Hôm nay,  

Dịch thơ, giữa dở và hay

11/22/202400:00:00(View: 1608)
Capture

…một tác giả tài danh, trong một tác phẩm đỉnh cao, cũng có lúc dễ dãi với chữ, với thơ và, do đó, cái khó của người dịch là, trong ngôn ngữ khác, cũng phải truyền đạt cho được sự lạc chữ hay mất thần đó. 

 

Dịch thơ, nói theo Bùi Giáng, là “điều khảm kha nhất” và đó phải là thơ hay bởi, trừ những ngoại lệ đặc biệt, chẳng dịch giả nào phí thì giờ với thơ dở. [1] Sự “khảm kha”, như thế, phải thuộc về cái nghệ thuật chuyển đạt, sao cho giữ được hồn cốt làm nên cái hay của bài thơ trong một ngôn ngữ khác.
 
Tuy nhiên nhà thơ Chế Lan Viên, trong “Sổ tay thơ”, nhận xét:
 
Thơ dở không dịch được
Thơ hay như người đẹp, ở đâu, đi đâu cũng lấy được chồng.
 
nên, theo logic này, dịch thơ dở còn “khảm kha hơn” việc dịch thơ hay, ngàn vạn lần.
 
“Khảm kha hơn” vì sự bất khả: “thơ dở không dịch được”.
 
Và “khảm kha hơn” do phận “ế” so với thơ hay.
 
Nếu “thơ hay” cũng như người đẹp “ở đâu đi đâu cũng lấy được chồng”, thì phần số của “thơ dở”, như là một cô gái xấu, sẽ rất là long đong một khi dạt đến những “bến” ngôn ngữ khác. Thơ hay, có lưu lạc đến vùng văn hóa khác, dẫu không nguyên vẹn thì ít nhiều vẫn lưu lại được vài nét “xuân sắc” để thu hút người đọc mới, nghĩa là kiếm chồng xứ lạ. Thơ dở thì không may mắn thế, nếu không nói là… vô phương!
 
Nhưng thơ dở thì chán vạn, cả triệu và đâu phải tất cả đều lọt mắt các dịch giả? Không kể đến thứ thơ chỉ dịch để tâng công, để kiếm bổng lộc, nói cho gọn là để nịnh như thơ lãnh tụ, thơ quan trên; thơ dở mà được dịch thì phải là thơ đáng đọc hay cần phải đọc.
 
Thơ đó có thể dở do tác giả... đánh mất chính mình: một tác giả tài danh, trong một tác phẩm đỉnh cao, cũng có lúc dễ dãi với chữ, với thơ và, do đó, cái khó của người dịch là, trong ngôn ngữ khác, cũng phải truyền đạt cho được sự lạc chữ hay mất thần đó.
 
 
Cũng có thể là thơ dở theo quan niệm thẩm mỹ, như bài thơ “Con Cóc”. Bao thế hệ đã xem đó là biểu trưng của thơ dở thế nhưng, theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, đó lại là một bài thơ hay. Diễn đạt cho gọn thì, khi “Con Cóc” là đỉnh cao của thơ dở trong cách cảm thụ văn chương đã lỗi thời thì, qua một cuộc đảo chính mỹ học, bài thơ sẽ ngời ngời ánh sáng thẩm mỹ mới, nghĩa là … hay!
 
 
Hoặc có thể thơ chưa đạt đến mức tinh hoa của ngôn ngữ nhưng lại là tác phẩm biểu trưng cho một thời kỳ lịch sử, một giai đoạn hay một vùng miền văn học.
 
Thí dụ bài thơ “Tình Già” của Phan Khôi. Đây không phải là bài thơ hay, nhưng nếu muốn giới thiệu lịch sử phát triển của Thơ Việt Nam với người ngoài, tất nhiên phải dịch bài thơ được xem là phát pháo đầu tiên của phong trào Thơ Mới. Hay những vần thơ thật thà trong Lục Vân Tiên, của Nguyễn Đình Chiểu, như là biểu trưng của văn học miền Nam, một thời.

