Hôm nay,  

Con phà Bến Tre

16/05/201910:22:00(Xem: 8304)

                 Con phà Bến Tre


Tháng Tám qua phà sang Rạch Miễu

Một vùng mây nước nhớ bâng khuâng

Người xưa trở lại giòng sông cũ

Tìm cuối chân trời…những dấu chân


Cầu khởi công rồi , trơ cột sắt

Triều dâng con nước chảy bình yên

Mai kia ví nếu đường thông tuyến

Tủi phận con phà bị lãng quên


Ở đâu còn thấy bóng xà lan ?

Kéo một đoàn ghe khẳm cát vàng

Man mác chiều xanh sông nước đó

Bèo mây hờ hững gió mưa tan


Còn đâu thấp thoáng buồm no gió ?

Xuôi ngược trường giang những mảnh đời

Trọn kiếp thương hồ trăm bến đỗ

Mấy tầng mây nước mấy chia phôi


Từ độ sơn hà nghiêng ngửa đó

Gót giày mòn nhẳn bước quan san

Qua trăm sông lạ cây cầu lạ

Cát bụi nào phai nghĩa đá vàng


Vẫn nhớ giòng xưa bến nước xưa

Chao ôi ! Tình nặng mấy cho vừa

Ai qua bến ấy chiều ly biệt

Biết mấy người đi mấy kẻ đưa ?


Có những giòng sông chục chiếc cầu

Dập dìu xa lộ lướt qua mau

Đôi ba chiếc yacht buồn khua nước

Uể oải lưng trời cánh hải âu


Cho hay dù có đi ngàn dặm

Vẫn nhớ vô vàn bến nước trong

Vẫn nhớ con phà cao tuổi thọ

Miệt mài đưa rước khách sang sông


Tháng Tám qua phà sang Rạch Miễu

Triều dâng lai láng nước sông Tiền

Gió sông mát mặt người xa xứ

Còn nhớ…hay là mãi lãng quên ?


Mai kia chắc hẳn đường thông tuyến

Qua một giòng sông phút chốc vèo

Phà cũ trăm năm ai nhớ nữa

Gió trăng từ đó cũng buồn theo


Em mặc áo vàng đi chợ Tết

Dập dềnh con nước thủy triều lên

Qua sông để lại người trên bến

Một chút bình yên , chút nỗi niềm


Chúa nhật ra bờ sông giặt áo

Gió đùa tóc rối xõa bờ vai

Thương em thương cả cây cầu gỗ

Thương cả bờ xa vệt nắng dài


Chiều xưa đâu một chiều xưa nữa ?

Trái mận mời nhau góc cuối vườn

Ặn trái trên cây vừa mới chín

Còn nghe thoang thoảng một mùi hương


Ở đâu bàng bạc hương hoa mận ?

Đuôi tóc thơm từ ngọn gió xa

Trở lại mùa sau ăn trái chín

Nào hay ..mây chắn nẻo quan hà


Mùa mận , năm ba mùa mận nữa

Người đi góc núi chẳng tin về

Phà sang…đếm được bao nhiêu chuyến

Mấy cuộc sum vầy mấy cách ly ?


Mười năm gió cuốn hoa vông rụng

Biền biệt người đi chẳng trở về

Một sớm bên trời nghe thức dậy

Tình quê chan chứa nẻo biên thùy


Mười năm trở lại thăm vườn cũ

Mới biết người xưa đã lấy chồng

Mây nước quê hương thì vẫn thế

Mà người trong mộng đã sang sông


Một sớm anh về thăm Phước Thạnh

Vẫn hàng dừa nước cụm bần xanh

Hỏi thăm ..ai biết người năm cũ

Nền cũ hoang tàn lối cỏ quanh


Tháng Tám sông Tiền lai láng nước

Gió đùa nhô nhấp lục bình trôi

Mới hay mặt nước bao nhiêu sóng

Là bấy nhiêu tình kẻ ngược xuôi….


