Hôm nay,  

Chỉ Một Cánh Én Đã Là Mùa Xuân

10/03/201919:13:00(Xem: 5688)

Chỉ Một Cánh Én Đã Là Mùa Xuân
 

Nguyệt Quỳnh
 
blank

Cuộc xuống đường ở Venezuela như những cánh én báo mùa xuân đã làm khơi dậy một cách mãnh liệt cái khát vọng  tự do trong lòng người dân VN - một đất nước cách xa nó đến hàng chục ngàn cây số. Ở đây, như Venezuela, đa số dân nghèo cũng tuyệt vọng cùng cực; giới trí thức thì nhìn thấy tương lai đang dẫn dắt mình và các thế hệ mai sau đi dần vào con đường nô lệ.
 

Trong nôn nao, nhiều người đã thầm hỏi khi nào thì chúng ta có được Số Đông đồng lòng như Venezuela. Câu hỏi làm tôi liên tưởng đến những người dân Venezuela đã ngã xuống trong những cuộc biểu tình. Ở bất cứ đất nước nào cũng vậy, hạt giống tự do phải được gieo trồng, tưới tẩm bằng chính công sức và mồ hôi của người dân nước ấy. Lẽ ra câu hỏi phải nên là: “người Việt Nam đã làm gì cho những khao khát của chính mình?

 
blank

Từ câu hỏi này, ít ra tôi tìm được câu trả lời. Tôi nhìn thấy những cánh én đơn độc đã bay về từ rất lâu, bạn có nhìn thấy như tôi không? Qua giông bão, những cánh én ấy xác xơ, những cánh én đang nhỏ máu từng ngày, nhưng tôi nhìn thấy cả mùa xuân trên những đôi cánh ấy. Xin cám ơn Trần Huỳnh Duy Thức, Hồ Đức Hòa, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Trần Thị Nga, Lê Đình Lượng, Phan Kim Khánh, Trần Hoàng Phúc,… Con đường dẫn đến tự do còn nhiều gian nan nhưng tôi cảm nhận được niềm tin và tình yêu của họ. Tôi chạnh nhớ đến những cánh én dập dìu trên những phím đàn giá lạnh của Văn Cao năm nào.

 

Đầu xuân năm 1976, nhạc sĩ Văn Cao sáng tác ca khúc “Mùa Xuân Đầu Tiên” sau nhiều năm dài vắng bóng. Bài hát với ca từ đầy ắp yêu thương “từ đây người biết thương người, từ đây người biết yêu người”. Bài hát làm gai mắt lãnh đạo và bị cấm hát ở VN. Bốn mươi năm đã trôi qua, thế giới đã đổi thay từ mùa thu năm 1989, nhưng lãnh đạo CS không thay đổi; vẫn khinh thị dân, vẫn tự mãn cho mình cái quyền được chỉ đạo ngay cả những tình cảm rất thiêng liêng và riêng tư của con người. Ngày tưởng niệm chiến tranh biên giới, tưởng niệm 45 năm Hoàng sa chỉ có báo chí, dàn đồng ca của ban tuyên giáo là được quyền ca hát. Cửa ngõ các nhà hoạt động vẫn được canh gác cẩn thận để bảo đảm không có một cuộc tụ tập hay một nén nhang nào được thắp lên cho những người lính đã ngã xuống!

 
blank

Đất nước độc lập mà như một quốc gia bị chiếm đóng, mọi nỗ lực bảo vệ tổ quốc đều dẫn đến những đàn áp khốc liệt. Tư duy trí thức, cán bộ thì lệ thuộc, đến nỗi một giáo sư sử học “danh tiếng”, ông Phạm Hồng Tung, người chủ biên chương trình lịch sử tại đại học Hà Nội đã dám đề nghị rằng nên chờ hội ý với Trung Quốc để viết về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc (sic).

 

Lãnh đạo như thế, cán bộ như thế, bất chấp nguyện vọng của người dân; thế nên, dù cho những trấn áp hung bạo đang trên đà gia tăng, người ta vẫn nhìn thấy cả một sự đổi thay từ hành động cho đến nếp nghĩ của đa số người dân VN. Đây là một thực tế mà lãnh đạo CS khó chấp nhận. Thật vậy, cho dù chế độ công an trị có khắc nghiệt đến đâu thì cái thời mà người ta giao trọn phần hồn của mình trong bàn tay sinh sát của lãnh đạo cũng đã qua. Hình ảnh đơn độc của những cánh én là biểu tượng mạnh mẽ nhất cho niềm khao khát tự do và đổi thay.
 

