Hôm nay,  

Thả gió bay đi nghìn trùng

9/30/202514:53:00(View: 1859)
Nghìn Trùng Xa Cách

Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi

Còn gì đâu nữa mà khóc với cười

  

Ca từ và lời thơ có những đồng điểm. Về mặt sáng tác, ngôn ngữ thơ và ca khúc có thể sử dụng từ lời nói thường ngày, ngôn ngữ bình dân lên đến ngôn ngữ cao cấp như ngôn ngữ văn học và triết học. Ngôn ngữ có khả năng thể hiện qua hiện thực, siêu thực, ấn tượng, tượng trưng hoặc một dạng độc đáo sáng tạo nào khác của tác giả.

Dĩ nhiên, có nhiều bài thơ với lời lẽ và ý tưởng dễ dàng phổ nhạc, thường là thơ tình và không quá cao trong cấp bậc văn học. Ngược lại, nhiều bài nhạc có ca từ có thể trở thành bài thơ và không phải là bài thơ khó. Nói một cách khác, giữa lời thơ và ca từ có một vùng giao thoa, nhưng phần còn lại của thơ thì mênh mông.

Một điểm nhấn khác, ca từ luôn bị giới hạn bởi cấu trúc âm giai của câu nhạc và cấu trúc tổng thể của ca khúc, một loại cấu trúc không có nhiều lựa chọn. Ca từ bị gò bó hơn lời thơ, nhất là thơ tự do. Tuy nhiên, vì bị giới hạn trong cấu trúc âm giai và giai điệu, ca từ có cơ hội biến chuyển ngoạn mục như ca từ của Trịnh Công Sơn hoặc thủ thuật chữ nghĩa như ca từ của Phạm Duy:

“Ta ghì cho tan vỡ trái tim này / Cho người ăn chơi nhíu đôi lông mày … “ Vũ Nữ Thân Gầy. Lời Phạm Duy.

Chữ “ghì” và chữ “nhíu” thật là ấn tượng, thậm chí, làm cho người đọc thấy được hình ảnh cử động.

 

Tuy nhiên, lời thơ không phải là văn xuôi, thơ có tiết tấu và nhịp điệu, kể cả thơ thự do. Những bài thơ có nhịp điệu êm ả và tiết tấu trầm bổng theo luật bằng trắc, nhất là thơ tình, thường rất dễ phổ nhạc, dễ gây cảm tình với người nghe.

Có thể thấy rõ, thơ tình của Du Tử Lê rất dễ phổ thành nhạc vì đã có sẵn âm điệu, giai điệu và ý tưởng dễ nắm bắt. Do đó, có người tuyên bố Du Tử Lê có hơn 300 bài thơ phổ nhạc. Trong khi thơ của Thanh Tâm Tuyền chỉ được dùng vài câu bởi những nhạc sĩ thành danh hàng đầu như Cung Tiến và Phạm Đình Chương. Thơ Tô Thùy Yên chỉ được phổ nhạc bài Ta Về và bài Chiều Trên Phá Tam Giang, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh chỉ phổ nhạc phần sau của bài thơ. Có chút gì khó hiểu phải không?

Đi sâu vào nghiên cứu sẽ nhận ra, thơ càng sâu sắc về ý tưởng, càng trình bày không nhạc điệu, càng khó phổ thành nhạc. Vì vậy, ca từ ít khi đi vào cõi văn học cao và triết lý đậm. Kể cả ca từ của Bob Dylan (Nobel Prize 2016) và của Leonard Cohen, dù được xem là dẫn đầu trong lãnh vực ca từ triết học.

Nhạc sĩ Việt thường có trình độ nhạc lý, nghệ thuật sáng tác nhạc cao hơn trình độ sáng tác ngôn ngữ theo giai điệu. Chúng ta có rất nhiều ca khúc nhạc rất hay nhưng ca từ không tương xứng. Vì khả năng ngôn ngữ giới hạn, nhạc sĩ nỗ lực tìm lời ráp vào âm giai cho nên lời lẽ không suôn, không trơn, sai dấu, không đúng nghĩa, hoặc câu này qua câu kia như người đầu sông, kẻ cuối sông. Mượn thơ làm ca từ phổ nhạc trở thành phổ thông trong giới làm nhạc mà gặp khó khăn khi sáng tác ca từ.

Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc.

“Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.

Đoạn một:

Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi

Còn gì đâu nữa mà khóc với cười

Mời người lên xe về miền quá khứ

Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu

Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt mầu

Sẽ có chẳng nhiều đớn đau

Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu

Có lũ kỷ niệm trước sau

Vài cánh xương hoa nằm ép trong thơ

Rồi sẽ tan đi mịt mù

Vạt tóc nâu khô còn chút thơm tho

Thả gió bay đi mịt mù

 

Đoạn Hai:

Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi

Còn gì đâu nữa mà giữ cho người...

