Hôm nay,  

Suy Niệm Mùa Vu Lan

02/09/201806:17:00(Xem: 5086)
blank

SUY NIỆM MÙA VU LAN


Camli Nguyễn Thị Mỹ Thanh



Trong những năm tháng xa xưa, tôi thường cùng với Má đi qua chùa mỗi dịp lễ Vu Lan. Má trung thành với Tịnh xá này. Tịnh xá ở gần nhà, và là nơi Má thân thiết từ nhiều năm. Đó là nơi Má dẫn dắt một “ca đoàn” nho nhỏ (chữ của Má nói vui) mỗi khi tụng niệm. Thuở đó Má còn khỏe, giọng Má vững vàng, vang xa. Hàng tuần Má đều qua tụng kinh bên chùa. Cả nhóm cứ theo Má mà tụng. Hôm nào Má bận việc không đến, mấy cô bác trong nhóm nói là “thiếu người bắt giọng” tụng không hay. Các con ghẹo Má: “Má như là một ca sĩ ấy!” Má yêu cảnh chùa, yêu chốn tĩnh mịch, nhưng cũng là nơi “có tính xã hội hóa cao”, nói theo cách mới bây giờ. Ở đó, Má thấy vui vì làm được nhiều việc Má thích, như giúp Sư Bà và các sư cô lo việc cúng Phật, gặp gỡ các đạo hữu, chuyện trò an ủi nhau…


Mỗi mùa Vu Lan, chúng tôi được nghe Sư Bà giảng về giai thoại Đức Mục Kiền Liên cứu mẹ ở chốn địa ngục. Sư Bà giọng ấm, tiếng rõ ràng, diễn giải ý nghĩa của câu chuyện, khuyên mọi người làm lành lánh dữ. Trong mùa Vu Lan, tâm tư chúng ta hướng vọng “cửu huyền thất tổ”. Thành ngữ này đã trở nên rất quen thuộc, giải thích thì hơi phức tạp, nhưng hiểu thì rất nhanh, chính là ông bà cha mẹ của chúng ta từ nhiều kiếp trước.

Tôi đi xa, không còn dịp đi chùa cùng với Má. Má vẫn dẫn dắt “ca đoàn” của Má, không những ở chùa, mà còn đi đến những gia đình cần lời kinh tiếng kệ, hoặc để cầu an cho người đang bệnh, hoặc để cầu siêu cho người đã qua đời.

Sư Bà nay đã viên tịch. Má không còn tỏ mắt như xưa. Má chỉ đi chùa mỗi khi có dịp đặc biệt. Dù ít, nhưng đó vẫn là một sinh hoạt không thể thiếu.

Mùa Vu Lan, mùa báo hiếu! Đến mùa Vu Lan, người ta cầu nguyện cho ông bà cha mẹ, nếu đã qua đời thì được siêu thoát, nếu còn sống thì được khỏe mạnh an vui. Riêng chữ “hiếu” cũng có nhiều thay đổi. Tôi còn nhớ lúc học ở bậc trung học, học trò ai cũng biết những câu chuyện trong “Nhị Thập Tứ Hiếu”. Tôi thích nhất bài “Mẫn Tử Khiên”, được ông Lý Văn Phức dịch và viết với thể thơ song thất lục bát rất dễ học, dễ nhớ:

Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa,
Xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu.
Thờ cha sớm viếng, khuya hầu,
Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn.

Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo,
Hai em thời áo kép, mền bông,
Chẳng thương chút phận long đong,
Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân.

Khi cha dạo, theo chân xe đẩy,
Rét căm căm nên xẩy rời tay,
Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay,
Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tùy.

Sa nước mắt, chân quỳ, miệng gửi:
Lạy cha, xin xét lại nguồn cơn,
Mẹ còn, chịu một thân đơn,
Mẹ đi, luống những cơ hàn cả ba.

Cha nghe nói cũng sa giọt tủi.
Mẹ nghe rồi cũng đổi lòng xưa,
Cho hay hiếu cảm nên từ,
Thấm lâu như đá cũng rừ, lọ ai?

