Hôm nay,  

Những Bản Tình Ca Vượt Thời Gian

06/08/201900:00:00(Xem: 4405)
“ Âm nhạc tô màu cho cuộc sống nhàm chán này.”

     Để nhắc lại cho các bạn yêu nhạc ngoại quốc, nhất là nhạc Mỹ của những thập niên trứơc, mình xin ghi lại vài bài tình ca gọi là ‘tiêu biểu’  làm mình say mê mỗi khi nghe lại, và gợi lên trong ký ức mình những ngày tháng và phút giây bị quyến rũ của Thần Âm nhạc.

  Trước tiên xin nói về bài tình ca rất dễ thương của thập niên sáu mươi làm rung động biết bao con tim trẻ thời đo,ù The End Of The World, do nữ ca sĩ Skeeter Davis diễn tả tình cảm đau buồn của một cô gái coi như là thế giới này không còn nữa  khi người yêu không con thương mình nữa.  Xin được phóng dịch sau đây:

...  Tại sao mặt trời vẫn chiếu sáng?  Tại sao sóng biển vẫn vỗ vaò bờ? Chúng có biết rằng thế giới này không còn khi anh không còn yêu em nữa.

Tại sao chim vẫn tiếp tục hót?  Tại sao ngôi sao chiếu sáng trên trời?  Chúng có biết không thế giới đã tận cùng.  Nó đã tận cùng khi em mất tình yêu của anh.

   Buổi sáng tôi thức dậy và tự hỏi, tại sao mọi sự vẫn không có gì thay đổi.  Tôi không hiểu được, không, tôi không hiểu đựợc, tại sao cuộc sống vẫn  đều trôi như vậy.

Tại sao trái tim em vẫn đập.  Tại sao mắt em lại đổ lệ.  Chúng có biết là thế giới này không còn nữa khi anh nói lời giả từ...
  Lời than thở này chỉ giản dị có thế thôi, nhưng qua giọng ca của S. Davis , người nghe cũng phải mủi lòng vì cảm thương cho một mất mát lớn khi tình yêu đã ra đi.

(Bạn có thể vào Youtue bấm: The End Of The World skeeter davis, để thưởng thức bài tình ca này.

Năm 1957, Terry Gilkyson, F. Miller, và R. Dehr viết bài ca nổi tiếng: Green Fields sau đó được hát bằng  nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Nga, Thuỵ điển, Tiệp khắc, Đan mạch và các nước ở Á Âu.  Bài ca này được nổi tiếng rộng như vậy nhờ ở kỹ thuật hoà ca siêu đẳng của ban tứ ca lừng danh The Brother Four của ĐH Washington diễn tả. Lời ca đượm nỗi sầu man mác của một chàng trai mỗi khi nhìn lại những cánh đồng xanh  từng lang thang với người tình của mình ngày nào lại nhớ đến người yêu mình đã bỏ ra đi biệt tăm.   Ban ‘ Tứ Huynh Đệ’ này là trong nhóm Huynh Đệ của trường ĐH Washington, Seattle thành lập năm 1956 đã hoạt động 60 năm trong lãnh vực ca nhạc, và được xem như là tiêu biểu cho phong trào “Nhạc Dân ca Phục hưng” hiện họ vẫn còn trình diển trên sân khấu.  Ban tứ ca này sử dụng đàn guitars thùng, đàn banjo, đàn mandolin và cây đàn bass đứng, loại cổ điển. Bài này trước kia đã được người bạn bậc thầy nhạc trẻ thời bảy mươi của mình là Lê Hựu Hà viết sang lời Việt, và trình bày với ban nhạc Mây Trắng/Phượng Hoàng của anh.  Sau đây là lời phóng tác:

... Khi xưa có những cánh đồng xanh chan hòa trong ánh nắng.  Khi xưa có bầu trời xanh với mây trắng ở mãi tít trên cao.  Khi xưa chúng là một phần của một tình yêu sống mãi.  Chúng ta là những nhân tình đi lang thang khắp cánh đồng. 
  Giờ đây đồng xanh không còn nữa, cháy khô bởi ánh mặt trời. Không còn nữa nơi thung lũng mà con sông thường chảy qua.  Đi theo cơn gió thổi vèo vào trái tim tôi. Đi theo những tình nhân  để cho uớc mơ của mình cất bước ra đi.   Đâu là những cánh đồng xanh mà chúng ta thường rảo bước lang thang?

