Hôm nay,  

Điểm Nóng Dioxin Ở Việt Nam

8/19/200600:00:00(View: 9443)

Vào ngày 12 tháng 7 năm 2006 vừa qua, Ban chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, thường được gọi là Ban chỉ đạo 33, thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, đã tổ chức một cuộc tọa đàm tại Hà Nội để bàn về phương hướng và giải pháp khắc phục hậu quả mà chánh phủ Việt Nam cáo buộc là do các chất hóa học mà quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã sử dụng trong cuộc chiến Việt Nam gây ra.  Một trong những phương hướng khắc phục được thảo luận là việc tẩy độc một số điểm nóng nhiễm chất da cam/dioxin, mà điển hình là các phi trường Đà Nẵng, Biên Hòa, và Phú Nhuận (tức Phù Cát). 

Để tìm hiểu thêm chi tiết về các điểm nóng nhiễm chất da cam/dioxin ở Việt Nam cũng như các giải pháp tẩy độc được bàn luận trong cuộc tọa đàm nầy, chúng tôi có trao đổi với Kỹ sư (KS) Nguyễn Minh Quang, một chuyên viên thuộc Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.  Ông rất quan tâm và thường xuyên theo dõi những diễn tiến liên quan đến sự hiện diện và ảnh hưởng của các hóa chất độc hại đối với môi trường và sức khỏe của người dân ở Việt Nam.  Xin mời quý thính giả theo dõi.

 - Hỏi: Trước hết, KS vui lòng giải thích cho quý thính giả của đài Á Châu Tự Do biết về những điểm nóng nhiễm chất da cam/dioxin ở Việt Nam.

- Đáp: Dạ thưa, danh từ "điểm nóng" được dịch sát nghĩa từ danh từ "hotspots" của tiếng Anh.  Trong khoa học về môi trường, điểm nóng được dùng để chỉ một vùng có phạm vi giới hạn nhưng mức độ ô nhiễm rất cao so với mức độ ô nhiễm có nguy cơ hủy hoại môi trường hoặc sinh vật trong một thời gian rất ngắn.  Ở Việt Nam, những điểm nóng nhiễm chất da cam/dioxin được xác định qua lý thuyết (theory) của Hatfield Consultants, một công ty (CT) cố vấn về môi trường ở Vancouver, Canada, và qua kết luận của Bác sĩ (BS) Arnold Schecter của Trường Y tế Công cộng thuộc Đại học Texas-Houston ở Dallas, Texas.  Theo lý thuyết của CT Hatfield, những điểm nóng nhiễm chất da cam/dioxin là những căn cứ quân sự cũ của quân đội Hoa Kỳ đã từng tàng trữ, phân phối, bị phun xịt, và rò rỉ chất da cam; và người dân địa phương có thể bị tiếp nhiễm vì mức độ ô nhiễm dioxin ở các căn cứ quân sự cũ nầy cao nhất.  Theo BS Schecter, những điểm nóng nhiễm chất da cam/dioxin là những nơi mà dioxin trong thực phẩm hoặc trong máu của cư dân có nồng độ rất cao so với thực phẩm và cư dân ở những nơi khác.

- Như vậy, có bao nhiêu điểm nóng nhiễm chất da cam/dioxin đã được xác định ở Việt Nam, thưa KS"

-  Tôi không có con số chính xác nhưng tôi nghĩ rằng, không một ai, kể cả các cơ quan chức năng Việt Nam và các chuyên viên hoặc cơ quan nghiên cứu quốc tế, biết một cách chính xác số điểm nóng ô nhiễm chất da cam/dioxin ở Việt Nam.  Còn những con số mà tôi được biết thì không giống nhau.  Theo BS Schecter thì có khoảng 10 điểm, đài BBC thì nói có 12 điểm, các viên chức có thẩm quyền của Việt Nam thì nói có khoảng 30 điểm, còn CT Hatfield của Canada thì nói hơn 50 điểm.  Điều nầy cũng dễ hiểu, vì tất cả các con số nầy là những con số phỏng đoán mà thôi.

