Sài Gòn nay mất hẳn sự sầm uất, thịnh vượng và hoa lệ. Chúng tôi không quên rủ nhau lai rai đi ăn vặt, ngồi xe đò lên Thủ Đức thăm đại gia đình bên ngoại của vợ, hay đến tìm gặp các bạn tôi của một thời từng vừa học vừa chơi vừa phá khi còn sinh viên hay khi tại ngũ, là Hoàng Ngọc Vinh (Thiết Giáp), Bùi Cao Đẳng (Nhảy Dù), Lê Quang Tiến (Nhảy Dù), cùng nhau nối lại tình thân. Mới biết trong các bạn, tôi là người được thả về sau cùng. Tôi cũng không quên nhờ em vợ giao 2 lá thư mang về từ trại tù cho gia đình anh Ba Trí và anh kia.

 

Các bạn cùng tổ với tôi trong trại tù cũng lần lượt được thả ra. Tôi gặp lại anh chị Trác, và Lộc. Qua chuyện trò, tôi được cho biết khi nhóm tù đầu tiên được cho về, bị “dụ” phải bỏ thư ra, anh Ba Trí điếng cả người vì trong thư nhờ tôi đưa tay, anh bàn chuyện với vợ về chuyến vượt biên đang chờ anh về ráp vào là đi ngay. Anh đã không hết lời cảm phục tính khí khái của tôi giữ lời giúp anh đến cùng. Trong khi đó, sau khi nghe qua câu chuyện, dù tán đồng với quyết định của tôi, nàng vẫn phán một câu xanh dờn “Anh coi bạn trọng hơn gia đình. Nếu chúng bắt được cái thư thì anh còn ngồi tù mục xương.” Xin bạn đọc cho lời bàn nhé.

 

Sau đó, Lộc cho biết gia đình anh Ba Trí đã ra đi. Từ đó tôi chưa bao giờ nhận được tin tức của anh và cả của Hà Tô. Cầu mong cho gia đình hai anh Ba Trí và Hà Tô đến nơi bình an. Năm 1978, người nhà của Lộc, là bạn tù thân nhất của tôi trong tổ 5 người, báo tin Lộc bị chết đuối khi công tác với Đoàn Thanh Niên Xung Phong tại Miền Tây. Thật đau đớn và xót xa! Chúng tôi có ghé thăm gia đình cha mẹ Lộc nhiều lần. Về sau khi ở Mỹ, thỉnh thoảng chúng tôi có gởi chút quà đến cha mẹ Lộc, cho đến khi ông bà qua đời trong gần cuối thập niên 80.

 

Một ngày đang chở vợ bằng xe đạp về thăm nhà ở đường Cao Thắng, tôi gặp người bạn đồng khóa tại Y khoa Huế. Dương Đình Công và tôi khá là thân; chúng tôi từng học chung với nhau, phụ nhau chụp slices trong bộ Atlas of Anatomy mượn từ thư viện Y khoa Sài Gòn trong thời gian chúng tôi dời vào học tại đây sau Mậu Thân, để làm tài liệu giảng dạy sau này cho trường Y khoa Huế. Ngoài ra, chúng tôi cùng sinh hoạt chung trong nhóm Thanh Niên Thiện Chí tại Huế. Chẳng bao giờ thắc mắc anh không vào trưng tập dù anh là con đầu của một gia đình nhiều em trai. Tôi không ngờ sau 1975, anh làm việc trong Sở Y Tế Sài Gòn. Sau khi hai đứa vui vẻ mi tau chào hỏi nhau, và khi biết tôi chưa có việc làm, anh dặn tôi ngày mai ghé đến tìm anh ở Sở Y Tế. Ngày hôm sau tại phòng làm việc, anh thân ái đưa tôi giấy giới thiệu đến làm việc tại Bệnh viện Trưng Vương. Sự giúp đỡ vô vụ lợi và đúng lúc của anh khiến tôi cảm thấy cái gì cũng có nguyên nhân, cái gì cũng có bàn tay của Chúa an bài.

