Hôm nay,  

Từ kim tự tháp Giza đến thành cổ Jerusalem (Phần 2)

4/26/201918:12:00(View: 5011)

Từ kim tự tháp Giza đến

thành cổ Jerusalem (Phần 2)

 

 

Bùi Văn Phú

 

 

Đến Ai Cập và Jordan, chúng tôi tự sắp xếp chương trình thăm những nơi mình muốn. Qua Do Thái mấy ngày đầu tự lên lịch tham quan, sau đó nhập vào đoàn người đến từ Mỹ và Úc, trong chuyến hành hương do linh mục Dòng Tên Nguyễn Tầm Thường hướng dẫn.

 

 

 blank

H01: Tường Phía Đông, trước đây gọi là Tường Than Khóc, trong thành cổ Jerusalem (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 blank

H02: Via Dolorosa trong thành cổ Jerusalem là đoạn đường mà Giêsu đã vác thánh giá đi qua trong cuộc khổ nạn (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

 

 

Đến Tel-Aviv hai hôm thì biết tin khủng bố đánh bom trên đường gần khu kim tự tháp Giza bên Ai Cập làm bốn du khách Việt chết và nhiều người bị thương. Tin loan nhanh trên truyền thông quốc tế nhưng chúng tôi không biết ngay, cho đến tối về khách sạn, đọc lời nhắn từ gia đình và người quen lo lắng hỏi thăm. Vụ bạo động cho thấy an ninh và ổn định chính trị ở Cairo có vấn đề, kẻ đánh bom chỉ nhắm vào việc phá hoại, tạo rối loạn chứ không phải khủng bố nhắm vào người phương Tây.

 

Vì xung đột và căng thẳng giữa Do Thái với các nước Hồi giáo chung quanh, nên tại phi trường Ben Gurion, khi xem hộ chiếu thấy có thị thực vào Ai Cập và Jordan, nhân viên di trú đã hỏi nhiều câu hỏi liên quan đến những ngày chúng tôi ở đó, đặc biệt là ở Jordan, như có quen biết ai, thời gian ở bên đó ở đâu, đi những nơi nào. Từ Amman bay qua Tel-Aviv, lên đến cửa máy bay rồi còn có an ninh Do Thái đứng đó bắt mở túi xách, hành lí ra khám, như thế cho thấy việc kiểm soát an ninh của Do Thái rất chặt chẽ.

 

Xong xuôi, không đóng dấu vào hộ chiếu mà nhân viên chỉ đưa cho tờ giấy rời, có hình mình vừa chụp tại chỗ, trong đó ghi ngày đến, thời hạn được ở.

 

Phi trường ở đây hiện đại và mọi thứ cũng có tổ chức, trật tự hơn. Ghé quầy thông tin cho du khách hỏi cách đi taxi vào trung tâm thành phố và được chỉ dẫn rõ ràng. Ra cổng theo số đã biết, có hàng taxi đứng chờ sẵn, giá cố định từ 110 đến 160 shekels (1 Mỹ-kim đổi được 3.7 shekels) chở khách vào trung tâm thành phố.

 

Ngày đầu tiên trời mưa tầm tã. Ăn sáng trong khách sạn cũng có trứng, dưa chuột, cà rốt, sữa chua, trái ô-liu các loại, bánh mì nướng, nước cam, trà, càphê. Điều lạ là có cả những loại cá sống, còn cả da, mà tôi không thử vì còn quá sớm.

 

Ngớt mưa chúng tôi đi bộ thăm một hội đường, synagogue, rồi ra khu Camel Market, không rộng lớn như ở Cairo. Có nhiều sạp hàng bán chà-là, trái lựu và rau quả. Nhiều sạp bán đồ thủ công làm kỷ niệm là những vòng đeo tay, đeo cổ bằng cườm với hình ảnh tôn giáo, giá phải chăng và nhà tôi không thể mặc cả để giảm giá được nhiều, chừng vài đô-la cho một món quà nhỏ. 