Hồ Thanh Nhã


Tháng 8 năm 2,000 , mẹ tôi mất ở Bến Tre . Tôi trở về Việt Nam , có dịp đi qua con phà Rạch Miễu , về thăm lại quê hương xứ dừa . Lúc đó cây cầu Rạch Miễu nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre đã khởi công , nhưng chưa xong . Con sông nầy , chuyến phà nầy , tôi đã đi qua lại nhiều lần từ khi còn bé . Những cảm xúc vui buồn lẫn lộn của tôi về cây cầu sắp được hoàn thành sẽ thay thế con phà trăm tuổi thọ nầy đã khiến tôi có ý định làm một bài thơ về chuyến thăm lại cố hương nầy . Đây là những cảm xúc có thật , trong một giai đoạn xây cất có thật của quê hương Bến Tre . Và hôm nay thì cây cầu Rạch Miễu nối liền hai tỉnh Tiền giang và Bến Tre đã thông tuyến , một biến chuyển kinh tế tốt đẹp cho quê hương . Và con phà Bến Tre từ nay cũng đi vào dĩ vãng , chắc ít người còn nhắc tới . Họa chăng chỉ có tác giả .

Mình đã ôn cố rồi , thì bây giờ mình phải biết tri tân . Đó là hình ảnh cây cầu Rạch Miễu hôm nay . Cầu Rạch Miễu nằm trên quốc lộ 60 bắc qua sông Tiền, nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre .Đây là cây  cầu dây văng lớn do kỹ sư Việt Nam thiết kế và thi công theo công nghệ mới .Cầu khánh thành ngày 10 tháng 9 năm 2,007 , cách thành phố Bến Tre 10 cây số . Trước đó có 2 cây cầu dây văng là cầu Mỹ Thuận do Úc thiết kế và thi công và cầu Cần Thơ do Nhật thi công .

Chiều dài cầu Rạch Miễu là 8,331 mét , kể cả đường nối hai đầu cầu .Giữa cầu là cù Lao Thới Sơn . Hai đoạn đường nối hai đầu có tổng chiều dài là 5,463 mét và hai cầu chính có chiều dài là 2,868 mét , bắc qua hai nhánh sông Tiền và cồn Thới Sơn ..

Chiều cao thông thuyền là 37,5 mét , cho phép tàu 10 ngàn tấn có thể đi qua . Chiều rộng của cầu là 15 mét cho 2 làn xe ô tô và 2 làn xe máy . Có phần đường cho người đi bộ hai bên . Trọng tải cầu là 60 tấn .

Năm 2,011 , tôi lại về Việt Nam vì cha tôi mãn phần . Lần nầy tôi không đi phà nữa mà đi qua cầu Rạch Miễu . Mời quí vị xem bài thơ  : Qua cầu Rạch Miễu sau đây :