Tôi thích chuyện thầy Mẫn Tử vì ngoài ca ngợi lòng hiếu thảo, chuyện còn có ý nghĩa về lòng nhân đạo và sự thứ tha. Tôi cũng thích chuyện thầy Tử Lộ đội gạo nuôi mẹ mà nghệ sĩ Hữu Phước diễn tả qua bài vọng cổ “Đội Gạo Đường Xa” của soạn giả Kiên Giang, sâu sắc, thấm vào lòng người; hay chuyện Lão Lai Tử đã bảy mươi tuổi nhưng vẫn ăn mặc sặc sỡ, múa hát, thậm chí cất tiếng khóc “oa oa” để làm vui cha mẹ.

Nhưng không phải chuyện nào cũng tốt. Sau này tôi vẫn thường chia sẻ với các bạn rằng chúng ta không nên rập khuôn chữ hiếu, nhất là với cái học lấy mẫu mực từ văn hóa Trung Hoa có thể không phù hợp. Điển hình là trong “Nhị Thập Tứ Hiếu” có chuyện kể nhà kia rất nghèo, đến mùa đói kém không có thức ăn, trong nhà có bà mẹ già yếu và đứa con nhỏ, hai vợ chồng vì “hiếu với mẹ” nên đem con đi chôn để bớt đi một miệng ăn, cho mẹ có cơ hội được ăn nhiều hơn. Chôn sống đứa con, Trời ạ! Tôi kịch liệt phản đối.

Sống ở hải ngoại, nhất là nước Mỹ, nhiều người nghi ngờ rằng chữ “hiếu” không còn. Tôi thì tin rằng có. Bàng bạc trong mỗi người con đều có chữ hiếu. Chỉ khác là chữ hiếu không trở thành một cái gì bắt buộc do nề nếp gia đình hay truyền thống dân tộc, từ những bài học đã thành khuôn mẫu cho mọi người. Lòng hiếu vẫn có, và có thể hiện, nhưng theo tự nhiên.

Và chắc có lẽ cũng vì xã hội chăm lo cho người già và người bệnh khá chu đáo nên những người con không cảm thấy quá khó khăn khi cha mẹ đã già. Nước Mỹ có chương trình “In Home Supportive Services” , tùy theo mức độ bệnh tật của người già, chính phủ sẽ cung cấp tiền giúp đỡ để con cái có thể thuê người chăm sóc cha mẹ khi mình phải bận bịu đi làm. Còn một chọn lựa khác nữa, đó là nursing home. Có người bảo vào nursing home chán và buồn lắm; có người bảo sẽ tự nguyện vào nursing home khi mình không còn tự phục vụ chính mình nữa, để con cái khỏi bận tâm. Điều quan trọng là về phần con cái, có thường xuyên thăm viếng cha mẹ hay bỏ mặc các cụ trong cảnh cô đơn?

Trong tháng Bảy âm lịch, nhiều nhà ở xóm tôi ngày trước thường nhộn nhịp cúng “cô hồn”. Đây là dịp để trẻ con lối xóm tụ lại trước những ngôi nhà, chờ gia chủ cúng xong là xông vào giành những khúc mía, củ khoai, bánh, kẹo và những đồng bạc cắc. Mấy người lớn gọi bọn trẻ là “cô hồn sống”. Nghe cũng vui vui. Má thì không cho tụi nó chen lấn giành giật. Má bảo:

“Mấy đứa đứng yên, không chen lấn, bác cúng xong sẽ phát đều cho công bằng nghen!”

Thế là bọn trẻ đứng yên. Tụi nó nể Má lắm. Mấy người được gọi là “tụi nó” giờ đây cũng đã thành tài hết cả rồi! Xóm tôi nhà cửa mọc thêm lên, chật chội. Người xóm tôi kẻ mất người còn.

Đó là chuyện ngày xưa. Bây giờ ở trong nước người ta cúng kiến càng ngày càng nhiều. Tháng Bảy âm lịch, nghề làm vàng mã tha hồ trăm hoa đua nở. Người ta đua nhau sắm nhà, sắm xe và trăm thứ tiện nghi cho người đã khuất, cho rằng họ có thể “xài” những món ấy. Hàng bằng giấy có khi to bằng hàng thật. Nhà càng giàu càng cúng cô hồn rôm rả. Đám đông người lớn con nít chen lấn “giật cô hồn”. Chủ nhà sợ bị cướp giật nên lên lan can lầu rải tiền xuống. Bên dưới, người người chen chúc xô đẩy nhau để hứng tiền. Có người bày ra “sáng kiến” hứng tiền bằng cái lồng gà to tướng có lót vải cho chắc ăn, tiền khỏi rơi ra ngoài. Nhiều em bé đi lượm tiền, bị người lớn đè muốn bẹp dí, mặc kệ, miễn hôm đó kiếm được đủ tiền mua tô phở.