  Anh không bao giờ biết tại sao em lại ra đi. Làm sao anh mãi tìm kiếm khi mây mù che mất lối đi.  Ôi, anh chỉ biết ở đây không còn gì cho anh.  Không còn gì còn lại trên thế giới này cho anh nữa.

       Nhưng anh sẽ tiếp tục chờ cho đến khi em trở lại.  Anh tiếp tục chờ cho đến khi em nhận ra được là ...em không thể nào có hạnh phúc khi em cứ mãi lang thang. Em không thể nào sung sướng cho đến khi em đem tình yêu trở lại chốn này một lần nữa ...nơi của những cánh đồng xanh và anh...

(Mời bạn vào Youtube bấm: Green Field The Brother Four để thưởng thức bài hoà ca ngoại hạng cuả bộ tứ The Brother Four kỳ cựu của nhạc loại folk này.

    Bài tình ca sau đây có số bán chạy nhất cho đến nay vì vừa hay cả nhạc lẫn lời,  được trình bày qua giọng ca truyền cảm vô cùng của ca sĩ mù da đen nổi danh trên thế giới là Stevie Wonder.  Bài ca này đứng đầu trong số 19 bài ca hay nhất và đã được thưởng giải Golden Global Award và giải âm nhạc Academy Award cho bài ca sáng tác hay nhất, I Just Call To Say I Love You.  Bài còn đứng đầu trong danh sách 100 bản nhạc hay nhất và được coi như là một trường hợp độc nhất.  Stevie dùng phép ẩn dụ rất khéo để diễn tình cảm của mình, luôn nghĩ đến người yêu bằng đặc tính tượng trưng của mỗi mùa trong năm và những ngày lễ lớn như Halloween hay Christmas.  Để nói lên tình yêu đậm đà đó, và đời mình thật trống rỗng và vô nghĩa khi không có nó, Stevie đã thể hiện qua việc gọi điện thoại chỉ nói lên ba tiếng: “Anh yêu em”   phát ra từ tận đáy lòng mình.  Sau đây là lời phóng dịch bài tình ca tuyệt tác “ I Just Call To Say I Love You” :


… Không còn Ngày Đầu Năm để ăn mừng.  Không còn kẹo sô-cô-la hình trái tim để tặng.  Không cò ngày đầu của mùa Xuân và không còn bài ca để hát.  Thực ra, chỉ là một ngày bình thường như mọi ngày. 

  Không còn mưa của tháng Tư.  Không còn hoa nở.  Không còn đám cưới vaò Thứ Bảy trong tháng Sáu.  Nhưng chỉ có điều thật sự để tạo thành ba tiếng mà anh phải nói với em.  Anh gọi để chỉ nói anh yêu em.  Anh chỉ gọi để nói anh nghĩ nhiều anh chỉ gọi để nói anh yêu em  và thành thật từ đáy lòng của anh.

Không còn trời nóng của muà hạ. Không còn nắng ấm của tháng Bảy.  Không còn trăng tròn để chiếu sáng đêm tháng Tám dịu dàng.

Không còn cơn gío lạnh nhẹ của mùa Thu.  Không còn lá rơi. Không còn lúc để chim bay về trời hướng ấm trời nam. Không còn mặt trời cuối tháng Chín. Không còn lễ Halloween.  Không còn tạ ơn cho những niềm vui Giáng Sinh đem lại. Nhưng đây thật là điều tuy cũ nhưng vẫn như mới làm đầy tim em mà không có ba tiếng nào làm được ngoài ba tiếng, “Anh yêu em” phát đi từ đáy lòng của anh.

(Xin mời bạn vào Youtube bấm: I Just Call To Say   Stevie Wonder để thưởng thức bài tình ca thật hay và thật đẹp này qua giọng ca thiết tha của ca sĩ khiếm thị lừng danh Stevie Wonder.