Qua cầu Rạch Miễu


Em nhắn anh về chơi xứ dừa

Cũng buồn cũng nhớ mảnh vườn xưa

Cũng nghe mỏi mệt đời phiêu bạt

Giờ muốn dừng chân bước hải hồ


Cây cầu Rạch Miễu qua sông cái

Nước thủy triều lên bát ngát bờ

Nhớ quá con phà đang lướt sóng

Chở ngàn lượt khách mỗi chiều mưa


Con phà qua hết đời xuôi ngược

Lặng lẻ đi vào nỗi lảng quên

Ai nhớ trăm năm hình bóng cũ

Phà sang trăm chuyến đón người quen


Là đây Rạch Miễu đường thông tuyến

Nối nhịp sông Tiền sóng  nhấp nhô

Mây nước mênh mông lòng lặng lặng

Làn xe đôi hướng khép đôi bờ


Nhớ xưa bến bắc chiều ly biệt

Người tiễn người đi trĩu nặng tình

Thoắt cũng hai mươi mùa trái chín

Lấy gì mà trả nợ ba sinh


Em về chợ Huyện đôi vai nặng

Gánh hết u trầm nỗi nhớ thương

Phà tách bến rồi khua nước đục

Cầu phao trơ trọi lớp sương buông


Xe qua nửa nhịp chia đôi tỉnh

Cồn Phụng từ lâu vắng bóng người

Cả tiếng chuông chùa theo gió sớm

Cũng vào quên lãng áng mây trôi


Cây bần gie nhánh che con nước

Xanh ngắt cồn xưa cuộc đổi đời

Người  khách quay về qua bến cũ

Trống không tâm sự ánh sương rơi


Nửa đời phiêu bạt non sông lạ

Nhìn lại quê hương lúa trổ đồng

Bát ngát sông Tiền qua mấy chốc

Mưa còn lất phất nửa con sông


Giọt mưa lấm tấm qua làn kính

Quạt nước chưa tròn nỗi nhớ xa

Cũng nghĩ cũng suy mà đứt quảng

Cũng vòng quay gạt giọt mưa sa


Ngã ba Tháp cũ không còn nữa

Thành một công viên đón gió chiều

Băng đá còn in đôi bóng cũ

Người xưa nghe nặng nỗi buồn theo …


Hồ Thanh Nhã

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Không chỉ thường xuyên xua quân đi canh cửa, an ninh Thanh Hóa còn liên tục gửi giấy mời, giấy triệu tập như là một thủ trấn áp tinh thần bà Nguyễn Thị Lành - vợ của Mục sư, TNLT Nguyễn Trung Tôn. Chồng bị bỏ tù, một mình bà Nguyễn Thị Lành phải vất vả gánh vác gia đình. Những ngày qua càng thêm vất vả bởi chăm mẹ chồng lớn tuổi mắc bệnh phải nhập viện, và con bị tật nguyền. Nhưng bà Lành vẫn liên tục bị an ninh tỉnh Thanh Hóa sách nhiễu, đe dọa…
Những người Mỹ gốc Việt bênh hay chống ông là điều bình thường, vì những quyết định cũng như cách hành xử của ông sẽ ảnh hưởng lên đời sống của họ và tương lai con cháu họ, và ngược lại, là công dân HK, họ có trong tay lá phiếu để ảnh hưởng khiến ông Trump có được tiếp tục làm tổng thống nữa không. Do đó, lưu tâm và tham dự vào những đánh giá đúng sai, khen chê, tâng bốc, hay moi móc thói hư tật xấu của người đang ứng cử điều khiển vận mạng quốc gia của họ thêm 4 năm nữa (và sẽ để lại những hậu quả lâu hơn) là hiện tượng bình thường .
Tôi thì trộm nghĩ hơi khác FB Đoan Trang chút xíu: Việt Nam có hàng ngàn Tiên Lãng, Đồng Tâm, Dương Nội. Những thôn ổ này luôn là nơi sản sinh ra những nông dân (“vài ngàn năm đứng trên đất nghèo”) Lê Đình Kình, Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Qúy, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Thùy Dương, Trịnh Bá Khiêm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư ... Hàng hàng/lớp lớp, họ sẵn sàng nối tiếp tiền nhân – không bao giờ dứt – để gìn giữ và bảo vệ quê hương. Quyết định đối đầu với sức mạnh của cả một dân tộc là một lỗi lầm chí tử của những kẻ đang nắm giữ quyền bính hiện nay.
Người Pháp gặp nhau, bắt tay, hoặc ôm hun ở má, tay vừa vỗ lưng vài cái nếu thân mật lắm, buông ra, nhìn nhau và hỏi «Mạnh giỏi thế nào?». Người Pháp mang tâm lý sợ sệt, nhứt là sợ chết sau nhiều trận đại dịch, từ dịch Tây-ban-nha giết chết gần phân nửa dân số âu châu. Người Tàu, gặp nhau, chào và hỏi ngay «Ăn cơm chưa?». Ăn cơm rồi là hôm đó sống hạnh phúc vì phần đông người Tàu đói triền miên. Trốn nạn đói, chạy qua Việt nam tỵ nạn, vẫn còn mang nỗi ám ảnh nạn đói. Còn người Việt nam xứ Nam kỳ chào nhau và hỏi thăm «Mần ăn ra sao?». Gốc nghèo khó ở ngoài Bắc, ngoài Trung, đơn thân độc mã, vào Nam sanh sống giữa cảnh trời nước mênh mông, đồng hoang lau sậy, thoát cái nghèo là niềm mong ước từ lúc rời người làng, kẻ nước.
