Hôm nay,  

Cụ Tượng – Từ Hơi Thở Cá Nhân Đến Chứng Tích Hiện Sinh

20/11/202516:13:00(Xem: 265)
Tranh Bui Chat
Tranh Bùi Chát

Đọc statement Cụ tượng của Bùi Chát, tôi có cảm giác như nghe một tiếng thở ra, khàn khàn nhưng gấp gáp, như thể nếu không được thở, người ta sẽ ngạt thở đến chết. Cái “cụ tượng” mà anh nói tới, không phải một mỹ từ để tô điểm sự nghiệp, cũng chẳng phải một thuật ngữ nghệ thuật học cầu kỳ, mà là nhu cầu sinh tồn: tôi phải vẽ để còn sống tiếp. Ở điểm này, tôi nghĩ, ta nên đọc anh như đọc một lời thú nhận hơn là một tuyên ngôn nghệ thuật.

“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong. Thay vì “abstraction” (trừu tượng hóa hiện thực), anh nói đến chiều ngược lại: concretion – cụ thể hóa cái vốn đã trừu tượng sẵn trong ta.

Ở đây, sự khác biệt trở nên rõ rệt. Tranh trừu tượng hiện đại phương Tây thường bắt đầu từ thế giới có hình và bẻ gãy nó, làm nó méo mó, chưng cất, giản lươc. Bùi Chát đi từ chỗ vô hình, từ khối hỗn mang không tên, không dáng, rồi trao cho nó một tạm hình trên canvas. Nếu nhìn bằng lối hiện tượng học (Husserl), ta có thể gọi đây là một “epoché” ngược: không phải treo lại thế giới để tìm bản chất, mà phóng ra những gì vốn lẩn khuất trong kinh nghiệm sống chưa thành hình. Với Merleau-Ponty, có lẽ đó là thứ ông gọi là “cơ thể sống động” (le corps vécu) – nơi cảm giác, ký ức, xúc động luôn tồn tại như đám mây cuộn, chỉ khi hành động (bằng nét, bằng màu) mới thành hiện thể.

Cái mà Bùi Chát khước từ chính là trung gian: ẩn dụ, ký hiệu, biểu tượng. Anh viết: “Cụ tượng, đối với tôi, là sự cụ thể hóa trực tiếp, không trung gian. Nó không phải ký hiệu, không phải ngôn ngữ, không phải biểu tượng.” Ở đây, sự thành thật không phải khái niệm luân lý mà là điều kiện sáng tạo. Không trung gian tức là không dàn dựng, không thỏa hiệp. Điều này khiến “cụ tượng” của anh đứng ngoài logic thị trường (nơi tác phẩm phải có nghĩa dễ hiểu, dễ bán) và ngoài cả logic học thuật (nơi tác phẩm phải gắn vào một lý thuyết để tồn tại).

Khi đọc đến câu: “Mỗi lần vẽ, tôi chỉ như cắt ra một mảnh từ khối hỗn độn ấy.” Tôi thấy rất gần với ý niệm “tạm dừng” (pause) trong Heidegger: tác phẩm nghệ thuật không phải sự hoàn tất, mà là nơi cái vô tận được dừng lại trong khoảnh khắc để hiển lộ. Chính sự tạm dừng này làm cho tranh có sức sống – vì nó ghi lại một điểm chớp sáng trong dòng chảy hỗn loạn. Sau khoảnh khắc ấy, khối bên trong lại biến đổi, tiếp tục sinh ra những mảnh khác. Không có tác phẩm nào là toàn vẹn, tất cả chỉ là chứng tích ngắn ngủi.

Nếu đặt trong mỹ thuật Việt Nam hiện nay, Cụ tượng thật sự lạc lõng. Một bên, nghệ thuật thị trường vẫn gắn với cái đẹp trang trí. Bên kia, nghệ thuật ý niệm bận tâm với diễn giải, ký hiệu. Bùi Chát chọn một lối khác: không đẹp cũng không minh họa, không dễ hiểu cũng không cần hiểu. Chỉ cần thành thật. Cái sự “thành thật” này, tôi nghĩ, cũng là tiếp nối giọng thơ của anh – người từng giải thiêng, từng kéo ngôn ngữ ra khỏi mọi khuôn phép. Nếu thơ anh là trò tháo rời chữ nghĩa, thì tranh anh là động tác kéo hỗn mang ra ánh sáng.

Nhưng tôi không muốn chỉ dừng ở so sánh. Tôi tin, Cụ tượng mở ra một cách đọc khác cho nghệ thuật Việt. Nó nhắc chúng ta rằng không phải lúc nào sáng tạo cũng cần lý do. Có những lúc, sáng tạo chỉ là hành động sinh tồn, như thở. Và trong hành động sinh tồn ấy, thành thật chính là tiêu chuẩn duy nhất. Không phải cái đẹp. Không phải cái đúng. Càng không phải sự hợp lý.