 

Sáu tháng làm việc ở bệnh viện Trưng Vương, tôi được chỉ định làm việc trong một phòng Nội Thương có khoảng 30 giường bệnh, người trưởng khoa là một bác sĩ tốt nghiệp Hà Nội, lùn tủn mà lại răng hô, nói lí nhí trong miệng có lẽ do thiếu tự tin. Phòng Nội Thương thứ hai có trưởng phòng là một nữ bác sĩ, nghe đâu tu nghiệp từ Tiệp Khắc, và bác sĩ Lê Vân Cương, tốt nghiệp trước tôi vài năm từ Y khoa Sài Gòn. Anh Cương là một con người rất dễ mến, lưu loát và rất giỏi về chuyên môn, chiếm lấy sự kính phục của đồng nghiệp và bệnh nhân. Bấy giờ tôi mới biết thế nào là giao ban, thế nào là hội chẩn – mà đa số được xem như một hình thức bán cái, phủi trách nhiệm cá nhân dựa trên ý kiến của tập thể. Theo lệnh, tôi chuyển hộ khẩu của mình từ nhà vào bệnh viện, nên mới hiểu thêm chế độ tiêu chuẩn, như 12 kí gạo và thỉnh thoảng được chia thêm  các thứ lặt vặt khác như đường, thịt, cá, đồ tươi, bột ngọt, rau xanh… do các cô y tá  lấy giùm, tôi khỏi sắp hàng chầu chực. Trong cùng thời gian, vợ tôi đang mang thai, và chúng tôi đang bàn tính vượt biên, nên tôi rất tránh né va chạm, ngay cả khi nhìn cách ông bác sĩ trưởng phòng loay hoay chữa bệnh và lúng túng trong sử dụng thuốc mới vì các dữ liệu kèm theo toàn viết bằng tiếng ngoại quốc, do cơ quan y tế quốc tế viện trợ; tôi chỉ chú trọng làm tốt, làm đúng khả năng chuyên môn của mình đối với bệnh nhân.

 

Khi nhạc gia của tôi được thả về từ trại tù ngoài Bắc vì sức khỏe quá yếu với nhiều chứng bệnh, tôi đưa ông cụ vào nằm trong bệnh viện Trưng Vương gần hai tuần, vừa khám tổng quát để chữa trị, vừa bồi dưỡng sức khỏe vừa tìm cho ông cụ một chứng bệnh kinh niên khả dĩ giúp ông cụ tránh bị bắt đi kinh tế mới. Thấy các cô y tá ào ào “tấn công”, nói chuyện vui vẻ với tôi, ông cụ ái ngại cho con gái. Vui thật! Khi xuất viện tôi ký cho ông cụ một giấy chứng nhận bị bệnh lao phổi với những căn dặn: tiếp tục uống thuốc, tái khám hàng tháng, cấm lao động nặng, bồi dưỡng…

 

Trong một lần từ Đà Nẵng vào Sài Gòn thăm, anh đầu Vĩnh Toàn gặp tôi, rủ và chở tôi đến nhà người bạn của anh. Đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau, kể từ tháng 10 năm 1974. Trong suốt thời gian thằng tôi đi tù, anh không hề liên lạc. Có lẽ sự khác biệt chính kiến kèm theo án tù cải tạo đã tách rời con đường chúng tôi đi và làm tẻ lạnh tình máu mủ. Tôi không ngờ người anh đến thăm là linh mục Phan Khắc Từ. Tại đó tôi cũng gặp luôn cả linh mục Nguyễn Ngọc Lan và một người đàn bà được giới thiệu là vợ của cha Từ, vốn là một bà sơ trước đây. Họ ăn nói cười giỡn lung tung, tôi ngồi im lặng, trong lòng chán chường. Tôi vẫn tự hỏi: anh tôi muốn gì khi đem tôi đến gặp các ông cha đó, vì với tôi, không những họ có tội với Miền Nam khi họ núp bóng dưới áo dòng tu để xách động quần chúng chống chính quyền và làm lợi cho CS, mà họ còn làm cho giáo hội Công Giáo Việt Nam bị tai tiếng. Câu trả lời duy nhất có thể thỏa mãn tôi là anh tránh né hay nghĩ không cần phải có một lời giải thích riêng cho tôi về những việc anh từng làm trong bóng tối để giúp MTGPMN, dù sau 1975 cái MTGPMN đã bị xóa sổ!?? Anh em chúng tôi không hề đề cập về chính trị vì biết nói ra chỉ làm thương tổn nhau thêm. 

