Hôm nay,  

Hiệu Năng Đầu Tư Tại Vn

15/06/200500:00:00(Xem: 11513)
Trích dẫn một báo cáo của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, báo chí Việt Nam nhận định rằng Việt Nam là nơi thu hút đầu tư hấp dẫn cho doanh nghiệp Nhật nhờ nhân công rẻ hơn cả. Có thật không"
Diễn đàn Kinh tế đài RFA trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về ưu thế ấy trong mục chuyên đề hàng tuần do Việt Long thực hiện sau đây.
Hỏi: Trong số ra Thứ Hai 13, báo "Đầu tư" của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam có trình bày một báo cáo của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật về cơ hội đầu tư ra nước ngoài cho các doanh nghiệp Nhật Bản, theo đó, Việt Nam được đánh giá cao về khả năng thu hút đầu tư nhờ giá nhân công lao động rẻ nhất. Xin ông cho biết chi tiết về báo cáo này.
-- Thưa đây là một báo cáo được trình bày trong một hội nghị của Ủy ban Phối hợp đầu tư giữa tổ chức ASEAN và Nhật Bản, mới được tổ chức tháng trước tại Vientiane. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật có làm một cuộc khảo sát về xu hướng đầu tư quốc tế và Nhật Bản trong đó có cả những lượng định về ưu thế đầu tư vào khu vực ASEAN, gồm 10 nước Đông Nam Á, trong đó Việt Nam được đánh giá là hấp dẫn nhờ lương bổng nhân công rẻ nhất.
Tiêu chuẩn để đánh giá lợi thế về đầu tư
Hỏi: Thưa ông, Nhật Bản dựa trên những tiêu chuẩn nào để đánh giá lợi thế về đầu tư"
-- Trước khi trả lời, tôi xin được nói ngay là bản báo cáo nhắm vào mục tiêu gì" Đó là phân tách những lợi hại của họ khi chọn nơi đầu tư ra nước ngoài, căn cứ trên quyền lợi của doanh nghiệp hay kinh tế quốc gia, trường hợp ở đây là Nhật Bản. Như vậy, ta cũng cần lật ra mặt trái của vấn đề để suy nghĩ về quyền lợi của mình khi tiếp nhận đầu tư ố tức là đánh giá hiệu quả của đầu tư. Các nước sở dĩ đầu tư ra ngoài để kiếm lời và cân nhắc lợi ích trên ba hướng, thứ nhất là nhân công rẻ, thứ hai là nơi đầu tư ấy có thể là cơ sở sản xuất để tái xuất khẩu ra ngoài hay không, và thứ ba là thị trường nội địa của xứ ấy có tiềm năng cao hay thấp.
Những ưu thế đáng kể
Hỏi: Như vậy thì Việt Nam cũng có những ưu thế đáng kể phải không"
-- Việt Nam cứ ưa suy nghĩ trên một khía cạnh mình cho là có ưu thế, đó là nhân công rẻ, nhưng tâm lý ấy thực ra có thể gây phản ứng bất lợi trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài. Như ta đã đề cập đến kỳ trước khi nói về công nghệ tin học, thiên hạ có đánh giá Việt Nam là nơi có lợi vì lương bổng thấp nhưng khi cần đặt làm gia công thì họ vẫn chọn xứ khác, như Ấn Độ hay Trung Quốc, vì nhân công chuyên môn nơi ấy có tay nghề cao hơn và số lượng lớn hơn. Nói chung, các nước công nghiệp sở dĩ đầu tư ra ngoài không chỉ vì tìm nguồn sản xuất rẻ nhờ lương bổng thấp mà chủ yếu là tìm thị trường có tiềm năng tăng trưởng cao. Tuyệt đại đa số đầu tư của doanh nghiệp Mỹ ra nước ngoài chẳng hạn, lại nhắm vào các nước công nghiệp khác có khả năng tiêu thụ cao. Vì vậy, yếu tố thị trường nội địa của mình cũng quan trọng, khi dân số Việt Nam đã vượt quá 80 triệu, và vì nằm trong khu vực có hoạt động mậu dịch mạnh nhất nên Việt Nam có thể là bàn đạp giúp cho nhà đầu tư tái xuất khẩu ra ngoài. Về hai tiêu chuẩn sau này, là thị trường nội địa và tiềm năng xuất khẩu, thì Việt Nam vẫn còn thua kém. Và khi nhìn ngược về quyền lợi của mình, ta cần đánh giá lại hiệu năng đầu tư của xứ khác.
Kết quả đầu tư
Hỏi: Thưa vâng, đề cập tới hiệu năng đầu tư ấy, ông đánh giá ra sao về kết quả đầu tư này"
-- Là một nước nghèo, phát triển chậm hơn các xứ khác, Việt Nam cần thu hút đầu tư của nước ngoài, như một đòn bẩy cần thiết cho việc phát triển kinh tế và xã hội. Nói đến đầu tư, ta không chỉ nhìn vào tư bản hay tiền bạc đo đếm được - tức là nhìn vào lượng - mà còn phải kể đến loại yếu tố vô hình là công nghệ hay kỹ thuật, là kiến năng về tổ chức và quản trị, là năng suất lao động - xin tạm gọi là phẩm. Nói về lượng thì 10 năm trước, Việt Nam đã hy vọng là tư bản nước ngoài có thể góp tới 40% yêu cầu về đầu tư của mình, thời đó được ước lượng là 40 tỷ Mỹ kim trong năm năm, từ 1996 đến năm 2000, trung bình là phải bảy, tám tỷ một năm. Kết cuộc không được vậy, tổng cộng chỉ có 14 tỷ, bình quân chỉ có dăm ba tỷ, mà số thực hiện - tức là được giải ngân, được bơm vào nền kinh tế - lại còn thấp hơn nữa.