Thật thà là đức tính của con người trong mối quan hệ xã hội tuy nhiên, trong nghệ thuật, có khi, lại là điểm yếu. Trong Hồi ký song đôi, Huy Cận kể chuyện ông cậu mình bỏ ra đến mấy năm trời để học chơi đàn nguyệt từ một tay đờn điêu luyện, chuyên chơi nhạc chầu văn hay hầu đò, thế nhưng, bất kể bao nhiêu công sức, thời gian và đam mê bỏ ra, tiếng đàn ông cậu vẫn chưa làm lay được lòng ai, vẫn “không có nhụy” mà lý do là, theo nhận xét của ông thầy, “tiếng đàn còn thật quá”![2]
 
Nhưng làm sao để truyền đạt những “phong cách” như thế trong một ngôn ngữ khác? Nghệ thuật này có giống với nghệ thuật diễn tả phụ nữ không đẹp, như khi Vũ Trọng Phụng tả chị Doãn hay Nam Cao tả Thị Nỡ? Nếu hai nhà văn này tả sự không đẹp một cách tài tình thì, khi dịch một bài thơ không hay, một dịch giả tài hoa phải truyền đạt sao cho được thần thái của cái sự không hay đó?
 
Lấy thí dụ sự thật thà chữ nghĩa trong Lục Vân Tiên, từ cảnh đối đáp giữa người đẹp Nguyệt Nga và đấng anh hùng:
 
“Đưa trâm chàng đã làm ngơ,
“Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ.”
Vân Tiên ngó lại rằng: “Ừ!
Làm thơ cho kịp bấy chừ chớ lâu
 
Chẳng oai phong theo kiểu lẫm liệt, sang trọng đã đành, bậc anh hùng thậm chí còn ngờ nghệch khi “ngó lại rằng: ‘Ừ!’’. Đến lúc chuyển vai “văn nhân”, khen người đẹp làm thơ xuôi lọt dưới áp lực thời gian, nhân vật này trông còn... chán hơn nữa:
 
“Thơ rồi này thiếp xin dâng,
“Ngửa trông lượng rộng văn nhân thể nào?”
Vân Tiên xem thấy ngạt ngào,
Ai dè sức gái tài cao bực nầy.
Đã mau mà lại thêm hay...
 
Toàn là việc khó cả, từ việc truyền đạt cho được cách xã giao thật thà của nhân vật, đến quan niệm thật thà về thơ “Đã mau mà lại thêm hay”. Nghĩa là khó nhưng vẫn chưa là gì so với việc truyền đạt cái thần trong sự dở của một câu thơ lạc thần, giữa một rừng thơ hay.
 
Câu thơ dở, trong ngữ cảnh đặc biệt của một tác phẩm đỉnh cao của một tác giả tài danh, sẽ có một thần thái đặc biệt. Chuyển dịch thần thái của sự dở này sang một ngôn ngữ khác, khiến người đọc phải cảm được điều đó, cũng chẳng khác gì phải làm sao để một cô gái xấu lấy được chồng mà không phải son phấn màu mè, đừng nói là giải phẩu thầm mỹ.
 
Như câu thơ có lẽ là dở nhất trong Truyện Kiều mà tôi từng bàn đến trong bài “Phải học Tú Bà”:
 
 
“… đến cả Nguyễn Du cũng đã một thoáng đánh mất chính mình trong cái cảnh đoàn tụ này. So với cảnh chia tay đau đớn vô cùng đẹp đẽ trong ngôn ngữ:
 
Đoạn trường thay lúc phân kỳ!
Vó câu khấp khểnh bóng xe gập ghềnh.
 
thì, cũng trên khía cạnh ngôn ngữ, cái cảnh chuẩn bị đoàn tụ trông nhếch nhác, vô duyên thế nào:
 
Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên,
Bộ hành một lũ theo liền một khi
 
Truyện Kiều là cả một sự chắt lọc ngôn ngữ mà, nói theo Phan Kế Bính, là “không có một tiếng nào là tiếng đục, không một câu nào là câu non” thế nhưng cái câu trên, câu tám, nghe cũng đục đục thế nào. Nó quá mức thật thà, thật thà đến ngô nghê, y như cái cảnh ngô nghê lúc Lục Vân Tiên hối người đẹp làm thơ, “Vân Tiên ngó lại rằng Ừ! / Làm thơ cho kịp bấy chừ chớ lâu”.
 