Trả hết về người chuyện cũ đẹp ngời

Chuyện đôi ta buồn ít hơn vui

Lời nói, lời cười

Chuyện ngắn chuyện dài

Trả hết cho người, cho người đi

Trả hết cho ai ngày tháng êm trôi

Đường em đi trời đất yên vui

Rừng vắng ban mai, đường phố trăng soi

Trả hết cho người, cho người đi

Trả hết cho ai cả những chua cay

Ngày chia tay, lặng lẽ mưa rơi

Một tiếng thương ôi, gửi đến cho người

Trả nốt đôi môi gượng cười

 

Đoạn kết:

Nghìn trùng xa cách đời đứt ngang rồi

Còn lời trăn trối gửi đến cho người...

Nghìn trùng xa cách người cuối chân trời

Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người

 

Không có đoạn mở đầu. Phạm Duy bước ngay vào thân bài bằng hai mảnh, có thể coi như hai bài thơ khác nhau, cùng nói về mối tình xa cách nhìn trùng.

 

Mảnh Một.

Phạm Duy vẽ lên một bức tranh hồi tưởng về người yêu với những hình ảnh lãng mạn và thơ mộng, tạo ra cảm giác êm ái cho người thưởng ngoạn và tâm tình đồng cảm với những mối tình đẹp trong quá khứ.

Những tứ thơ biểu tượng như:

Mời người lên xe về miền quá khứ / Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt màu / Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu.

Một luận lý hết mực văn chương. Tính lý luận đã mất hẳn trong cái đẹp của thơ. Điều này chứng minh rằng, trong thơ không chỉ có nhạc, thơ có lý luận (logic) riêng và lý luận này rất khác biệt với lý luận của trí tuệ. Lý luận của thơ là lý luận thẩm mỹ.

Với ba câu này thôi, chúng ta hoàn toàn trở về quá khứ, mơ màng với tình nhân xa xôi.

Vài cánh xương hoa nằm ép trong thơ

Có lẽ, hầu hết chúng ta đã từng ép vào trang vở học trò những bông hoa cành lá kỷ niệm. Thời thơ mộng ấy, lúc nào nhớ lại cũng chạnh lòng. Rồi thời gian qua, thời học trò vùi vào quên lãng. Bỗng một hôm, lục tìm quá khứ, mở cuốn vở xưa, thấy hoa lá cũ chỉ còn là bộ xương khô, thấm máu vào trang giấy trắng, lâu quá rồi, nhạt thành màu nâu lợt lạt. Cảm giác lúc đó, làm sao mà diễn tả. Tất cả những rung động về kỷ niệm, những xúc động về một ai kia, sẽ ngui dần. Rồi cuối cùng, hết sức hư huyền, chúng ta đành “Thả gió bay đi mịt mù.”

 

Mảnh Hai.

Nếu theo dõi giai điệu và hiệu quả sáng tác, chúng ta thấy, nhạc sĩ mở đầu mảnh một trong giọng C Major, tạo một dòng nhạc mượt mà, êm dịu, tạo một không khí lâng lâng nhớ nhung, không quá buồn bã.

Sau khi lập lại, nhắc lại câu “Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi “ Ông nối cái không khí nhẹ nhàng tiếc nuối kia vào một khí hậu khác, trầm lắng hơn, gợi cảm hơn, pha thêm màu buồn với những ca từ trực tiếp chạm vào dĩ vãng bằng giọng C Minor, sau khi, “Còn gì đâu nữa mà giữ cho người.” Thật tài tình.

Ký hiệu “Trả hết” được lập lại năm lần với nghĩa đen gần như muốn dứt khoát với người tình xưa. Tuy nhiên, ở nghĩa ngụ ý, “trả hết” chỉ là một cách nói đau lòng của người không thể nào trở lại quá khứ, không thể nào gần gũi bên người tình dĩ vãng. Trả lại là một cách diễn tả “tiếc nuối mà không biết làm sao”. Vì không thực sự dứt khoát, không thực sự trả lại, cho nên vào lúc cuối, mới “Còn lời trăn trối gửi đến cho người.”

Những câu thơ trong mảnh hai từ “Trả hết về người” trở đi, chúng ta không thấy ẩn dụ, không biểu tượng, chỉ là lời lẽ tâm sự. Mặc dù văn vẻ nhưng thành thật và cảm xúc. Nhất là câu “Đường em đi trời đất yên vui”, nghĩ đến đời sống của người tình xưa giờ đang hạnh phúc với người khác, còn mình thì “Rừng vắng ban mai,” đường phố chỉ còn trăng soi. Có lẽ lòng sẽ chùng xuống, thoáng một chút bóng ghen. 

