Hôm nay,  

TẠ ƠN

02/11/202210:56:00(Xem: 5016)
Tạp ghi

kmduyen


Ai sinh ra đời cũng biết ơn ông bà, cha mẹ của mình, cho dù ông bà, cha mẹ còn sinh tiền hay đã qua đời, con cháu vẫn nhớ. Nếu ông bà cha mẹ đã qua đời thì hằng năm đến ngày giỗ dù bận thế nào còn cháu cũng làm đám giỗ cúng ông bà cha mẹ. Ngoài ra, chúng ta còn nhớ ơn nhiều người như cô giáo, thầy giáo đã dạy mình, những ân nhân đã giúp đỡ mình như bác sĩ. Mỗi lần bệnh gọi đến bác sĩ, tội nghiệp giới thầy thuốc những lúc vui không ai gọi bác sĩ nhưng khi bệnh mặt mày xanh xao tái mét, ủ rũ thì gọi bác sĩ, có ai đến bác sĩ mà khỏe mạnh đâu. Làm nghề bác sĩ suốt ngày nghe than thở, bác sĩ ơi, tôi đau đầu quá, bác sĩ ơi, thời tiết thay đổi tôi nhức lưng, tôi mệt mỏi quá, tôi không ăn được, tôi không ngủ được, v.v. Bác sĩ là người nghe đủ thứ kể lể, nghe than từ sáng đến chiều, nghe kể lể từ thứ hai đến cuối tuần, chọn nghề bác sĩ là chọn nghề nghe than.

 

Hồng Y Nguyễn Văn Thuận giảng ở San Diego: Việt Nam có 94 triệu mỏ than, người nào cũng than, mở miệng ra là than, con người ta sao học giỏi, con của tôi sao không giỏi, con của người khác học ra bác sĩ, con tôi chọn ngành luật, con tôi chọn khoa học. Ngoài bác sĩ nghe than, đến các vị lãnh đạo tinh thần, giám mục, linh mục, dì phước, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, sư cô cũng nghe than, trời mưa, trời nắng gì cũng nghe than. Ở đời này họ Than và họ Hứa quá nhiều, có lẽ họ Than nhiều hơn họ Hứa.

 

Trên đời này nợ thì nhiều lắm: nợ ngân hàng, nợ nhà, nợ xe, nợ thẻ tín dụng, những nợ lặt vặt thông thường thì trả hàng tháng, trả mãi rồi sẽ hết nhưng nợ ân tình làm sao trả hết được?

 

Có ai dám vỗ ngực nói rằng trong suốt đời mình không nợ ai không? Nợ nhiều lắm, nợ những người mình giao thiệp hằng ngày, bằng hữu cho mình một giỏ trái cây, một cái bánh, một lời nói an ủi trong lúc mình đau đớn bệnh hoạn cũng là nợ.

 

Riêng tôi thì tôi nợ nhiều người lắm, nợ đồng hương, nợ những bằng hữu ngoại quốc, nợ những vị lãnh đạo tinh thần, nợ khách hàng dễ thương, nợ những ân nhân không hề gặp mặt lần nào đã giới thiệu bằng hữu của họ trong sở làm đến với tôi để mua nhà, bán nhà, mượn tiền hay bán những cơ sở thương mại. Tôi nợ những nhà văn, nhà báo cũng nhiều, những chủ báo đăng bài của tôi, chủ những diễn đàn đăng bài, đọc bút ký chiến trường Chinh Chiến Điêu Linh và Hoa Cỏ Bên Đường, nhiều nhà văn, nhà báo viết bài giới thiệu, thật ra họ viết bài hay hơn tôi rất nhiều, những người quen tôi gặp, tôi cảm ơn, còn những người chưa từng gặp ở nơi nào tôi cũng không biết cũng đọc truyện của tôi, đặc biệt là ở Việt Nam, có diễn đàn không thấy để email hoặc số điện thoại, nên muốn cảm ơn cũng không có cách nào để tạ ơn những người chưa hề gặp gỡ.

 

Những tờ báo đã đăng bài của tôi, tôi biết chủ nhiệm, chủ bút, tôi cảm ơn như báo Bút Tre ở Arizona, Thương Mãi Miền Đông ở D.C, báo Trẻ Dallas, báo Thằng Mõ ở Los Angeles, báo Thằng Mõ ở San Jose, báo Calitoday ở San Jose, báo Người Việt Tự Do ở San Diego, Saigon Weekly ở Houston, báo Xây Dựng ở Houston, báo Viễn Đông, Việt Báo, v.v.

 

Tôi nợ nhiều lắm, tôi nợ người thân ở quanh tôi, em tôi, các cháu của tôi. Khi tôi cần gì, gọi một tiếng là có các cháu đến ngay. Nhân viên của tôi cũng rất dễ thương, khi tôi đói nhìn khuôn mặt của tôi xanh như tàu lá chuối là biết ngay. Ôi đời sống, sao mà nợ nần nhiều quá.

 

Tôi chỉ sợ những người sống tốt với mình vì không biết trả cái tình, cái nghĩa của họ như thế nào?