***

Viktor Frankl, một chuyên gia tâm lý người Áo, kẻ đã sống sót qua các trại tập trung Đức quốc xã bảo rằng: “mọi thứ đều có thể bị lấy mất khỏi con người… nhưng cái cuối cùng của tự do con người chính là sự lựa chọn thái độ trong bất kỳ hoàn cảnh nào.” Dẫn lời của Frankl, tôi muốn nhắc đến chị Võ Như Huỳnh, một bạn trẻ vừa mãn hạn 8 tháng tù. Sự chân thành, vững vàng của Huỳnh chắc chắn đã khiến gia đình và người chung quanh chị thêm mạnh mẽ. Tôi tin rằng niềm tin có sức mạnh lan tỏa. Một khi con người có niềm tin và chấp nhận trả giá cho một điều gì đó, thì dù chỉ một mình, một người vẫn làm được rất nhiều…

 

Chị Huỳnh là cư dân ở Đồng Nai, đi biểu tình ngày 10/6/18 để chống Luật Đặc Khu, chị cùng 20 bạn trẻ khác bị khởi tố và tống giam. Trong tù, chị Huỳnh nhìn thấy nhiều bạn trẻ khác bị nhục hình, và dù nói rằng rất khổ, nhưng Huỳnh cho biết chị không hề thay đổi quan niệm “tuy việc làm không lớn lao nhưng tôi rất tự hào và cảm thấy hạnh phúc.”

 

“Tự hào”, “hạnh phúc” là hai điều hiếm quý trong xã hội VN, mà chúng ta chỉ tìm thấy ở những tâm hồn tự do. Một con người tự do khác, nhà văn Nhã Thuyên - người đã chọn một chủ đề “nhạy cảm” đưa vào luận văn thạc sĩ của mình cho dù biết có thể sẽ gặp rắc rối, hoặc tệ hơn có thể mất bằng. Năm 2010, Nhã Thuyên đệ trình luận văn thạc sĩ về một tập thể thơ của nhóm “Mở Miệng” do hai nhà văn Lý Đợi và Bùi Chát chủ trương. Một số tác phẩm trước đó của “Mở Miệng” đã bị coi là công khai chống chế độ, vì thế Bộ công an đã vào cuộc.
 

Luận án của nhà văn Nhã Thuyên bị quy kết là “phản động”, “phản văn hóa”, thậm chí bị gọi là “rác rưởi”. Nhã Thuyên bị rút bằng vào tháng Ba năm 2014. Tuy nhiên, thái độ của chị đã kêu gọi được sự hỗ trợ của hơn 100 nhân vật trong giới học thuật. Và cuối cùng, với sự lên tiếng của họ, nhà văn Nhã Thuyên đã lại được cấp bằng thạc sĩ hai tháng sau đó.

 

Chỉ với thái độ riêng lẻ của hai người phụ nữ trên, tôi có cảm tưởng như những gì Viktor Frankl đã thực chứng qua các trại tập trung sẽ được người dân VN viết tiếp bằng những trải nghiệm của chính mình “trong bất cứ hoàn cảnh nào lựa chọn Tự Do là điều kiện tất yếu của Hạnh Phúc”. Dù chưa là đám đông, nhưng cá nhân mỗi người đã tạo nên những thay đổi tích cực cho xã hội. Và họ thực sự đã là mùa xuân rồi, mùa xuân cho chính họ và mùa xuân cho cuộc đời.

blank
 

***

Tôi lại nghĩ đến hình ảnh đơn độc của Văn Cao. Một mình ông, giữa một Hà Nội ồn ào tiếng loa phóng thanh và cờ hoa. Khi cả nước cùng rộn ràng yêu tổ quốc là “yêu XHCN” thì Văn Cao vẫn yêu theo cái cách riêng của mình. Là một họa sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ, nhưng ít ai biết ông còn là một võ sĩ, người đã từng đặc trách huấn luyện đội đặc nhiệm chuyên ám sát của Việt Minh. Tuy ca khúc của người cựu chiến binh cô độc này bị cấm hát ở quê nhà, nhưng nó lại được cất lên đầu tiên ở nước Nga lạnh giá.

 

Trái tim có lý lẽ của nó, làm sao giải thích được vì sao sau hơn 40 năm, khi người trong nước tìm mọi cách để lìa bỏ quê hương thì người Việt tha hương vẫn thiết tha từng tấc đất, tấc biển đã cách xa hàng nửa vòng trái đất; vẫn xót xa với từng bất công, đau thương ở quê nhà. Làm sao giải thích được vì sao người cựu chiến binh hải quân Châu Văn Khảm, ở tuổi đời 70 lại trở về, dù phải đối mặt với tù tội. Cũng khó mà giải thích về chị Huỳnh hay nhà văn Nhã Thuyên, chỉ biết rằng khi một người dám sống với niềm tin và chọn lựa của mình, họ làm cuộc sống chung quanh thay đổi.

 

Tôi tin vào lịch sử nước mình. Tôi tin rằng có một ngày VN sẽ là một Venezuela. Khi ấy, không chỉ những con đường ở Hà Nội, Sài gòn, Đà Nẵng… tràn ngập bước chân người xuống đường, mà sẽ ở khắp mọi nơi trên thế giới. Từ khắp những nẻo đường ở Hoa Kỳ, từ Úc Châu, Âu Châu, … nơi có người Việt Nam hiện diện.
 

Nguyệt Quỳnh



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.