 

 blank

H03: Tường thành ngăn cách Do Thái và Palestine ở Bethelem (Ảnh: Bùi Văn Phú)

blank H04: Linh mục Nguyễn Tầm Thường, bên phải, và vợ chồng tác giả bên tấm bia ghi kinh “Tám mối phúc thật” (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 blank

H05: Đoàn rước kiệu tại Thánh đường Truyền tin ở Nazareth. Bên trái là ảnh Đức Maria mặc áo dài (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

 

 

Rảo quanh thấy bán nhiều bánh kẹo, gia vị đủ loại cùng nhiều rau củ quả. Đất nước toàn cát sa mạc mà người Do Thái đã trồng được rất nhiều sản phẩm nông nghiệp, rau các loại, có cả xu hào; trái cây có cam, táo, bưởi, không những dư cung cấp cho nội địa mà còn xuất khẩu. Chà-là tươi hay khô đều rất ngọt. Nước lựu tươi ép, pha với cam thật thơm và tốt cho sức khoẻ. Ở đây chúng tôi mua được vài trái mà bên ngoài giống mãng cầu xiêm còn trong ruột như na, thơm và ngọt, là chút hương vị quê xưa nơi miền đất lạ.

 

Hôm sau đi theo chương trình tham quan miễn phí của khách sạn. Xe chạy qua những con phố chính của Tel-Aviv, nghe cô hướng dẫn nói về lịch sử lập quốc của Do Thái, khởi đầu với những người khởi xướng phong trào Zion ở Đông Âu cách đây hơn bảy chục năm. Đến năm 1948, bằng một nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, nước Do Thái được khai sinh. Từ đó người gốc Do Thái khắp nơi trở về sinh sống, từ nhiều quốc gia cộng sản như ở Liên bang Sô-Viết, Đông Âu, người gốc Jew (Do Thái) đã phải tranh đấu để được quyền di dân trở về cố quốc. Ngày nay, sau 70 năm thành lập, đất nước này có dân số gần 9 triệu và địa lý ngày càng mở rộng sang những vùng đất của Palestine hay chiếm đóng từ những quốc gia lân bang qua hơn một chục cuộc chiến.

 

Qua khu phố chính của thủ đô là những con đường Ben Gurion, Dizengoff, Rothschild với toà nhà cao tầng, đông khách bộ hành và có nơi phượng đang xum xuê lá với trái xanh, đen. Đi ngang qua trụ sở của bộ quốc phòng, một nhà bê tông nhiều tầng, cô hướng dẫn nói thanh niên nam nữ ở đây đều phải đi nghĩa vụ quân sự và chỉ những người thật tài giỏi mới được phục vụ trong toà nhà đó.

 

Hai chục du khách được đưa đến Diamond Center để xem các mặt hàng. Nhiều người đã mua vòng đeo, mua nhẫn. Do Thái nổi tiếng là trung tâm sản xuất kim cương. Số lượng nhập kim cương thô chỉ khoảng 10% và sau khi qua kỹ thuật cắt góc cạnh tinh vi để sản xuất ra những viên kim cương sáng chói, Do Thái xuất khẩu 60% kim cương trên thế giới.

 

Rời nơi mua sắm kim cương, xe chạy dọc theo biển, với những bãi tắm và khách sạn lớn, trước khi đến phổ cổ Jaffa. Nơi đây có nhà thờ Thánh Phêrô, đứng từ đó nhìn ra biển Địa Trung Hải thấy Tel-Aviv đã lên đèn lấp lánh. Đó cũng là đoạn đường dài chừng chục kilomét mà hai nghìn năm trước vị thánh cả của giáo hội Thiên Chúa giáo đã thường đi tới đi lui giảng đạo.

 

Lịch sử dân tộc Do Thái gắn liền với cuộc đời của Giêsu mà người Thiên Chúa giáo có nghi thức trọng đại tôn vinh trong tuần thánh hàng năm. Bắt đầu với Giêsu trở về Jerusalem trong ngày lễ lá, sau đó bị luận tội và bị đóng đinh vào thập tự giá trên đồi Golgotha. Tín đồ Kitô giáo tin rằng Giêsu chết để chuộc tội cho thiên hạ và đã sống lại trong mầu nhiệm Phục sinh mà giáo hội Thiên Chúa giáo mừng kính đúng một tuần sau lễ lá.

 

Hai hôm sau chúng tôi nhập vào đoàn hành hương, được đưa trở lại Jaffa ăn trưa. Món ăn phổ thông ở đây, như người Việt ăn phở hay người Mỹ ăn burger, là món shawarma với thịt trừu, bò hay gà nướng tẩm gia vị địa phương, thơm ngon, ăn với rau sà-lát. Giá sinh hoạt khá đắt, một phần ăn trưa là 50 shekel, ăn uống lặt vặt mấy thứ đặc sản khác dọc phố cổ, tính ra khoảng 50 đôla cho hai người.