- Trở lại với cuộc tọa đàm ở Hà Nội ngày 12 tháng 7 vừa qua, Tiến Sĩ (TS) Nguyễn Tiến Dũng, đại diện Ban chỉ đạo 33 cho biết, vào đầu năm 2007, sẽ tiến hành tẩy độc ba điểm nóng nhiễm chất da cam/dioxin nằm trong khu vực phi trường quân sự Đà Nẳng, Biên Hòa, và Phù Cát.  KS có thể cho Quý thính giả biết thêm chi tiết về ba điểm nóng nầy không"

 -  Dạ thưa phi trường Đà Nẳng, Biên Hòa, và Phù Cát là ba trong số năm phi trường dùng làm nơi phát xuất các phi vụ khai quang trong cuộc chiến Việt Nam, trong đó có phi trường Tân Sơn Nhứt và Nha Trang.  Theo tin tức đăng tải trên báo Lao Động ngày 13 tháng 7 năm 2006, thì khu vực phi trường Đà Nẳng được xem là "điểm nóng nhất" vì có đến 85.000 m3 đất bị ô nhiễm dioxin với nồng độ trung bình là 10.000 phần ức hay ppt (parts per trillion).  Nhưng nồng độ nầy thì không phù hợp với con số vài trăm ngàn ppt mà các nhà khoa học Việt Nam đã thông báo với TS Dwernychuk của CT Hatfield trước đây.  Tôi cũng không hiểu tại sao dioxin được tìm thấy ở khu vực phi trường Đà Nẵng với nồng độ cao như vậy, bởi vì theo tài liệu vừa được Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ giải mật, không có một vụ rò rỉ nào xảy ra ở bên trong phi trường Đà Nẳng mà chỉ có những thiệt hại cây cối và hoa màu ở một vài khu vực bên ngoài phi trường do việc sử dụng thùng rỗng không đúng cách được báo cáo.  Hơn thế nữa, nồng độ dioxin ở đây rất thấp so với nồng độ 1.160.000 ppt mà BS Lê Cao Đài tìm thấy ở phi trường Biên Hòa vào năm 1999.

-  Còn điểm nóng ở khu vực phi trường Biên Hòa thì sao, thưa KS"

-  Cũng theo báo Lao Động, phi trường Biên Hòa có khoảng 90.000 m3 đất bị ô nhiễm dioxin với nồng độ trung bình là 6.000 ppt.  Nhưng theo kết quả nghiên cứu năm 1999 của BS Lê Cao Đài, 3 trong 4 mẩu đất thu thập ở đây có nồng độ dioxin rất cao: 1.160.000 ppt, 606.969 ppt, và 10.580 ppt.  Theo tài liệu vừa được Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ giải mật thì các loại thuốc khai quang như chất da cam, trắng, và xanh được tìm thấy dọc theo đường thoát nước và một bàu nước (swamp) cạnh khu vực dành cho chiến dịch Ranch Hand ở phi trường Biên Hòa.  Nhưng quan trọng nhất có lẽ là chất da cam qua vụ rò rỉ xảy ra ngày 1 tháng 3 năm 1970 khiến khoảng 7.500 gallons bị thất thoát qua một lỗ thủng trên đường ống ngầm dùng để bơm chất da cam từ bồn chứa ra máy bay.  Kết quả nghiên cứu trong tháng 4 năm 1970 cho thấy nồng độ cao nhất của chất da cam ở trong đất nơi rò rỉ là 106.100.000 ppt.  Nếu chất da cam có chứa 50 phần triệu (hay ppm) chất dioxin, thì nồng độ cao nhất của dioxin ở trong đất nơi ngay nơi rò rỉ là 5.305 ppt vào năm 1970 và chỉ còn khoảng 660 ppt vào năm 1999 nếu thời gian bán hủy của dioxin là 10 năm.

-  Theo chỗ chúng tôi được biết, vào ngày 10 tháng 7 năm 2001, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh Bình Định là ông Vũ Hoàng Hà đã yêu cầu Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh phối hợp cùng tiểu đoàn 906 thuộc Bộ Tư lệnh Hoá học và các cơ quan liên hệ tiến hành khảo sát chi tiết, lập phương án xử lý cụ thể hầm chứa chất độc hoá học tại khu vực 8 phường Bùi Thị Xuân mà Ông cho là "vùng đất bị ô nhiễm chất độc da cam nguy hiểm nhất."  Đây có phải là điểm nóng thứ ba được đề cập đến trong cuộc tọa đàm ngày 12 tháng 7 không, thưa KS"

-  Ông Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định có lẽ đã "đồng hóa" tất cả các hóa chất với chất da cam, vì hóa chất ở khu vực 8 phường Bùi Thị Xuân được Bộ Tư lệnh Hóa học xác định là hơi cay CS thường dùng để kiểm tra các hầm bí mật và giải tán biểu tình phản chiến hay chống đối chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa trong thời chiến tranh.  Còn điểm nóng được đề cập trong cuộc tọa đàm nằm trong khu vực phi trường Phù Cát, mà theo báo Lao Động, có 40.000 m3 đất bị ô nhiễm dioxin với nồng độ trung bình là 1.500 ppt.  Theo tài liệu vừa được Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ giải mật thì không có một vụ rò rỉ chất da cam nào xảy ra trong phi trường Phù Cát cả.