 

Măng tôi có một người chị kế đi tập kết 1954, nay từ Hà Nội quay về sinh sống tại Sài Gòn với người con trai, vốn từng được nuôi dưỡng chung với anh em chúng tôi dưới một mái nhà. Sau khi học hết lớp Đệ Tứ, với tính tình ngang bướng, anh bỏ học, tự động tình nguyện gia nhập Không Quân VNCH, phiêu bạt giang hồ với cuộc sống biệt lập từ đó. Hai mẹ con đến nhà Măng tôi mấy lần, không phải để nối lại tình chị em mấy chục năm xa cách, mà để bắt lỗi Măng tôi, vì sao sáu đứa con Măng tôi được nuôi ăn học đàng hoàng trong khi đó con trai bà ở trong cùng nhà lại không được học đến nơi đến chốn mà phải đi lính. Có lẽ họ nghĩ Măng tôi có tiền của, như bao nhiêu gia đình Miền Nam khác, nên muốn kiếm chuyện gây khó dễ, mà chẳng hề biết Măng tôi từng mắc nợ cả mấy trăm ngàn đồng mới nuôi nổi các anh chị lớn trong nhà đi học xa. Nếu người anh họ tôi chăm chỉ đeo đuổi việc học, Măng tôi cũng lo cho anh đến nơi đến chốn như lo cho các con mình. Thôi thì cũng đến lúc tình chị em đành phải chấm dứt!

 

Mấy ngày trước khi vượt biên trong tháng 7, 1978, tôi bị sốt cao, có triệu chứng của sốt xuất huyết với những chấm đỏ xuất huyết dưới da và ói mửa. Đang nằm chữa trị tại bệnh viện Trưng Vương, tôi xin xuất viện sớm, tiếp tục tỉnh dưỡng tại nhà. Chẳng qua là ngày vượt biên đang kề cận. Cùng ra đi với tôi, có vợ tôi đang mang thai hơn tám tháng và cô em gái. Nhạc gia tôi muốn khuyên can vì không những lo ngại con gái bào thai quá lớn có thể nguy hiểm trên biển, mà cũng vì thấy tôi đang còn đau ốm mặt mày xám xịt, là điềm không tốt. Nhưng tôi cứng đầu vẫn quyết chí ra đi.

 

Khi nhìn chiếc thuyền, nhỏ như loại thuyền tôi từng thấy trên sông Hương của Huế dạo nào, nằm chờ gần cầu Chữ Y với cả 20 người, tôi thật sự bối rối và hoảng sợ. Nhưng anh tổ chức, là bà con của một bạn quen thân của tôi, vẫn thuyết phục được tôi bằng cách cho tôi thấy nhiều thân nhân của anh đang ở trên thuyền, kể cả ngay cả sau khi chú tài công không nổ máy tàu được. Thế lại phải kêu thợ đến sửa bloc máy. Theo lời kêu gọi, tôi còn cởi cái nhẫn cưới (điều làm Nàng cảm thấy phi lý và bất bình) trả cho thợ vì không ai trên chuyến đi chịu đóng góp, ngay cả anh tổ chức và chú tài công. Khi thuyền ra đến gần Cần Giờ, bỗng có 3, 4 chiếc thuyền nhỏ cặp sát thuyền chúng tôi, đổ thêm cả mấy chục người nữa. Anh tổ chức cũng chưng hửng, chỉ biết người tài công muốn kiếm thêm tiền. Mạn thuyền lặc lè sát mặt nước, thuyền chạy chậm thấy rõ. Ra đến biển khoảng chừng hai ba cây số, hai chiếc thuyền công an rượt theo, bắn chỉ thiên, rồi bắn mấy quả M79, nổ cách thuyền khoảng 30 thước. Thấy quá nguy hiểm và khó chạy thoát, thuyền đành ngừng và bị kéo vào bờ. Mọi người đều bị lục soát, rồi đưa về trại giam Cần Giờ.

 

Hai ngày sau, vợ tôi được thả cho về cùng với cô em gái, sau khi nàng giả lên cơn đau chuyển dạ. Một tuần sau đến phiên tôi cùng nhóm vượt biên bị giải lên nhốt vào khám Chí Hòa. Trước đây, tôi từng leo lên nóc nhà mình ở EE 10 trong cư xá Bắc Hải vài lần, nhìn thấy khám Chí Hòa đồ sộ màu vàng, có tám góc với tám khu nhà. Tôi thầm tự hỏi có khi nào mình vào trong đó!? Vậy mà nay tôi ở đây, trong một phòng giam vuông vức, khoảng 10 mét ngang x 10 mét dọc, với chừng trên 40 tù nhân, hình sự lẫn chính trị. Mấy ngày đầu tiên, toán tù mới chúng tôi được anh tù trưởng phòng chỉ định chia nhau nằm ở cuối góc phòng, gần hố xí, dần dần được nhích xa hố xí khi có tù mới nhập vào phòng. Có những ngày số tù trong phòng lên đến bảy tám chục người, không khí nóng và ngột ngạt, hầu như không có đủ chỗ để đứng, ngồi, nằm và thở. Ban đêm, chúng tôi không những phải xen kẽ nằm ngược chiều nhau, mà còn phải cùng xoay người nằm ép nghiêng qua một phía khi anh tù trưởng phòng vỗ tay hai cái, rồi hai giờ sau lại cùng xoay nghiêng qua ngã bên kia. Y như hình ảnh những con cá mòi trong hộp Sumaco!