Tình hình có khả quan
Hỏi: Nhưng sau đó, chắc hẳn là tình hình có khả quan hơn chứ"
-- Thực ra, qua thế kỷ 21, sau khi Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ được ký kết, giới đầu tư lại có một thời hồ hởi với triển vọng kiếm lời ở Việt Nam và sau đó lại thất vọng vì kết quả cũng không hơn năm năm trước. Giờ đây với chuyến thăm viếng Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải, dư luận lại mơ ước là đầu tư nước ngoài, nhất là của Hoa Kỳ, sẽ ào ạt trút vào Việt Nam. Nói riêng về đầu tư của Mỹ thì năm ngoái chưa đạt được 70 triệu, phần lớn trong ba trăm công ty Mỹ đã đầu tư vào Việt Nam đều là doanh nghiệp nhỏ, dự án ít tiền. Nhiều người cố nặn trong thống kê về đầu tư của Mỹ vào Việt Nam vài yếu tố tích cực, như chi nhánh của các tập đoàn lớn của Mỹ tại Singapore hay Hàn Quốc cũng đầu tư vào Việt Nam nhưng lại được ghi là của Á châu. Thực ra, nhìn trên đại thể thì đó vẫn là mối lợi cho mấy xứ châu Á đó chứ chưa phải là mối lợi cho Việt Nam, vì Mỹ dùng đầu cầu Á châu đầu tư vào Việt Nam chứ không phải dùng Việt Nam làm cơ sở đầu tư ra các xứ châu Á khác. Đấy là ta nói về lượng, về phẩm thì kết quả còn nghèo nàn hơn.
Tác dụng của đầu tư
Hỏi: Ông đánh giá thế nào về tác dụng của đầu tư trên các mặt ông gọi là vô hình đó"
-- Một tác dụng mình thấy ngay là nhờ khoản đầu tư bổ sung cho nguồn tư bản còn khan hiếm của xứ mình, doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoại quốc đã tạo thêm công ăn việc làm và nâng cao khả năng sản xuất của Việt Nam.
Cụ thể là gần một triệu người đã có công ăn việc làm liên hệ đến khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực ấy đóng góp vào khoảng 30% của sản lượng kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, ta không nên hài lòng với kết quả ấy vì những tác dụng khác của đầu tư nước ngoài vẫn còn rất thấp.
Thiết thực nhất cho trình độ kỹ thuật và công nghệ còn thấp của Việt Nam là kiến năng về sản xuất, tổ chức hay tiếp thị, thì ta chưa học được gì nhiều. Nôm na là sức chuyển giao công nghệ còn quá thấp của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho các doanh nghiệp Việt Nam, mà thấp nhất chính là doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam, vốn lại là một đầu cầu ưu tiên - vì lý do chính sách và chính trị - để tiếp nhận đầu tư nước ngoài.
Lợi thế về gia tăng năng suất lao động
Hỏi: Thưa ông, thế còn lợi thế về gia tăng năng suất lao động nhờ đầu tư nước ngoài"
-- Thưa vâng, ở một trình độ thấp hơn, tức là năng suất lao động, thì kết quả cũng không cao và điều ấy khiến sự chuyển dịch lao động từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài qua doanh nghiệp nội địa cũng không đáng kể.
Điều tai hại vô hình khác là vì chính sách kinh tế của Việt Nam vẫn là tìm cách thay thế hàng nhập khẩu cho nên đa số đầu tư nước ngoài lại trút vào các ngành được bảo vệ, hay bảo hộ, và vì vậy mà không có khả năng cạnh tranh để tái xuất khẩu ra ngoài, vốn dĩ là một trong ba tiêu chuẩn chọn lựa mà báo cáo của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản đã nói tới. Tôi tin rằng giới chức về kinh tế của Việt Nam có thấy ra các nhược điểm ấy chứ chẳng phải là không thấy, nhưng việc cải sửa thường rất khó và rất lâu, trong khi ấy, dư luận chỉ có ấn tượng cảm quan đầy lạc quan về đầu tư nước ngoài.
Hiệu năng đầu tư nước ngoài
Hỏi: Và ông kết luận như thế nào về hiệu năng đầu tư nước ngoài cho tăng trưởng kinh tế"
-- Với tất cả những hạn chế như vừa nói, đầu tư nước ngoài vẫn có những đóng góp đáng kể vào đà tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, nhưng chưa đóng góp đúng mức cho yêu cầu phát triển về kinh tế và xã hội. Muốn khai thác được đòn bẩy ấy thì cũng phải có trình độ và khả năng tối thiểu về phần nhân công và trình độ giáo dục đào tạo và đừng nên tự ru ngủ rằng mình có lợi thế nhất thiên hạ vì có lương bổng thấp. Điều ấy chả có lợi gì cho lợi tức của nhân công Việt Nam mà chỉ vây hãm kinh tế nước nhà trong phần vụ làm gia công cho thiên hạ, ở loại ngành nghề có trình độ chuyên môn thấp, tức là mình chưa làm chủ được những quyết định kinh tế của mình. Đấy là một khía cạnh rất quan trọng về chủ quyền kinh tế mà mình không để ý tới. Và nếu so với các nước châu Á khác thì dù đã đổi mới, Việt Nam vẫn đang tụt hậu.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.