Thiệt đọc mà muốn ứa nước mắt luôn. Sao mà xui xẻo dữ vậy Trời? Tôi sống theo kiểu check by check, có đồng nào xào đồng đó, chưa bao giờ dư ra được một xu. Hai tháng trước, vì (hay nhờ) dịch Vũ Hán, nhà nước Hoa Kỳ thương tình gửi phụ thêm cho 1,200.00 USD. Trộm nghĩ mình cũng đã đến lúc gần đất xa trời rồi nên lật đật bỏ số tiền này vô ngân hàng, dành vào việc hoả táng. Vụ này tui đã dọ giá rồi, tốn đâu cỡ gần ngàn. Vài trăm còn lại để con cháu mua chút đỉnh hương hoa, cho nó giống với người ta, ngó cũng phần nào đỡ tủi.
Có vẻ như con người thời nay càng lúc càng trở nên lười biếng, thụ động; nhất là từ khi nhân loại bước vào kỷ nguyên tin học, truyền thông liên mạng. Tin học đã đem con người khắp hành tinh gần lại với nhau, nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn, chính nó bị con người lạm dụng để bóp méo, biến dạng sự thực cho những mục tiêu bất chính của cá nhân, bè phái.
Sau 95 năm gào cùng một giọng nền Báo chí gọi là “cách mạng” của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) vẫn trơn tru uốn lưỡi phóng ra câu giả dối rằng:”Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.” (báo Quân đội Nhân dân (QĐND), ngày 15/6/2020). Điều không thật này đã được Ban Tuyên giáo, tổ chức tuyên truyền và chỉ huy báo chí-truyền thông sử dụng từ lâu, nay được lập lại để kỷ niệm 95 năm ngày gọi là “Báo chí cách mạng Việt Nam” (21/6/1925-21/6/2020).
“Muốn chỉ một cá nhân nào đó, tùy theo giai cấp, tín ngưỡng, tùy theo lúc sống hay chết, tùy theo già hay trẻ, người Việt Nam có rất nhiều tên để gọi. Ngôn ngữ Việt có những từ sau đây chỉ các loại tên: bí danh, bút hiệu, nhũ danh, nghệ danh, pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, tên, tên cái, tên đệm, tên họ, tên gọi, tên chữ, tên cúng cơm, tên hèm, tên hiệu, tên húy, tên riêng, tên thánh, tên thụy, tên tục, tên tự, thương hiệu.” (Ngưng trích: Nguyễn Long Thao- DANH XƯNG ĐẶC BIỆT CỦA THƯỜNG DÂN VIỆT NAM)
Các cuộc khủng hoảng lớn lao có các hậu quả trầm trọng, thường không tiên đoán được. Cuộc Đại Khủng hoảng trong thập niên 1930 đã thúc đẩy trào lưu cô lập, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa phát xít và Đệ nhị Thế chiến, nhưng cũng dẫn đến biện pháp hồi phục kinh tế New Deal, sự trỗi dậy của Hoa Kỳ như một siêu cường toàn cầu, và cuối cùng là tiến trình xoá bỏ thực dân. Các cuộc tấn công trong ngày 11 tháng 9 đã tạo ra cho Mỹ hai sự can thiệp thất bại, sự trỗi dậy của Iran và các hình thức mới của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã tạo ra một sự đột biến trong trào lưu dân tuý chống các định chế chính trị lâu đời để thay thế cho các nhà lãnh đạo trên toàn cầu. Các nhà sử học trong tương lai sẽ theo dõi và so sánh những ảnh hưởng lan rộng đến cơn đại dịch virus corona hiện nay; thách thức cho họ là hình dung ra trước được các ảnh hưởng.
Bác sỹ Tom Dooley qua đời năm 1961. Mãi đến vài chục năm sau, tôi mới biết đến tác phẩm đầu tay của ông (Deliver Us from Evil) do Farrar, Straus & Cudahy xuất bản từ 1956. Đây là một tập bút ký, có hình ảnh minh hoạ đính kèm, về cuộc di cư ồ ạt (vào giữa thế kỷ trước) của hằng triệu người dân Việt. Họ ra đi chỉ với hành trang duy nhất là niềm tin vào tình người, và không khí tự do, ở bên kia vỹ tuyến. Rồi họ đã được tiếp đón, hoà nhập và sinh sống ra sao nơi miền đất mới? Câu trả lời có thể tìm được – phần nào – qua một tác phẩm khác (Sài Gòn – Chuyện Đời Của Phố) của Phạm Công Luận, do Hội Nhà Văn xuất bản năm 2013.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.