 

Mỗi sáng và mỗi chiều, anh công an trưởng phòng mở cửa, bước vào điểm danh, đứng trước lằn vạch sơn màu trắng ở nền xi măng, rộng chừng bàn tay, dọc theo chiều ngang của phòng. Lũ tù được lệnh sắp hàng đứng sau lằn ranh đó, rồi đếm số. Mỗi lần như thế, tôi cúi nhìn màu trắng, nao nao nghiệm màu trắng như dấu hiệu của yếu đuối và đầu hàng, đồng thời tôi cũng cảm nhận màu trắng ấy cũng là màu tinh khiết của tình yêu vợ chồng chúng tôi hiện đang bị cách ngăn bởi nghịch cảnh.

 

Được vài ngày, anh tù trưởng phòng và nhóm anh chị thân cận của anh biết tôi vốn là một bác sĩ Nhảy Dù nên họ đặc biệt đối xử tử tế, cách riêng với tôi. Chỗ ngủ của tôi được dời ngay dưới cửa sổ, thoáng mát hơn nhiều. Họ còn “biệt phái” một bạn tù trẻ lo tẩm quất cho tôi. Tôi giữ ý tránh tẩm quất nhiều, một phần vì không muốn mình bị xem cùng phe với nhóm anh chị trong phòng, mặt khác vì anh bạn trẻ đấm bóp có nhiều ghẻ lở trên thân thể, tay chân và cả mặt. Tôi may mắn không bị lây bệnh truyền nhiễm ngoài da này, dù chỉ được cho tắm và giặt áo quần một lần một tuần.

 

Nằm, ngồi suốt ngày trong một phòng đóng kín, đầy chật người, không được cho ra ngoài lao động hóng ánh sáng mặt trời, chỉ nhìn được một khoảng trời qua cái cửa sổ nhỏ chút có lưới chắn, đau đớn, dằn vặt, không biết chuyện thai nghén vợ ra sao? Nàng sinh chưa? Tốt đẹp? Trai hay gái? Khi nào mình được trả tự do lần này? Trong phòng lại không có người gốc quân đội hay có trình độ cho tôi tìm đến nói chuyện, ngược lại đa số là dân anh chị giang hồ với đủ thứ tội hình sự, nên tôi co lại, trở nên chán nản, trầm cảm. Trong một thoáng nhớ tôi từng đọc kinh khi tù cải tạo, nên tôi lại cầu nguyện. Tôi thầm cảm tạ Chúa cho gia đình tôi tránh được nguy hiểm vì bị bắt giữ trước khi con thuyền mong manh vượt xa ra ngoài khơi, cho dù, để bù lại, tôi phải trả giá bằng ở tù. Ngoài ra, tôi chịu khó đi lui đi tới cả trăm lần mỗi ngày, vừa đi vừa thầm đọc kinh trong miệng. Nhờ vậy mà tôi lấy lại phần nào bình an cho mình và tinh thần dần dần trở nên vững mạnh lại.

 

Để tránh khỏi suy nghĩ vẩn vơ, để giết thì giờ và đồng thời giải khuây cho mình và cho các bạn tù, tôi kể các chuyện Tàu, những đoạn hay trong bộ Nhạc Phi, Thủy Hử, Đông Châu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí… chuyện đường rừng, chuyện ma, truyện kiếm hiệp Kim Dung, chuyện trong Tự Lực Văn Đoàn, những chuyện nhẹ nhàng của các tác giả ngoại quốc… Nhờ đó, tôi gây được một bầu không khí lành mạnh, sống động và thiện cảm cho cả phòng. Thường vào khoảng 9 giờ sáng, và 3 giờ chiều, các bạn tù bắt đầu ngồi tụ tập gần tôi, yêu cầu tôi kể chuyện. Vui với nhau, cười nhỏ với nhau nhưng ai cũng biết không dám vỗ tay vì sợ công an phòng vào truy hỏi.

