Hôm nay,  

Gheorghe Zamfir Và Bài Ai Ca ‘Mục Tử Cô Đơn’

7/16/201900:00:00(View: 5642)
Trước tiên xin được có vài lời giới thiệu về nhạc sư được tôn làm bậc sư về sáo Pan Flute – xin được nói về loại sáo này ở phần sau – thường được biết qua tên Zamfir.  Ông sinh năm 1941 tại ở xứ Romania, Đông  u.  Khởi đầu ông muốn trở thành nhạc sĩ đàn xếp accordion. Năm 14 tuổi ông bắt đầu học chơi sáo pan flute tại Trường  m nhạc Đặc biệt ở Bucharest.  Sau đó ông theo học tại nhạc viện Ciprtan Porun bescu.  Hiện nay ông sống và dạy pan flute tại Bucharest, thủ đô của Rumania.  

Zamfir đến với khán thíng giả khi được nhà nghiên cứu về nhạc dân tộc người Thụy sĩ tên M. Cellier tìm gặp.  Celler nghiên cứu rất sâu và rộng về dân nhạc Romania trong những năm của 1960.  Nhà soạn nhạc V. Cosma giới thiệu Zamfir đến các quốc gia Tây phương lần đầu tiên năm 1972,  như là một tay sáo sô-lô cho nhạc của mình soạn  trong phim Le grand blonde avec une chaussure noire và Zamfir thành công cho đến nổi từ đó, ông chơi sô-lô trong các nhạc phim soạn bởi những soạn nhạc gia danh tiếng như Francis Lai, Ennio Morricone và nhiều ngừơi khác.  Trong các mục quảng cáo thương mại trên TV , ông được giới thiệu là “ Zamfir, Bậc thầy của sáo Pan Flute”.  Ông là người giới thiệu nhạc cụ dân tộc đến khán thính giả hiện tại và có công làm loại sáo cổ này sống lại từ quá khứ.

Năm 1966, Zamfir đựơc chỉ định làm nhạc trưởng cho dàn nhạc danh tiếng nhất của Romnania nhằm đi lưu diển ở ngoại quốc.  Sau đó ông rời dàn nhạc này để lập ban nhạc nhỏ cho mình gồm năm nhạc sĩ có đẳng cấp hàng đầu.  Ông thực hiện một tham vọng lớn khi nhóm nhạc của ông kết hợp vợi ban đồng ca và dàn nhạc giao hưởng .  Ông làm ‘cách mạng’ trong các thính phòng hoà nhạc với những trình diển mạnh dạn.  Có người nhận xét là giai đoạn này uyi ngắn nhưng là đỉnh cao của nghề âm nhạc của ông. Năm 1977  ông thu âm bản “ Mục tử cô đơn” với nhạc trưởng James Last và đã đưa danh tiếng ông lên hàng thế giới và chuyển thể âm nhạc của ông trở thành đa dạng, khi thì có tính cách cổ điển thính phòng, lúc khác thì là nhạc êm dịu và nhạc pop phổ thông.

Zam fir tiến vào thế giứi của Tây phương khi chương trình về nhạc tôn giáo của đài BBC tên : “ The Light of Experience” -  Ánh sáng của Kinh nghiệm – thu nhận bàì “ Doina De Jale”  , một bài ai điếu cổ truyền của Romania làm chủ đề.  Sau đó nhờ sự ưa chuông của công chúng mà bài này leo lên được hạng tư Ở Anh quốc.  Sau đó là thành công của ông ở Nam Phi và nhiều bài nhạc khác  ở Canada.  Sau gần một thập niên vắng mặt, Zamfir trở lại Canada năm 2006 để làm một tua trình diển ở bảy thành phố với ban ngủ cầm Traffic Strings với nhạc phẩm Four Seasons của nhạc sĩ Vivaldi bằng PanFlute  cùng hoà tấu với ban ngủ cầm, được soạn bởi Jucian Moraru theo thể loại nhạc jazz.

Năm 2012, Zamfir biểu diển tại buổi lể khai mạc của Cuộc Đại Hội Ramsar thứ 11 tại Cung điện Quốc hội tại Bucharest, Romania.  

Một trong những trình tấu nổi danh nhất của ông là bài “ Mục tử cô đơn” do nhạc trưởng James Last viết và Zamfir cùng trình tấu.  Xin được nói qua về nhạc phẩm nổi tiếng này.