     Để nói lên sự nghi ngờ của mình về lòng chung thuỷ của người yêu, bài ca “Suspicion” đã nói lên hết được điều đó qua sự trìng bày của ca sĩ Terry Stafford hồi thập niên sáu mươi và sau đó được vua nhạc rock là Elvis Presly là sống lại tại sân khấu ở Las Vegas.  Bài ca này nổi tiếng có lẽ nhờ sự diển tả của các ca sĩ và phần nhạc đệm rất xuất sắc, nhất là lần diễn ca nguyên thủy của Terry Stafford với khúc dạo đầu bằng keyboard ‘ nhức tim’ không thể nào quên được.  Xin được giới thiệu với các bạn sau đây:

... Mỗi khi em hôn tôi, tôi vẫn không chắc là em yêu tôi.  Mỗi khi em ôm tôi, tôi không chắc là em có thật lòng hay không.  Dù cho em cứ nói mãi là em thật sự, thật lòng yêu anh nhưng em có nói cùng lời đó cho người khác khi không có mặt tôi?

Sự nghi ngờ dày vò trái tim tôi
Sự nghi ngờ làm chúng ta cách xa nhau
Sự nghi ngờ ...tại sao em lại hành hạ anh?

Mỗi khi em gọi tôi và bảo là mình sẽ gặp nhau ngày mai.  Tôi không thể nào không nghỉ là em đang gặp người nào đó đêm nay.  Tại sao chuyện tình của chúng ta cứ tiếp gây cho tôi mối khổ sầu đó. Tại sao tôi nghi ngờ quá mỗi khi em không ở bên tôi?

 Sự nghi ngờ dày vò trái tim tôi... Sự nghi ngờ... Sư nghi ngờ...

  Em yêu, nếu em yêu tôi, xin em đợi thêm chút nữa.  Chờ cho đến khi anh đánh đuổi hết những lo sợ ngu ngốc đó ra khỏi tâm trí mình.  Tại sao chuyện tình của chúng ta lại không ngày càng lớn mạnh.  Có lẽ vì tôi nghi ngờ vì tình yêu chân thật rất khó tìm.

Sư nghi ngờ dày vò trái tim tôi... Sư nghi ngờ làm cách xa chúng ta...

(Mời bạn vào Youtube bấm:  Suspicion terry stafford hay nếu bạn là fan của Elvis Presley thì bạn bấm vào: suspicion elvis presley, để thưởng thức bài tình ca diển tả rất trung thực về sự nghi ngờ trong tình yêu.

     Vào thập niên năm mươi, có ban hoà ca ngừơi da đen tên The Platters, thành lập năm 1953 với giọng ca chính tenor là Tony Williams đã đưa ban vào danh sách 40 bài ca hay trên Billboard Hot 100  từ 1955-67,  và được bốn lần lên hạng đầu và có lần được xem là ban hợp ca thành công nhất trên thế giới.  Một trong những bài ca nổi tiếng nhất của ban hợp ca này là Only You, do B. Ran và Ande Rand viết.  Bài ca này nói lên địa vị độc tôn của người yêu trong trái tim mình mà qua giọng ca lảnh lót của Tony Williams đã khiến nhạc phẩm này trở nên ‘bất tử’.  Xin được giới thiệu đến bạn bài Only You qua lời phóng dịch sau đây:

... Chỉ có em làm thế giới này tươi đẹp.  Chỉ có em có thể đem lại ánh sáng thay bóng tối đen. Chỉ có em, một mình em, có thể làm cho anh rung động được như vậy. Và làm đầy trái tim anh với tình yêu chỉ dành cho em.

Chỉ có em làm tất cả những thay đổi trong anh.  Và  sự thật, em là định mệnh của anh.  Khi em cầm tay anh, anh cảm nhận cái huyền diệu mà em mang đến.  Em là giấc mơ trở thành sư thật của anh.  Em là độc tôn và chỉ có em.

Chỉ có em có thể làm sự thay đổi này trong anh.  Em thật là định mệnh của anh.  Khi em cầm tay anh...

(Xin mời bạn vào Youtube bấm: only you  the platters, để thưởng thức bài tình ca vượt thời gian này và giọng tenor có một không hai của Tony Williams.

         Đây chỉ là một vài tình ca ngoại quốc tiêu biểu cho thập niên sáu và bảy mươi trong vô số những hoa thơm cỏ lạ trong vườn âm nhạc nước ngoài, với hy vọng đem lại cho các bạn vài giây phút rung cảm với Tình yêu trong thế giới nhàm chán, chai đá, thiếu vắng Con tim này.//

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.