 

Khi mọi người trong đoàn từ khắp nơi đã đến Tel-Aviv, xe đưa chúng tôi về Nazareth, nguyên quán của Giuse và Maria, nơi Giêsu sống thời tuổi thơ.

 

Nơi đây có đền thờ truyền tin, thờ kính Maria với hình ảnh mang sắc thái của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Đức Bà mặc áo dài. Buổi tối có rước kiệu và lần hạt mân côi, với một chục kinh bằng tiếng Việt. Gần đó có hội đường nơi Giêsu từng đến giảng đạo.

 

Sau đó chúng tôi về Bethelem là nơi Giêsu được sinh ra trong khó nghèo. Vùng này còn là đất của người Palestine. Lễ nửa đêm đón Giêsu Hài đồng ra đời do thượng phụ chủ tế và tổng thống Palestine Mahmoud Abbas có đến dự. Một số thành viên trong đoàn đã được hân hạnh bắt tay ông.

 

Ở Bethelem và Jerusalem chung sống với nhau là tín đồ của nhiều đạo: Thiên Chúa giáo, Chính thống giáo các nhánh khác nhau, Hồi giáo. Người Palestine bị chính quyền Do Thái giới hạn đi lại cũng như kiểm soát các sinh hoạt vì thế dịp lễ Giáng Sinh là cơ hội cho họ đem các ban nhạc, đội kèn trống của các trường học, tổ chức xã hội tôn giáo diễn hành trên đường phố. Họ như những người phải sống cả đời trong các trại tị nạn, không được ra khỏi bức tường ngăn cách, trong khi những vùng đất của Palestine ngày càng thu hẹp lại vì chính sách của Tel-Aviv cho xây thêm nhiều khu tái định cư để đem dân Do Thái đến sống.

 

Ở Bethelem đi thăm nơi Giêsu được sinh ra, chật chội nằm trong một đền thờ của Chính Thống giáo; thăm đền thờ Đức Mẹ sữa đã ban nhiều phép lạ cho người hiếm muộn con.

 

Hôm đi đến cánh đồng thiên thần, gặp hai sơ từ Việt Nam qua đây làm việc bác ái, nghe kể cũng gặp nhiều khó khăn vì ngôn ngữ, trước đây có sơ không hội nhập được nên nhà dòng phải đưa về. Các bạn trong đoàn bảo nhau quyên được một số tiền rồi trao cho sơ, góp phần giúp người nghèo ở Bethelem.

 

Vào thành Jerusalem, đoàn chúng tôi kính viếng nhiều nơi, từ đền Phêrô chối Chúa, ngục giam Giêsu một đêm trước khi phải vác thánh giá lên đồi Calvary. Tham dự thánh lễ và cầu nguyện ngay tại mộ Giêsu. Cầu nguyện tại Tường than khóc Wailing Wall, nay gọi là Western Wall.

 

Đến những nơi Giêsu đã làm phép lạ cho người mù được thấy, cho kẻ chết sống lại, cho môn đệ ra khơi bắt được nhiều cá, cho nước biến thành rượu trong một tiệc cưới ở thành Cana, mà trong đền thờ này nhiều anh chị em đã lập lại lời hứa ngày thành hôn. Đến nơi có câu “Kinh lạy Cha” bằng hàng trăm ngôn ngữ, là điều Giêsu đã để lại cho trần thế trước khi về trời.

 

Một hôm đi thăm thành phố cổ nhất thế giới là Jerico, có từ 8 nghìn năm qua, trên đường cũng thấy nhiều cây phượng. Vào tiệm bán đồ kỷ niệm có hình nón lá do một khách du lịch từ Việt Nam để lại. Trong tủ trưng bày đồ cổ có một bàn ủi than với hình con gà, một bếp đun bằng đồng. Bỗng dưng nhớ về quê nhà vào những năm 1960.

 

Cuộc đời của Giêsu gắn liền với lịch sử Do Thái, như những di thảo bằng tiếng Hebrew tìm được ở Qumran nơi vùng Biển Chết vào năm 1947 – Dead Sea Scrolls – mà những nhà khảo cổ đã chứng minh được viết vào thời gian Giêsu đang sống.