 

Chế độ ăn uống trong nhà tù Chí Hòa nói chung thua kém một vài phần so với trại tù cải tạo. Ít rau trái tươi, ít chất xanh hơn vì không có chuyện lao động bên ngoài trồng trọt để cải thiện thêm. Đến giờ ăn trưa hay chiều, có mấy tội phạm gánh thùng cơm, thùng canh và thau cá để ngay trước của phòng, anh công an mở khóa để tù trong phòng ra lấy đem vào chia nhau ăn. Cá nhỏ cá lớn kho chung, rất tanh hôi vì đa số cá bị ươn; canh rau xanh rửa không sạch nên thường có cát sạn, sâu bọ, ốc sên, gián, trùn… nằm trong nước. Thôi thì cứ nhắm mắt ăn đại cho xong bữa vì nghĩ cái gì có protein cũng tốt thôi! Vậy mà tôi chưa bao giờ bị tiêu chảy.

 

Chừng ba bốn tháng trong tù, tôi quá nhớ vợ, thương cảnh vợ sinh con đầu lòng mà không có chồng bên cạnh. Qua vài ngày đắn đo suy nghĩ, tôi đánh liều xin gặp mặt làm việc với thiếu úy Thuận, công an trưởng phòng tù. Anh ta chấp nhận, có thể nghĩ là tôi muốn gặp riêng để bí mật báo cáo chuyện gì trong phòng?! Ngồi ở bàn nhỏ ngay gần trước phòng tù, tôi mở lời, nói một mách: “Vợ tôi có bầu gần sinh lúc tôi vượt biên. Hơn cả bốn tháng qua, tôi không nhận tin tức nào về chuyện sinh đẻ của vợ, tốt xấu như thế nào?? Con tôi là trai hay gái?! Nay tôi xin thiếu úy thông cảm, giúp đem cái thư tôi sẽ viết tay về nhà mẹ tôi ở gần đây, ngay trong cư xá Bắc Hải, rồi thiếu úy mang lại cho tôi thư trả lời của gia đình tôi, cùng với giỏ đồ ăn. Trong thư, tôi viết gia đình tôi sẽ bồi đáp 100 đồng để cám ơn thiếu úy. Nếu thiếu úy cho việc tôi nhờ thiếu úy giúp đỡ là sai, xin thiếu úy cứ phạt kỷ luật tôi, tôi chẳng dám than phiền. Còn không thì tôi cám ơn thiếu úy vô cùng…” Tôi nhớ lương tháng của mình thời làm việc ở bệnh viện Trưng Vương là 55 đồng. Sau một vài phút im lặng, anh công an đứng dậy, và không một lời đưa tôi trở lại phòng. Một vài bạn tù có ánh mắt thắc mắc nhưng tôi tỉnh bơ, làm như không biết.

 

Tôi có nhiều hy vọng thiếu úy Thuận sẽ giúp tôi. Nghiệm lại, nếu anh ta không bằng lòng thì anh ta đã tỏ thái độ giận dữ, la hét, còng tay tôi tại chỗ, nhốt tôi vào phòng tối. Nhưng không, anh ta giữ im lặng. Hai ngày sau, thiếu úy Thuận mở cửa phòng, kêu tôi ra làm việc. Lần này, chúng tôi bước đến cuối hành lang của dãy lầu, nơi có kê một cái bàn lớn với 4 cái ghế.  Anh ra dấu cho tôi ngồi xuống ghế, đưa tôi xấp giấy và cây bút, bảo tôi viết thư, trong khi anh ta đứng xa ra, nhìn trời đất, châm điếu thuốc. Sau khi tôi viết xong, anh ta đọc lá thư trước khi đưa tôi về lại phòng. Qua ngày hôm sau, trong lúc các tù nhân sắp hàng xuống lầu đi tắm, anh thiếu úy Thuận đến gần tôi, kín đáo cho biết anh đã đem thư tôi đến nhà rồi và 2 ngày nữa anh sẽ đến lấy thư và giỏ đồ ăn đem vào cho tôi.