Hai câu cuối của mảnh hai, nhạc sĩ thật tài tình từ câu”Một tiếng thương ôi, gửi đến cho người” từ giọng buồn thảm, từ ca từ than xót “thương ôi” trong C Minor đột ngột trở về C Major, từ tâm sự buồn bã, vọng lên một thoáng bình tĩnh hơn “Trả nốt đôi môi gượng cười.” Lời tài hoa mà nhạc cũng tài hoa. 

Từ “trả hết” ông đổi sang “trả nốt” tức là trả thêm. Hình ảnh “đôi môi gượng cười,” làm nhẹ nhàng tâm trạng đang ưu tư. Nếu người nghe đang chìm đắm trong những lời nhạc buồn gợi lên trong lòng mỗi người nghe những hình ảnh đẹp của người tình đã không còn hy vọng, sẽ chợt tỉnh dậy với âm điệu Major và hình ảnh gượng cười. Điều sung sướng của những hình ảnh này là dù thời gian dài bao lâu, dù người nghe già bao nhiêu, hình ảnh người tình vẫn trẻ trung, đẹp mãi với thời gian.

 

Mảnh kết.

Vẫn giọng Major, ông đi vào đoạn kết, lập lại, “Nghìn trùng xa cách” nhưng đoạn lìa với “đời đứa ngang rồi.” Nhưng đẹp nhất, khuây khỏa nhất là câu cuối “Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người.”  Phạm Duy phong lưu, tuy vậy chẳng những ông có tấm lòng với phụ nữ, với âm nhạc, ông còn có tấm lòng với nước non.

Ca khúc “Nghìn Trùng Xa cách” có lẽ sẽ tồn tại với người hát, với lịch sử âm nhạc Việt. Cho dù mai sau, không còn ai hát nữa, nhưng chắc chắn nếu còn con người thì còn nhìn trùng xa cách.  

 

Ngu Yên.
Houston. Tháng 8, 2025

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
Chiều thứ Bảy 23 tháng 8 sắp tới đây, chúng ta sẽ được xem màn trình diễn Hợp Xướng "Chinh Phụ Ngâm" lần đầu tiên ở Hoa Kỳ. Nhà hát Rose Center Theater chuyên dùng cho các buổi hoà nhạc hay nhạc kịch ở Quận Cam sẽ là nơi vở hợp xướng trang trọng này được diễn ra. Cùng với màn hợp xướng, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng sẽ giới thiệu Chương Trình Ca Vũ Nhạc Kỷ Niệm 50 năm viễn xứ "Cánh cò xa xứ" tại đây. Rất phấn khởi với tin tức này, tôi lại có cơ duyên quen biết và tiếp xúc với Nhạc Sĩ Vũ Đình Ân, tôi tìm gặp ông để tìm hiểu thêm về vở hợp xướng "Chinh Phụ Ngâm".
TÔI LÀ AI? Dường như mãi mãi là một câu hỏi cho cuộc sống của con người tại thế. Và câu trả lời của nó, hẳn nhiên, không thể và không chỉ là một cụm từ, cho dù có thể sâu xa đến đâu. Phùng Thanh Hà, một phụ nữ tôi quen biết, tuy cùng ở một thành phố nhưng phải đánh một vòng đến Thuỵ Sĩ, qua một người bạn (đạo diễn Síu Phạm), tôi mới gặp được cô ấy. Tôi kể điều này để muốn nói rằng, tương ngộ là tuỳ duyên, không chỉ trong các mối quan hệ mà còn là những vấn đề liên quan, những cơ sự sắc tướng hoặc vô sắc tướng nơi mỗi cá nhân.
Độc giả Việt Báo hẳn đã quen với Bùi Chát – nhà thơ – qua nhiều thi phẩm đặc sắc từng đăng tải trên trang báo này suốt bao năm qua. Tuần rồi, Việt Báo vừa giới thiệu tập thơ mới Chúng Ta Đang Trôi Đi Đâu với bài viết của Nguyễn Đức Tùng. Hôm nay, mời bạn đọc gặp lại một Bùi Chát - người họa sĩ. Anh đang có cuộc triển lãm tranh mang tên “đang trôi” khai mạc từ hôm nay và kéo dài đến hết ngày 24 tháng 7, tại Sài Gòn – một dịp hiếm quý dành cho các độc giả Việt Báo hiện đang có mặt tại Tân Định.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.