 

Trong chuyến hành hương này, khi phải lần mò đi trong hầm tối theo hệ thống đường dẫn nước mà vua David đã đào là một trải nghiệm khó quên. Rất sợ vì dưới chân bì bõm nước đến ngang ống chân, đường hầm nhỏ hẹp, rộng hơn vai một chút, còn chung quanh là bóng tối và vách đá chỉ cao hơn đầu. Đoạn đường hầm dài hơn nửa kilômét mà tưởng như bất tận. Đã xuống thì phải lần mò tìm lối ra, cho đến khi thấy lại ánh sáng. Như con người chìm đắm trong bóng tối tội lỗi tìm được chân lý cứu độ.

 

Một sáng đoàn chúng tôi thức dậy rất sớm để đi đường thánh giá và cầu nguyện trong khi những con phố hẹp của Jerusalem chưa có người qua lại. Theo Via Dolorosa, dừng lại từng chặng để đọc sinh và suy niệm, theo con đường ngày xưa Giêsu đã vác thánh giá lên núi Sọ chịu đóng đinh.

 

Đến Đất Thánh mới cảm nhận được lịch sử, được sờ vào dấu tích những nơi Giêsu đã đi qua.

 

Điều tôi cảm thấy rất thực là mào gai mà những kẻ muốn hành hạ đã chụp lên đầu Giêsu. Loại cây gai đó ngày nay vẫn còn trồng ở đây, chúng tôi đã tận mắt nhìn thấy gai nhọn còn tươi từ cây, được cắt cho một nhánh, kết thành vòng gai như trong những bức hoạ hay hình tượng đã ghi lại. Di vật này của thời Giêsu, được cho là còn tồn tại và lưu giữ trong nhà thờ Notre Dame de Paris và đã may mắn thoát cơn hỏa hoạn mới đây.

 

Một điều hết sức ngạc nhiên là nơi quê hương của những người từng sống lưu vong khắp nơi, những người Việt cùng cảnh ngộ đã được thấy cờ vàng ba sọc đỏ bên cạnh cờ Do Thái với sao David tung bay trong gió, đã được cùng nhau cất giọng: “Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi…” và “Việt Nam hai câu nói bên vành nôi, Việt Nam nước tôi…” trên thuyền ở biển hồ Gallilê, rồi cùng với hai thuyền viên ca hát, nhảy múa theo những điệu dân ca Do Thái.

 

Hình ảnh cờ vàng cũng có trên hai tấm bia ghi lời dạy “Tám mối phúc thật” trong lối vào đền thờ trên núi nơi Giêsu từng rao giảng.

 

Do Thái đúng là Đất Thánh, nơi còn ghi lại biết bao nhiêu chứng tích của Giêsu, là lịch sử mà hàng trăm triệu Kitô hữu đều biết.

 

Nhưng đất nước này vẫn còn nhiều xung đột phải đối phó. Xung đột với người Palestine, với những quốc gia lân bang qua nhiều cuộc chiến quá khứ và liên tục sống trong đe doạ của chiến tranh.

 

Lúc ở Bethelem, là đất của Palestine, tôi có gửi qua đường bưu điện một bưu thiếp về nhà ở Hoa Kỳ, dán tem của State of Palestine, để làm kỉ niệm. Chờ cả hơn tháng không thấy, tưởng thất lạc nhưng đến hai tháng sau mới nhận được. Nhớ lời một người dân Palestine đã nói rằng, mọi thứ ở đây chính quyền Do Thái không cho chuyển qua Tel-Aviv mà phải qua Jordan.

 

Khi rời Tel-Aviv, trong hành lí gửi theo máy bay chúng tôi có đem về nhiều hình ảnh tôn giáo và hai chai bia, không còn nước, một của Do Thái và một của Palestine.

 

Về nhà, mở vali thấy mất hai chai bia. An ninh Do Thái đã tịch thu. Không hiểu tại sao.

 

© 2019 Buivanphu

.

Link:

Từ kim tự tháp Giza đến thành cổ Jerusalem (Phần 1)

https://vietbao.com/p112a293380/tu-kim-tu-thap-giza-den-thanh-co-jerusalem-phan-1-

 

.

   

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.