 

Lại đúng hai ngày sau, anh công an Thuận kêu tôi ra và trao cho tôi giỏ đồ ăn khá lớn. Tôi xách giỏ vào phòng dưới ánh mắt vô cùng ngạc nhiên của mọi người. Lẳng lặng về chỗ của mình, tôi run run mở thư vợ ra đọc, ứa nước mắt nhìn tấm hình mẹ bồng khoe con gái trên tay, với hàng chữ phía sau “Gởi anh yêu tấm hình mẹ con em chụp ngày con gái chúng mình rửa tội”. Tôi xúc động nhìn khuôn mặt đoan trang với ánh mắt buồn sâu của em và con gái mình xinh đẹp, bụ bẫm, bình yên với nụ cười cho cha. Thư vợ không dài nhưng đủ cho tôi biết chút tin tức của hai gia đình bên tôi và bên nàng, ngày và tháng sinh cùng tên của con gái. Tôi úp lá thư lên mặt, như thể muốn hít hương thơm của vợ mình vào tận sâu trong lòng. Sau đó, tôi đem chia những món ăn liền cho các bạn tù, đủ mỗi người một miếng nhỏ, để chung vui với tôi nhận tin vợ con, và dành cho mình các đồ ăn khô cất lâu được. Những bạn tù ở lâu cho tôi biết chưa bao giờ họ thấy công an phòng đem thức ăn gia đình đưa tận tay cho tội phạm. Tuy nhiên họ cho biết tù được thăm nuôi mỗi sáu tháng một lần.


vinhchang 1

Mấy ngày sau, vài bạn tù tìm đến nhờ tôi chỉ dẫn cách thức. Tôi thành thật nói sự thật. Vậy là sau tôi, có thêm 2 bạn tù khác cũng được ra làm việc riêng với thiếu úy Thuận, rồi cũng được nhận thức ăn của nhà gởi vào. Tôi không biết có nên “hãnh diện” nghĩ mình có thể là người đầu tiên sử dụng đồng tiền, đúng lúc đúng thời, để làm lung lạc người cai tù.

 

Từng là tù cải tạo, tôi không mấy ngạc nhiên khi thấy cứ khoảng 2 tháng, có chuyện chuyển tù từ phòng này qua phòng nọ, với đa số là tù chính trị. Cái lạ là tôi vẫn “giậm chân tại chỗ” không dời đâu cả. Trong một lần chuyển vào phòng của tôi, có một người tù rất cao nhưng rất ốm, đeo kính trắng, dáng người thanh nhã. Hỏi ra mới biết đó là linh mục Nguyễn Văn Vàng thuộc dòng Chúa Cứu Thế. Thế là tình cảm giữa cha và con chiên từ từ gắn bó. Nhờ cha mà tôi nhận bánh thánh, dưới hình thức hột cơm, từ tay cha kín đáo trao cho tôi hầu như mỗi ngày. Trong một lần tâm sự, cha cho tôi biết cha nhìn thấy rất nhiều văn nghệ sĩ Miền Nam bị giam cầm tại Chí Hòa, và cha từng bị công an cùm vào xà lim mấy lần. Cha cho biết cha cũng từng bị một tù phạm giữ chức trưởng phòng theo dõi cha sát nút, báo cáo từng hành động nhỏ của cha. Và người antenne đó không mấy xa lạ. Ngược lại, anh ta rất nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ và dân làm báo, từng viết nhiều truyện về cao bồi du đãng của Sài Gòn và bốc thơm những nhân vật giang hồ, nhất là đề cao sự trung tín trong giới anh chị này. Nhưng vào tù, hành động hèn hạ của anh ta hoàn toàn đi ngược với hình ảnh anh hùng của các nhân vật trong truyện. Lâu về sau, tôi nghe tin linh mục Vàng đã chết trong một trại tù tại vùng rừng núi hiểm trở ngoài Miền Trung.

 

Sau lần đầu tiên nhận quà của gia đình, tôi lại nhờ anh công an Thuận làm thêm một lần nữa. Tuy nhiên lần thứ hai này, tôi mặc cả được số tiền bồi đáp xuống còn 50 đồng thôi!? Có thể anh có những mối khác từ những phòng kề cận hay quá cần tiền bao gái?! Sau lần thăm nuôi đầu tiên cũng là duy nhất vào khoảng tháng 2, năm 1979, là dịp vợ tôi đem theo con gái, đưa con gái lên thẳng quá đầu mình cho tôi được nhìn thấy con. Vào một ngày tháng 3, 1979, tôi được thả ra khỏi Chí Hòa. Cầm trong tay giấy “Lệnh Thả” tôi tự hỏi “Rồi sao nữa”. Con xin tạ ơn Chúa tiếp tục cứu vớt và dìu dắt đời con.