Những người cộng sản vào chiếm miền Nam Việt Nam, đả phá việc tín ngưỡng, cho đó là mê tín dị đoan. Vì thế có một thời người dân không dám bày tỏ niềm tin tôn giáo của mình. Riêng chuyện “cúng cô hồn” cũng làm rất kín đáo. Bởi người ta không muốn bỏ đi một tập quán lâu đời là cúng trong tháng Bảy để cầu an vui cho gia đình cũng như nơi làm việc. Một số công sở, ban đầu rụt rè, lén lút bày bàn cúng “cô hồn” rồi nhanh tay dẹp, miễn cho “có lệ kẻo ôn mệ la”, không dám để cấp trên biết. Dần dần tục lệ cúng cô hồn phát triển, ngay cả những người gọi là “cán bộ” cũng tin tưởng và cúng tế, phô trương nhiều hơn cả “thường dân”, thật lạ!

Đến nay thì chuyện cúng vàng mã thịnh hành hơn cả trong thời chưa cộng sản. Người đã khuất đi đâu, về đâu? Họ “xài” những món hàng ấy như thế nào? Không ai trả lời được. Chỉ có một điều rất dễ hiểu là càng cổ súy cho việc mê tín đị đoan, càng có nhiều người được lợi. Và có cái lợi gì cho tâm hồn của con người không? Đó là chưa kể chuyện mua thần bán thánh. Đức Thánh Trần, vị anh hùng của dân tộc, cùng bao nhiêu vị anh hùng khác, đã bị lạm dụng để người ta có chỗ đi mua lộc, mua chữ. Bao giờ dân tôi mới hết cảnh này?

**

“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.”

Ai nghe những câu thơ trên, trong tuyệt tác “Chinh Phụ Ngâm Khúc” của Đặng Trần Côn, qua nét bút diễn nôm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm mà không chạnh lòng nghĩ đến các chiến sĩ vô danh đã bỏ mình vì đất nước?

Trong tháng Bảy, mùa lễ “Xá tội vong nhân”, tôi ngậm ngùi tưởng nhớ những người bạn của tôi, khoác áo trận, ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Có người còn về được trong quan tài, nhưng có người ở lại mãi mãi trong rừng núi, thân xác không biết về đâu. Chỉ còn lại trong trí nhớ của người thân và bè bạn tiếng cười, câu nói của họ.

Trong tháng Bảy, mùa lễ “Xá tội vong nhân”, tôi cầu nguyện cho linh hồn những người chết trong chiến tranh, những người chết trên đường vượt biên vượt biển tìm tự do.

Tháng Bảy năm nay, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng di dân, hình ảnh một em bé trai người Syria, ba tuổi, bị sóng cuốn tấp vào bãi biển Thổ Nhĩ Kỳ, đã làm cả thế giới rúng động. Aylan Kurdi nằm bình yên, vô tư như còn sống. Hình ảnh của em như một lời cáo buộc rằng ngay trên dương gian này, có những chốn còn đau thương hơn cả địa ngục, xui khiến người ta phải quyết định lìa bỏ mà đi.

**

Mùa Vu Lan. Có lẽ nhiều người còn được niềm vui mang bông hoa màu hồng trên áo, nhưng cũng có nhiều người thổn thức với màu hoa trắng. Tôi hiểu, những người con, cho dù có lớn có già bao nhiêu, ngày mất cha mất mẹ là ngày cả bầu trời sụp đổ. Tôi đã thấy một người, thường ngày rất cứng cỏi, nhưng khi mẹ qua đời, anh đã khóc như một đứa trẻ. Khi tiễn mẹ xuống lòng đất, anh đã nhoài cả nửa người xuống như muốn theo cùng mẹ.