“Bộ hành một lũ” là toàn gia cha mẹ dâu rể. Hẳn nhiên, “lũ” ngày ấy không như là “lũ” thời nay, như trong “bè lũ bành trướng bá quyền Bắc Kinh” hay trong “bè lũ diệt chủng Pôn Pốt Iêng-xa-ri” của cuối thập niên 1970. Dẫu biết rằng “lũ” ngày ấy ngụ ý tôn trọng – như là “Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ” khi Nguyễn Đình Chiểu chiêu hồn những nghĩa sĩ trận vong ở Cần Giuộc – nhưng cái cảnh “một lũ theo liền một khi” này trông vẫn lôi thôi, nhếch nhác thế nào mà, thậm chí, còn làm chúng ta liên tưởng đến một đám đá cá lăn dưa hê nhau đi hôi của, đi liền kẻo hết. [3]
 
Trong số những dịch giả nổi tiếng nhất của Truyện Kiều có học giả Huỳnh Sanh Thông và, trong tiếng Anh, hai câu trên, qua nghệ thuật chuyển ngữ của ông, là:
 
All knelt and bowed their thanks to old Giác Duyên,
Then in a group they followed on her heels. [4]
 
Tra cứu thêm các bản dịch khác, của Phan Huy MPH:
 
Together gratefully to Giác Duyên they bowed,
And without delay in her walk they followed. [5]
 
hay của Mica Huynh:
 
They bow to Giác Duyên, and
Follow her steps, finding the girl. [6]
 
sẽ nhận ra rằng, tất cả, chẳng thể nào thể hiện trọn vẹn cảnh tượng lôi thôi nhếch nhác của “bộ hành một lũ”.
 
Vậy đã thấy khó, đến “Thơ Con Cóc” có lẽ còn khó hơn:
 
Con cóc trong hang
Con cóc nhảy ra
Con cóc nhảy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhảy đi
 
Bài thơ có cái đẹp “trần trụi” mà nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đề cập trong bài “Thơ Con Cóc: Một bài thơ hay”, in trong Thơ, vân vân và v.v..., xuất bản năm 1996:
 
Bài Thơ Con Cóc, ngược lại, trần trụi tuyệt đối. Như một cành gai. Không có đến lá, đừng nói gì là hoa. Nó thô tháp. Nó mạnh bạo. Nó sần sùi. Và cũng có thể nói, tàn nhẫn nữa. Nó xoá bỏ hết mọi phấn son và loại trừ hết tất cả cảm xúc thừa thãi để bắt người đọc một minh sửng sờ đối diện với sự vô nghĩa của cuộc đời. Không thể nào có thứ ngôn ngữ nào giản dị hơn thế nữa...
 
Cũng như sự khác nhau trong quan niệm về cái đẹp giữa một khu vườn thừa thãi sắc màu, rộn rã tiếng chim ca, giàu sắc giàu âm đến mức... nhốn nháo lòe loẹt với một vườn thiền u tịch. Người mê hoa lá, sắc màu, tiếng chim và cánh bướm sẽ phát chán với một khoanh cát đơn sơ có thêm vài tảng đá, bất quá thêm cây tùng, cây bách, thoang thoảng từ xa là tiếng nước róc rách, và ngược lại, người thích thơ haiku sẽ phát ngán với bài thơ đầy ắp chi tiết như “Chợ Tết” của Đoàn Văn Cừ. Dịch sao để thấy được sự trái ngược như thế, cái dở của bài thơ theo góc nhìn của người bên này nhưng lại thu hút được niềm say mê của người phía bên kia? [7]
 
Thật là khó quá nhưng có phải vì thế mà chúng ta có quyền kết luận rằng dịch thơ dở khó hơn là dịch thơ hay?
 
Ít ra, về mặt logic thì, chúng ta đã trở nên bất bình thường, hay nói theo ngôn ngữ của Kim Dung là mấp mé bên bờ vực của tình trạng “tẩu hỏa nhập ma” khi làm cho trật tự không gian rối lên. Từ đầu, đã chấp nhận khẳng định của Bùi Giáng rằng việc dịch thơ (hay) là điều “khảm kha nhất”, bây giờ thì lại kết luận rằng việc dịch thơ dở (đáng đọc hay phải đọc) còn “khảm kha hơn”, vậy thì cái nào khó hơn cái nào?
 
Chúng ta bị thế bởi đã dở hơi khi đặt ra một vấn đề không nên đặt. So sánh thế thì có khác nào bảo phải so sánh là, giữa vĩ cầm và dương cầm, nhạc cụ nào có âm thanh hay hơn? Hay, thậm chí, phải so sánh giữa nước tương và nước mắm, giữa phở và bún bò Huế, thứ nào ngon hơn?
 