vinhchang 2

 

Không có bút mực nào diễn tả cho hết sự vui mừng khi vào nhà bất thình lình, tôi ôm con gái vào trong lòng trong lúc  mẹ đi làm chưa về. Hình như con biết đó là cha nên không khóc, chỉ ư e thật dễ thương. Rồi em về nhà, tôi nhảy ra ôm chặt em cùng với con gái trong tay, nước mắt sum họp chan hòa hạnh phúc. Con gái được bà Nội đặt tên trong nhà là Bồ Câu, mang ý nghĩa hòa bình trên đất nước. Tên trong giấy khai sinh là Hoài Anh. Vợ nhớ chồng không nguôi.

 

Trong thời gian ở nhà, tôi hạnh phúc tập làm cha, dành phần cho con bú bình khi mẹ đi làm,  pha sữa, rửa sạch bình sữa, thay tả, thay áo quần, ẳm con, ru con ngủ, chơi với con…Vui quá đi chứ! Đi đâu bây giờ luôn có cả ba, vợ và con gái ngồi sau lưng chồng trên chiếc xe đạp. Từ nhà bà Nội ra đến nhà ông bà Ngoại, Bồ Câu được thương yêu đầy đủ, nhất là được các dì cậu dành nhau bồng bế. Tôi cũng được biết khi tôi nằm tù, bạn Hoàng Ngọc Vinh của tôi bị cướp mất chiếc xe đạp khi đến thăm vợ tôi sau khi sinh. Nhóm bạn thân của tôi đang rục rịch kiếm đường đi.

 

Như lần trước, bạn Dương Đình Công và tôi lại gặp nhau bất ngờ ngoài đường phố. Bạn hỏi tôi được thả về lâu mau, lời khai của tôi lúc bị bắt như thế nào. Tôi trả lời tôi khai vượt biên vì kinh tế, lương 55 đồng mỗi tháng không đủ nuôi vợ con. Bạn Công nói, “Mi chờ ở nhà, tau sẽ cho người đem tới cho mi giấy đi làm”. Hai ngày sau, có người thừa phái đạp xe đến nhà tôi đưa cho tôi giấy của Sở Y Tế thành phố giới thiệu tôi đến nhận việc tại bệnh viện Sùng Chính. Tôi chỉ biết cám ơn tình bạn giúp tôi một lần nữa vượt qua một giai đoạn khó khăn. Và tôi không quên cám ơn Chúa tiếp tục nâng đỡ tôi trong cơn bão dữ.

 

Ngày 5 tháng 4, tôi đến bệnh viện Sùng Chính trình giấy giới thiệu. Ban giám đốc đưa tôi làm việc trong Khu Nội Thương # 2, phụ tá cho bác sĩ Bùi Xuân Nhiếp, trưởng phòng. Bác sĩ Nhiếp thuộc loại đàn anh, cùng lứa với anh đầu của tôi tại Y khoa Sài Gòn, tính tình rất hiền hòa. Hai anh em chúng tôi chia nhau việc làm thật hòa hợp và chu đáo. Khu Nội Thương #2 có 2 bác sĩ đàn anh của tôi tại Y khoa Huế, là bác sĩ Đặng Ngọc Hồ và bác sĩ Phạm Kỳ Nam. Hai bác sĩ này có vẻ rất ăn “jơ” với ban giám đốc, vì tôi thường thấy họ hay đi ăn trưa bên ngoài với anh Ba giám đốc, anh Tư trưởng ban tổ chức, anh Năm phó giám đốc… Hầu như đa số bệnh nhân khu Nội Thương #2 là người Việt gốc Hoa, có vẻ vẫn giàu có hơn bệnh nhân người Việt rất nhiều. Có lần tôi cũng nhìn thấy ca sĩ Phương Hồng Quế đến tìm thăm bác sĩ Phạm Kỳ Nam. Ông cụ của bác sĩ Nam là Cụ Chánh Nhất tại tòa án thượng thẩm Huế, bị tù cải tạo và chết ngoài Bắc, trong một trại tù với nhạc gia của tôi.