Tôi cũng vậy, khi Ba mất, cả năm trời sau tôi mới nguôi ngoai. Giây phút đưa Ba vào nơi hỏa táng, tôi như đứa bé bị người ta lấy mất đi một cái gì quý báu vô cùng. Ba ơi, từ đó Ba đã biến mất!

Bạn tôi, T.C., mẹ mất sớm. Ai có hiểu trong con người nghiêm nghị thường ngày giảng đạo pháp trước bao nhiêu người, là nỗi thao thức nhớ đến mẹ của mình hằng đêm. Chị viết trong bài “Cổ Tích”:

“Má tôi mất, tôi không khóc nhưng lòng không sao nguôi ngoai được…”

Một khuya, kiểng thức chúng, tự nhiên tôi nghe như tiếng má tôi gọi tôi. Tôi bật dậy, bàng hoàng, chợt nhận ra chuyện cổ tích có thật. Lòng tôi nhẹ bổng, thương nhớ như nguôi ngoai. Má vẫn ở cạnh tôi, chăm chút tôi như bao giờ.

Tình cờ cũng mùa hạ năm đó, khi tự tứ, trên mỗi phần quà chia chúng, sư Trụ trì tôi gắn cho mỗi người một đóa hồng nhung ĐỎ thắm. Sư bảo:
“Mẹ thì không bao giờ mất.”

Tôi vừa gói quà vừa đáp bằng giọng chắc nịch:
“Đúng rồi cô! Mẹ thì không bao giờ mất.”

Lễ Vu Lan và lễ “Xá tội vong nhân” ở cùng trong tháng Bảy âm lịch. Trong mùa lễ này, chúng ta cùng suy niệm những điều giữa sự sống và cái chết. Một bác vừa qua đời, cây hoa wisteria trong vườn nhà bác bỗng dưng tàn héo, đổ gục. Nhưng mấy hôm sau, nhiều loài cây khác lại trỗi dậy và nở hoa. Người thân của bác qua sự mất mát cũng cảm thấy một niềm an ủi. Không có gì là chấm dứt. Tất cả đều sẽ bắt đầu.

Để tạm dứt về những suy niệm tản mạn tháng Bảy, có lẽ thật đầy ý nghĩa khi chúng ta cùng thưởng thức bài thơ “Do Not Stand At My Grave And Weep”của Mary Elizabeth Frye, bà viết để an ủi một người con gái đau buồn vì không được ở bên mẹ trong những giây phút cuối đời.

Do not stand at my grave and weep
I am not there; I do not sleep.
I am a thousand winds that blow,
I am the diamond glints on snow,
I am the sun on ripened grain,
I am the gentle autumn rain.

When you awaken in the morning’s hush,
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.
Do not stand at my grave and cry,
I am not there; I did not die.

Nữ nhạc sĩ Trần Bảo Như đã viết lại bài thơ này thành nhạc phẩm “Tôi Vẫn Quanh Đây”. Tôi xin mượn bản nhạc này để khép lại những dòng tản mạn về suy niệm mùa Vu Lan, tháng Bảy.

Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt,
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô cằn
Tôi trong ngàn cơn gió thoáng mơn man
Trong lấp lánh ngút ngàn hoa tuyết trắng.

Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô khan
Tôi nắng tung tăng trên đồng lúa chín vàng
Trong thu êm dịu lất phất mưa giăng.

Tinh sương giá băng lúc anh thức dậy
Tôi là bóng chim thoắt chốc vụt bay
Rời lũ chim ngoan lao xao chung bầy
Như cánh thiên di xa bay xứ lạ.

Khi đêm tối buông lối anh đi về
Tôi ngàn cỏ lá đón bước chân quen
Còn nếu khi người ưu tư riêng bóng
Tôi ánh sao xa góc trời mơ ảo.

Đừng đứng bên mộ tôi trong sầu não
Tôi không ở đó, tôi vẫn quanh đây
Tôi áng mây bay lãng đãng theo ai
Trong ráng sớm hừng đông ai thức dậy.

Đừng đứng bên mộ tôi mắt lệ rớm
Tôi không ở đó, tôi vẫn quanh đây…

Camli Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Tháng Bảy âm lịch 2015 

(Nguồn: Yêu Nước VN)
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.