 

Một chủ của YouTube nói với tôi:

 

– Em đưa lên diễn đàn, có một số tác giả không hài lòng bảo phải lấy xuống.

 

Nói theo luật pháp thì phải xin phép tác giả vì họ giữ bản quyền và sách nào họ cũng đăng ký ở Quốc Hội Hoa Kỳ, nhưng với tôi, tôi mong độc giả đọc càng nhiều càng tốt. Những bài viết của tôi là về người thật việc thật cho nên ai đọc thì tôi mừng lắm, cho tôi tôi phải Tạ Ơn những người đã bỏ công sức, bỏ thì giờ để quảng bá hộ tôi.

 

Nhiều học trò của tôi ở Việt Nam cho tôi biết:

 

– Cô ơi, ở Việt Nam đồng bào của mình đọc Chinh Chiến Điêu Linh của cô nhiều lắm.

 

Tôi rất mừng vì người đọc không quên những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cho nên đọc Chinh Chiến Điêu Linh của tôi.

 

Tôi muốn Tạ Ơn tất cả những độc giả đã đọc truyện của tôi, tôi Tạ Ơn những vị lãnh đạo tinh thần đã cầu nguyện cho cha mẹ tôi khi cha mẹ tôi qua đời, Tạ Ơn bằng hữu đã cầu nguyện cho em trai tôi khi em trai tôi qua đời nhất là những chiến sĩ Không Quân cùng học ở Mỹ với em tôi, và ở cùng đơn vị ở Tân Sơn Nhất, ở Biên Hòa, ở Phù Cát (những ngày cuối cùng của cuộc chiến), và tôi xin Tạ Ơn những ân nhân đã âm thầm giúp đỡ chúng tôi trên thương trường, nếu Tạ Ơn thì nhiều lắm. Lòng biết ơn của tôi không bao giờ hết, chỉ biết cầu nguyện cho những người tốt được nhiều may mắn, sức khỏe dồi dào, sống an vui với gia đình và người thân.

 

Con người khi có lòng biết ơn, cuộc đời sẽ nhận được những điều thuận lợi.

 

Đầu năm 2020, dịch cúm Covid-19 người còn người mất, đến năm 2022 kinh tế suy thoái, lạm phát nặng nề, thế hệ thứ nhất lần lượt đi về miền vĩnh cửu, người còn lại vất vả với đời sống hằng ngày, nếu so với mấy chục năm về trước khi người tị nạn bắt đầu đến Hoa Kỳ thì bây giờ khác nhau xa, trộm cướp, giết người khắp nơi, kẻ sát nhân vào nhà thờ, trường học để giết người, giết trẻ thơ, dự luật cho phá thai không hạn chế thời gian, v.v. Cuộc sống mất đi sự vui vẻ, lạc quan. Nhưng may mắn thay vẫn còn người thương người, vẫn còn đồng hương gửi tiền về giúp cho thương phế binh, cô nhi, quả phụ, người cùi, người mù, người già cô đơn ở quê nhà, đó là người có tâm tốt, giúp người mình hạnh phúc trước khi người nhận được hạnh phúc.

 

Tìm thấy nụ cười trong mùa dịch cúm Covid-19 rất khó, trừ những đứa trẻ vô tư không suy nghĩ, không biết gì hết. Trong mùa dịch cúm thất nghiệp nhiều quá, ai còn giữ được việc làm là điều hạnh phúc.

 

Một ngày sống hạnh phúc: Không âu lo buồn phiền.

 

Hành động thật tự nhiên, xin biết ơn tất cả.

 

Người nào biết tiết kiệm, dành dụm, sẽ dễ dàng vượt qua khó khăn, người nào không dành dụm, không nghĩ đến tương lai, dùng thẻ tín dụng nhiều quá, tiêu xài nhiều quá khi thất nghiệp thì gặp khó khăn cho chính cá nhân cũng như gia đình của họ. Ở xứ người, nếu giữ được phong tục tập quán Việt Nam, tiết kiệm, dành dụm thì đời sống có khó khăn thế nào cũng vượt qua một cách dễ dàng, còn có thể giúp người thân, ông bà, cha mẹ, anh em của mình ở Việt Nam hay những người khốn khổ ở Việt Nam trong nạn lụt lội vừa qua.

 

Nếu nói nợ ai nấy trả thì chắc nói đời này kiếp sau gặp nhau trả tiếp, có ai dám khẳng định mình không nợ ai, người này nợ người kia là sự bình thường. Mình phải làm việc phúc đức, phải giúp người trong khả năng của mình, mình giúp người thì cố người khác giúp con cháu của mình.

 

Xin Tạ Ơn những ân nhân của tôi. Trong đời sống hàng ngày muốn nghe tiếng cười của người khác, muốn nhìn thấy nụ cười của người khác là điều hạnh phúc. Tôi muốn nói chuyện để mọi người vui vẻ, nghe tiếng cười là điều hạnh phúc của tôi, mong kiếp này và kiếp sau cũng vậy.

 

– Kiều Mỹ Duyên

Orange County, 1/11/2022

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.