 

Ngoài ra, tôi còn thấy khá nhiều bác sĩ trong bệnh viện Sùng Chính là những người tôi từng biết, quen ngoài đời hay trong tù cải tạo. Như bác sĩ Đinh Xuân Dũng, Y khoa Sài Gòn, trưởng khu giải phẫu; bác sĩ Liên, Y khoa Sài Gòn, khu bệnh nhiễm, cùng lứa trưng tập với tôi; bác sĩ Võ Văn Cầu, đàn anh của tôi từ Y khoa Huế, trưởng khu Sản Phụ Khoa, v.v.

 

vinhchang 3

 

Tình trạng kinh tế xã hội tại Sài Gòn có vẻ thảm thương hơn nhiều so với năm trước khi tôi vào tù Chí Hòa. Ở đâu cũng thấy người bán đủ thứ nhiều hơn người mua. Chế độ thuốc men tại bệnh viện khan hiếm, buộc lòng bác sĩ chữa trị phải ký toa thuốc cho thân nhân mua thuốc ngoài chợ trời đem vào bệnh viện chữa trị cho người nhà của mình. Chụp hình quang tuyến phải xin phép ban lãnh đạo. Tại Sùng Chính, tôi được trả lương 65 đồng, tăng 10 đồng so với năm trước tại bệnh viện Trưng Vương. Không hiểu sự tăng lương cho bác sĩ có phải là một trong những cố gắng chính quyền thành phố thực hiện nhằm giữ chân các thành phần khoa học kỹ thuật vẫn đang lũ lượt liều mạng trốn bỏ khỏi nước?! Chuyện giao ban, hội chẩn, hộ khẩu, trực gác… không khác, “vũ như cẩn”. Trong một buổi trưa đạp xe về nhà ăn cơm trưa, một chiếc xe Honda chạy xẹt gần tôi, có bàn tay đập vào vai tôi, rồi xe chạy vút vượt qua mặt tôi, thằng nhỏ ngồi sau ngoái lui nhìn tôi, cười. Tôi chẳng biết chuyện gì xẩy ra. Chỉ một hai phút sau đó, tôi mới chưng hửng nhận biết chiếc đồng hồ Omega nhạc gia tôi mới tặng cho tôi sau khi tôi nhận việc làm tại Sùng Chính, đã bay mất khỏi cổ tay bên trái mình hồi nào tôi chẳng biết?! Thật là quái đản. Về nhà, vợ tôi chỉ an ủi với câu “của đi thay người đó”.

 

Đúng vậy, vài tháng trước thời hạn thẻ công nhân viên bệnh viện Sùng Chính đáo hạn vào ngày 31/12/79, vợ chồng chúng tôi làm chuyến vượt biên lần thứ hai, qua ngả Rạch Giá vào tháng 9, 1979. Lần này ngoài vợ chồng chúng tôi và con gái Bồ Câu trên một năm tuổi, còn có một em gái và một em trai của vợ. Cùng trên chuyến tàu vượt biên, tôi nhìn ra nhiều người quen biết, như vợ chồng bác sĩ Võ Văn Cầu, vợ chồng gia đình bác sĩ Trần Tiễn Ngạc, bạn thân cùng khóa với tôi tại Y khoa Huế, chị vợ bác sĩ Tạ Quang Hát và các con… Tàu chúng tôi đến được Thái Lan an toàn, dù mất một người bị chết đuối và bị tàu hải tặc đuổi theo nhưng mất dấu trong đêm. Chuyện may mắn không dừng ngang đó. Sau một tháng ở trại tỵ nạn Lêm Ngọp, bỗng nhiên một tàu vượt biên chui thẳng vào ngay đúng bờ biển của trại. Trong những người bước xuống tàu có hai em trai của vợ tôi, và bác sĩ Tạ Quang Hát cũng đoàn tụ với vợ và con. Gia đình chúng tôi, gồm có vợ chồng chúng tôi và con gái, một em gái vợ và 3 em trai vợ, ghép cả 7 người vào chung một hồ sơ, lần lượt được chuyển qua trại tỵ nạn Bataan, Phi Luật Tân, rồi từ đó định cư tại Mỹ. Chúng tôi đáp xuống phi trường San Francisco vào ngày 24 tháng 7, 1980. Một ngày huy hoàng khó quên, linh thiêng như có một sự sắp xếp của định mệnh. Đó đúng là ngày kỵ giỗ của ba tôi.

 

Một tương lai tươi sáng đang chào đón. Một chân trời mở rộng ra trước mắt. Cảm tạ Chúa về những ân sủng Ngài đã ban cho chúng con.

 

Vĩnh Chánh

(Tháng Tư, 2022)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.