Hôm nay,  

Thuý Kiều Nôm Nam 1

11/12/201811:08:00(Xem: 6841)

Toàn bản Nôm viết tay này gồm 10 tờ (20 trang), chữ đẹp hào hoa, cũng chút khó đọc nếu ta không quen vì nhiều chỗ viết tắt và bay bướm. Tôi bắt đầu  phiên âm những ngày cuối năm 2018, mò mẫm vì có quá nhiều chữ mới gặp lần đầu. Điều khó khăn là người viết theo âm Nam kỳ cho nên gặp chữ thả lại phải phân vân thả hay thỏa, gặp chữ tuế phải phân vân tuế, tuổi hay tủi, gặp chữ bôn thắc mắc bôn buôn hay buông… Chuyện như vậy rất nhiều không ra hết vì đây chẳng phải chỗ để nói.

Điều đáng nói là bài nầy giọng điệu như Túy Kiều Phú lưu hành xưa nay, nhưng dài hơn và chi tiết hơn. Qua bài nầy ta thưởng thức được giọng Nam của thơ, biết được một số từ xưa nay không dễ gì nghe thấy nữa  … (NVS)

(1a)   Vương Thúy Kiều là con (ông) viên ngoại,

Lúc sanh thành ở tại Bắc Kinh.

Thúy Kiều còn niên thiếu ấu sinh.

Chị em xúm xích chơi ngoài cửa.

Tên đâu lạ bất tường hương sở.

Gọi rằng người tướng sĩ du phương.

Vừa ngẫu nhiên bước tới thấy nàng,

Đứng ngẩn lại xem qua tài tướng.

Như người là:

Dung nghi đáng thiên kim vạn lượng.

Nhắm sau dầm tuyết nguyệt phong hoa.

Tiết thanh minh nhằm lúc tháng ba.

Chị em mới rũ nhau đi tảo mộ,

Nghe tiếng lạc chàng Kim đến đó.

Thấy Thuý Kiều lại với Thúy Vân,

Vương gặp Kim mừng rỡ chào rằng:

‘Người bạn học Khổng môn đồng nhứt mạch.’

Trời hầu xế vó câu nhẹ tếch,

Ba chị em xe ngựa ra về.

Đoái xa xem kìa ngọn tiểu khê,

Bên cầu thấy nấm mồ vô chủ.

Vương Quan dẫn sự kim tích cổ

‘Đạm Tiên xưa là gái nhà trò.

Như nàng đà:

Biết mấy nơi sông hẹn núi hò.

C:\Users\Admin\Desktop\NVS_TTKN 1a.jpg


C:\Users\Admin\Desktop\NVS_TTKN 1b.jpg

(1b) Chiều chín suối, biết ai là chủ.’

Kiều nghe nói mấy lời xưa chuyện cũ.

Nước mắt min lệ ứa chéo khăn.

Thúy Vân buông lời dức chị rằng:

‘Hơi đâu tiếc những người bạc mệnh.’

Kiều thấy vậy dùn dằn ở nán:

‘Thương thân người chẳng khác thân ta.

Đốt chút hương vái đó gọi là.

Linh hồn hưởng lấy đây hành lộ.’

Vừa dứt tiếng bỗng đâu trận gió.

Hồn Đạm Tiên ngọn cỏ dấu giày.

Kiều tả thơ từ tạ một bài,

Rút trâm mới vạch da cây cổ thụ.

Đêm nằm thấy Đạm Tiên rõ huyết,

Trao mười bài thơ nọ dặn rằng:

‘Sông Tiền Đường là chỗ mãn căn.

Trần ai hết mấy năm lưu lạc.’

Tỉnh giấc điệp nghĩ thân mà bát ngát.

Dựa song ngồi than khóc năm canh.

Mẹ lóng nghe bèn hỏi sự tình,

Kiều rằng: ‘Thấy Đạm Tiên mách bảo,

Ngậm ngùi tưởng thâm ân chưa báo.

(2a) Tủi phận mình sau có ra chi!’

Mẹ dứt Kiều con chớ sầu bi.

Giải lòng lấy rằng điềm mộng mị.

                   ***

Nguyễn Văn Sâm, CA, Dec, 09, 2018

 .

LINKS:

 

Thuý Kiều Nôm Nam 1

https://vietbao.com/a288521/thuy-kieu-nom-nam

.

Thúy Kiều Nôm Nam - Đoạn 2: Đính Ước

https://vietbao.com/a288890/gioi-thieu-mot-ban-tom-luoc-kieu-thuy-kieu-nom-nam-doan-2-dinh-uoc

.

Thúy Kiều Nôm Nam - Đoạn 3

https://vietbao.com/a288929/thuy-kieu-nom-nam-doan-3-kieu-sang-phong-tro-tinh-nhan-trong-ve-ho-tang

.

Túy Kiều Nôm Nam, đoạn 4
https://vietbao.com/a289353/tuy-kieu-nom-nam-doan-4 

.

Túy Kiều Nôm Nam, đoạn 5: Chạy họa Hoạn Thư
https://vietbao.com/a289453/tuy-kieu-nom-nam-doan-5-chay-hoa-hoan-thu-bo-vo-duong-doi 

 .
Túy Kiều Nôm Nam, đoạn 6: Bị bán lại thanh lâu, gặp Từ Hải

 https://vietbao.com/a289594/tuy-kieu-nom-nam-doan-6-bi-ban-lai-thanh-lau-gap-tu-hai 

 .
Túy Kiều Nôm Nam, đoạn 7: Từ Hải tử nạn, Kiều than khóc
https://vietbao.com/a290022/tuy-kieu-nom-nam-doan-7 

 


  

.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.