Nhưng có vậy thì chúng ta mới gặp lại một Chế Lan Viên – người đưa ra quan niệm “thơ dở không dịch được” và từng mang những chiến công hiển hách của cha ông ra so đo hơn kém:
 
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng...
(“Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”, 1965)
 
So sánh một cách dở hơi như thế nên, cũng có lúc, nhà thơ này lâm vào tình trạng suýt bị tẩu hỏa nhập ma.
 
Mỗi câu, mỗi chữ của Chế Lan Viên là cả một sự trau chuốt, đầu tư, vậy mà, trong bài “Trận tuyến này cao hơn cả màu da”, công bố vào tháng Tám năm 1967, nhà thơ trở nên bất bình thường, làm rối tung trật tự không gian:
 
Vinh quang nhất là những người nổ súng
Vinh quang hơn là những kẻ đi đầu
 
Nhìn lại, chúng ta biết rằng bài thơ được công bố chỉ bốn tháng trước biến cố Mậu Thân và “thần thái” trong cái dở của nhà thơ cực kỳ chỉn chu về chữ này, phải nói, là sự mất thăng bằng, mất hết nghĩa lý thông thưòng. Đó, phải chăng, là do nhà thơ quá hối hả, quá gấp gáp trong nỗ lực bày tỏ nhiệt tình cách mạng, hối thúc người khác xông vào tử địa?
 
Nói cách khác là, phải chăng, do nôn nóng lập công về chính trị mà nhà thơ dễ dãi với chữ nghĩa nên, nếu dịch thì, với ngữ cảnh của bài thơ, người dịch cũng phải làm sao để toát lên cái sự sốt sắng quá mức cần thiết của một nhà thơ phò chính thống?
 
Tuy nhiên bài thơ, như có thể thấy được cái tên, “Trận tuyến này cao hơn cả màu da”, là cả một sự lên gân và, hơn thế nữa, suy tưởng theo chính tác giả trong “Di cảo thơ”, nó nhất định phải là thứ thơ thuộc về “một nửa” mà hậu thế phải “Trừ đi”: [8]
 
Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có phải tôi viết đâu? Một nửa
Cái cần viết vào thơ, tôi đã giết đi rồi!
 
Nên, may cho những người dịch thơ thời ấy khi đó là một bài thơ không đáng để dịch, còn Chế Lan Viên cũng chưa phải là một quan chức chính trị cỡ bự để phải bợ đỡ bằng cách dịch một bài thơ mà, từ đầu, đã bị bị chính tác giả tàn sát chất thơ!
  
Tài liệu tham khảo:
  1. Bùi Giáng, “Một đường lối dịch thơ”
2. Huy Cận (2003), Hồi ký song đôi, Nhà xuất bản Hội nhà văn, trang 32
4. Huynh Sanh Thong (1983), The Tale of Kieu, Yale Univeristy Press, New Haven, trang 155
5. https://truyenkieuinenglish.wordpress.com/episode-xxvi/
7. Bản dịch của Tiểu Vĩnh Lạc:
From its hole, the toad is hopping out
The toad is hopping out, and then crouching there
The toad is crouching there, and then hopping away …!
8. Bài thơ “Trừ đi” của Chế Lan Viên:

“Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có phải tôi viết đâu? Một nửa
Cái cần viết vào thơ, tôi đã giết đi rồi!
Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười,
Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ,
Tôi giết cái cánh sắp bay...trước khi tôi viết
Tôi giết bão táp ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ
Và giết luôn mặt trời trên biển,
Giết mưa và giết cả cỏ mọc trong mưa luôn thể
Cho nên câu thơ tôi gày còm như thế
Tôi viết bằng xương thôi, không có thịt của mình.
Và thơ này rơi đến tay anh
Anh bảo đấy là tôi?
Không phải!
Nhưng cũng chính là tôi - người có lỗi!
Đã giết đi bao nhiêu cái
Có khi không có tội như mình!”
 
Nguyễn Hoàng Văn

Reader's Comment
5/31/202516:25:25
Guest
Tạm dịch: (để diễn tả sự khép nép và tất tả của một nhóm người)

Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên
Bộ hành một lũ theo liền một khi

***

Groveled afoot at Giac Duyen
A herd of heads hastily set out
Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.