Bài nhạc “Mục tử cô đơn” hay The Lonely Shepherd” do James Last viết lần đầu tiên ra mắt do nhạc sĩ sáo PanFlute người Romania diển tả. Lúc đầu, tựa bài nhạc cho một dĩa nhựa không bao giờ được ra mắt của James Last cho đến năm 1977 mới đựơc xuất hiện trong dĩa Russland Enrinnerungen cuả J. Last.  Cùng trong năm này, bài nhạc được thu vào dĩa đơn và đựơc xắp hạng thứ 22 tại Đức.  Với lần thu âm này, Zamfir thành công và nổi danh trên quốc tế.  Bài nhạc này được thịnh hành mãi cho đến ngày hôm nay và được nhiều nhạc sĩ trình bày, trong đó có tay sáo điêu luyện PanFlute người Nam Mỹ, tên Leo Rojas trình tấu và được trúng giải Thi Tài Năng trên TV năm 2011 – đọc qua lời ca cuả bài ta thấy tiếng kêu than của người mục tử trong cảnh cô đơn, khi thời tiết và môi trường lại khắc nghiệt không biết kêu gọi, tâm tình với  ai ngoài với Thượng đế. Nhưng có lẽ khi nghe bài nhạc được trình tấu qua tiếng saó Pan Flute , nhất là của Zamfir, ta mới cảm nhận được hết niềm thống khổ trong cô đơn này của người mục tử.  Các bạn có thể vào YouTube, bấm : Zamfir, the lonley shepherd để thưởng thức trọn bài nhạc qua tài diển tả xuất thần của Zamfir.

Giờ xin nói qua về lọai sáo tên Pan Flute.

PanFlute – còn được gọi là panpipes hay syrinx -  là một trong những nhạc cụ dưạ trên nguyên tắc  ống bịt kín ở một đầu, gồm nhiêù ống sáo, từ dài tới ngắn,  nhỏ kết dính lại bởi dây đan lại.  Nhiều dạng sáo lọai này đã từ lâu là nhạc khí dân gian.  Ống sáo thường đựơc làm bằng tre, cỏ ống điạ phương.  Hiện nay người ta còn dùng cây, nhựa , kim loại hay ngà để làm.

Pan flute được đặt tên theo theo tên vị thần Hy lạp là Pan -  đầu người mình ngưạ - thần của thiên nhiên và các mục tử .  Theo thần thọai Hy lạp thì Syrinx, một Nữ Thần mộc lâm.  Để tránh sự đeo đuổi say mê mình của thần Pan, nàng tự biến thành cỏ ống . Thần Pan bèn cắt một vài cọng cỏ ống, kết chúng lại song song với nhau tạo thành một nhạc khí có âm thanh du dương.  Ngừơi Hy lạp thời cổ gọi nhạc khí này là Syrinx để tôn xưng Nữ thần Syrinx và tên Pandean hay Panflute cho thần Pan.  Nhạc khí này đựơc dành chự bởi ngưừi Etruscans đa số ở nơi đồng nội  va sau đó là người La mã trong dịp lễ lộc, quan, hôn và tang tế.

Panflute được bịt kín một đầu và âm vực có thêm bát độ thấp hơn  loại sáo thường.  Theo cách thông thừơng,  loại sao này ở vùng Nam Mỹ thì khi chỉnh âm, người ta cho một viên sỏi nhỏ hay một hột bắp vào lỗ sáo.  Còn loại sáo hiện nay thì dùng sáp ong vo tròn để chỉnh âm.  Người ta còn dùng cao su hay nút chai để chỉnh âm.

Khi chơi panflute, ta thổi hơi dọc xuống  ống sáo  và thổi lướt vào mép ống sáo.  Lọai panft của người Romanians có hình cong, dán dính vào nhauu rất dễ cho ngừơi chơi đổi nốt nhạc.  Panflut còn chơi được nốt thăng và nốt giáng bắng cách thay đổi vị thế của sáo và cử động của xương hàm khi thổi.  Một nhạc sĩ điêu luyện có thể chơi bất cứ bản nhạc nào và ở bất cứ âm giai nào.

Ở Lào và Thái có loại sáo gọi là wot dùng trong dân nhạc.  

Nếu có dịp, xin bạn vào youtube để xem màn trình diễn panflute của nhạc sư  G. Zamfir bài “ Mục tử cô đơn” với dàn đại hoà tấu lộng lẫy của nhạc trưởng lừng danh thế giới André Rieu để cùng rung động đến rới lệ với hàng ngàn thính giả. Rất mong.  

Nguồn:
wikipedia.or/Gheorghe _Zamfir

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.