-  KS có nhận xét gì về việc xác định các điểm nóng ô nhiễm dioxin ở phi trường Đà Nẵng, Biên Hòa, và Phú Cát"

- Tôi không có kết quả nghiên cứu chi tiết về việc xác định các điểm nóng ô nhiễm dioxin ở ba phi trường Đà Nẵng, Biên Hòa, và Phù Cát; nhưng dựa theo những gì được Ban chỉ đạo 33 công bố, thì việc xác định nầy rất đáng nghi ngờ vì nó không phù hợp, nếu không muốn nói là mâu thuẫn, với dữ kiện đã biết từ trước.  Dường như những con số về mức độ ô nhiễm dioxin được đăng tải trên báo Lao Động chỉ là những con số phỏng đoán rất thô sơ; do đó, Ban chỉ đạo 33 đã lên kế hoạch để "khoanh vùng chính xác các khu vực bị nhiễm dioxin tại ba điểm nóng" như TS Nguyễn Tiến Dũng cho biết trong cuộc tọa đàm tại Hà Nội vào ngày 12 tháng 7 vừa qua.

-  Theo tin tức đăng tải trên mạng Netnam ngày 18 tháng 7 năm 2006, muộn nhất là vào đầu năm 2007, Bộ Quốc phòng Việt Nam sẽ tiến hành tẩy độc ba điểm nóng ô nhiễm dioxin ở phi trường Đà Nẵng, Biên Hòa, và Phú Cát bằng phương pháp chôn lấp tích cực.  KS có nhận xét gì về việc tẩy độc nầy"

-  Theo tôi, dường như Ban chỉ đạo 33 đang đặt cái cày trước con trâu khi tiến hành việc tẩy độc ba khu vực trong phi trường Đà Nẳng, Biên Hòa, và Phù Cát.  Mặc dù chưa biết một cách chính xác mức độ và phạm vi bị ô nhiễm dioxin và cũng chưa có tiêu chuẩn về nồng độ cho phép của dioxin trong đất để ấn định phạm vi ô nhiễm và để ấn định tiêu chuẩn cho việc tẩy độc, Bộ Quốc phòng Việt Nam đang lên kế hoạch để thực hiện việc tẩy độc.  Vì thiếu dữ kiện căn bản tối cần thiết, kế hoạch tẩy độc ở khu vực phi trường Đà Nẵng, Biên Hòa, và Phù Cát của Bộ Quốc phòng Việt Nam có thể sẽ không mang lại kết quả mong muốn vì tẩy độc không đúng chỗ hoặc không đúng phương pháp.

- Như vậy, theo KS, Ban chỉ đạo 33 phải làm gì để việc tẩy độc chính xác và có kết quả tốt"

- Việc đầu tiên là ấn định nồng độ cho phép của dioxin cho mỗi loại đất khác nhau, như đất dùng cho nông nghiệp, kỹ nghệ, thổ cư, khu quân sự, rừng, vân vân.  Nồng độ nầy phải dựa trên kiến thức mới nhất về ảnh hưởng của dioxin chứ không thể tiếp tục dùng con số 1.000 ppt được ấn định hơn 2 thập niên về trước.  Sau đó, một cuộc nghiên cứu chi tiết và kỹ lưỡng cần phải được thực hiện để ấn định chính xác phạm vi ô nhiễm cũng như thu thập tài liệu cần thiết để quyết định xem tẩy độc có cần thiết hay không, và nếu có, thì phương pháp nào là thích hợp và khả thi nhất.  Nhà cầm quyền Việt Nam nên hợp tác với Hoa Kỳ trong việc nghiên cứu nầy vì nó nằm trong khuôn khổ mà hai phía đã thỏa thuận sau hội nghị khoa học về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin đối với sức khỏe và môi trường ở Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội vào đầu tháng 3 năm 2002.  

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.