Vậy, Cụ tượng có thể trở thành trường phái? Tôi nghĩ không. Bùi Chát nói rất rõ: nó không phải thể loại, không phải trường phái. Nó là cách anh gọi hành động của riêng mình. Và có lẽ, đó cũng là điểm khiến nó khả tín. Trong một thời đại mà nghệ sĩ hay tìm cách hợp thức hóa mình bằng những khung khái niệm sang trọng, Cụ tượng giống như một cú lắc đầu. Nó không định danh để dựng thành trào lưu, nó chỉ định danh để anh sống sót.

Tranh của Bùi Chát, nhìn vậy, giống như những trang nhật ký không chữ. Không kể chuyện, cũng không ghi chép sự kiện, chỉ ghi lại sự có mặt của một khối trừu tượng đã thành hình. Nó không cần “hiểu”, chỉ cần chứng thực rằng, ở một khoảnh khắc, đã có cái gì đó bật ra, hiện diện. Và sự hiện diện ấy, đối với anh, là đủ để thở tiếp.

Ở chỗ này, tôi nghĩ đến một nghịch lý: nghệ thuật thường được xem như nơi người ta “đi qua hiện thực để tới cái trừu tượng”. Còn với Cụ tượng, Bùi Chát đi ngược lại: “đi qua trừu tượng để tới hiện thực”. Một hiện thực không phải thế giới bên ngoài, mà là hiện thực của cái vô hình nội tâm. Mỗi bức tranh là một bằng chứng: khối vô hình đã từng hiện hữu, đã từng thành hình.

Nếu phải rút gọn toàn bộ statement của anh thành một câu, tôi chọn câu này: “Tranh, với tôi, không để minh họa cho ý tưởng, cũng không để trang trí. Nó là nhật ký, nhưng thay vì chữ, tôi dùng màu sắc.” Câu nói này, đối với tôi, vừa là tuyên ngôn, vừa là thú nhận. Và cũng là lý do khiến triển lãm này không giống một buổi trưng bày mỹ thuật bình thường, mà giống một căn phòng chứa hơi thở.

Khi bước vào không gian triển lãm, người xem có thể không hiểu. Nhưng có lẽ không cần hiểu. Cái cần chỉ là cảm thấy: cảm thấy sự có mặt của những mảnh hỗn độn đã được cụ thể hóa. Cảm thấy độ nặng nhẹ của từng cái thở ra. Và có lẽ, trong giây phút nào đó, chính người xem cũng được phép thở ra cùng với họa sĩ.

Hoàng Tạ

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
Chiều thứ Bảy 23 tháng 8 sắp tới đây, chúng ta sẽ được xem màn trình diễn Hợp Xướng "Chinh Phụ Ngâm" lần đầu tiên ở Hoa Kỳ. Nhà hát Rose Center Theater chuyên dùng cho các buổi hoà nhạc hay nhạc kịch ở Quận Cam sẽ là nơi vở hợp xướng trang trọng này được diễn ra. Cùng với màn hợp xướng, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng sẽ giới thiệu Chương Trình Ca Vũ Nhạc Kỷ Niệm 50 năm viễn xứ "Cánh cò xa xứ" tại đây. Rất phấn khởi với tin tức này, tôi lại có cơ duyên quen biết và tiếp xúc với Nhạc Sĩ Vũ Đình Ân, tôi tìm gặp ông để tìm hiểu thêm về vở hợp xướng "Chinh Phụ Ngâm".
TÔI LÀ AI? Dường như mãi mãi là một câu hỏi cho cuộc sống của con người tại thế. Và câu trả lời của nó, hẳn nhiên, không thể và không chỉ là một cụm từ, cho dù có thể sâu xa đến đâu. Phùng Thanh Hà, một phụ nữ tôi quen biết, tuy cùng ở một thành phố nhưng phải đánh một vòng đến Thuỵ Sĩ, qua một người bạn (đạo diễn Síu Phạm), tôi mới gặp được cô ấy. Tôi kể điều này để muốn nói rằng, tương ngộ là tuỳ duyên, không chỉ trong các mối quan hệ mà còn là những vấn đề liên quan, những cơ sự sắc tướng hoặc vô sắc tướng nơi mỗi cá nhân.
Độc giả Việt Báo hẳn đã quen với Bùi Chát – nhà thơ – qua nhiều thi phẩm đặc sắc từng đăng tải trên trang báo này suốt bao năm qua. Tuần rồi, Việt Báo vừa giới thiệu tập thơ mới Chúng Ta Đang Trôi Đi Đâu với bài viết của Nguyễn Đức Tùng. Hôm nay, mời bạn đọc gặp lại một Bùi Chát - người họa sĩ. Anh đang có cuộc triển lãm tranh mang tên “đang trôi” khai mạc từ hôm nay và kéo dài đến hết ngày 24 tháng 7, tại Sài Gòn – một dịp hiếm quý dành cho các độc giả Việt Báo hiện đang có mặt tại Tân Định.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.