Hôm nay,  

Vòng Cung Phật Giáo Tại Á Châu

12/13/201700:00:00(View: 5099)
Đào Văn Bình

 
Nhìn vào bản đồ Á Châu chúng ta thấy một hành lang, một bao lơn bao gồm những quốc gia Phật Giáo nhìn ra Thái Bình Dương, đó là: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Căm Bốt, Lào, Việt Nam, Trung Hoa, Triều Tiên, Đài Loan và Nhật Bản (không kể Mông Cổ). Hành lang này rất may mắn vì không bị đứt đoạn hay xen kẽ bởi bất cứ một tôn giáo nào khác. Theo tài liệu của Wikipedia:

-Tích Lan, 70% dân số theo Phật Giáo.

-Miến Điện, 88% dân số theo Phật Giáo.

-Thái Lan, 94% dân số theo Phật Giáo.

-Căm Bốt, 97% dân số theo Phật Giáo.

-Lào, 65% dân số theo Phật Giáo.

-Việt Nam 85% dân số theo Phật Giáo, nhưng thống kê của chính quyền nói rằng chỉ có khoảng 13% là tín đồ Phật Giáo. Thống kê này tương phản với hình ảnh sinh hoạt Phật Giáo ở khắp nơi. Những “Khóa tu một ngày”, quy y tập thể, trại sinh hoạt của thanh niên sinh viên Phật tử, Gia Đình Phật Tử, những buổi giảng pháp quy tụ khoảng vài ngàn người, kể cả vùng biên thùy, vùng núi. Những Hội Chảy Chùa Hương, hành hương chiêm bái Đền Trần, Trúc Lâm Yên Tử …quy tụ vài trăm ngàn người có khi lên tới cả triệu cho thấy tâm linh của dân tộc này là Phật Giáo và nhớ ơn Tiên Tổ. Ngoài ra, sinh viên đại học, thương gia, bác sĩ, kỹ sư, giáo chức...đủ mọi ngành nghiên cứu tập Thiền và nghe giảng về đạo đức nghề nghiệp theo lời dạy của Phật trở thành phổ biến.

-Trung Hoa, theo thống kê của chính phủ, chỉ có 16% dân số theo Phật Giáo. Thế nhưng trong sách “Thiền Tông Qua Bờ Kia” vừa xuất bản của Nguyên Giác, “Theo Báo Hindustan Times ngày 4 tháng 2/2013, Bản tin kể rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã từng trao tặng Phó Thủ Tướng Trung Quốc Tập Trọng Huân (cha của Tập Cận Bình) một đồng hồ, và ông cụ Tập đó đã mang nơi cổ tay nhiều năm. Bà Bành Lệ Viên không chỉ là một Phật Tử Phật Giáo Tây Tạng mà còn là một người tu trì thuần thành trong truyền thống này. Theo nhận định của Robert Barnett, học giả về Tây Tạng ở Đại Học Columbia… dưới mắt ông Tập Cận Bình, Phật Giáo đã trở thành một phương tiện an dân, hộ quốc.” tức ngấm ngầm trở thành quốc giáo nhưng không nói ra.

-Triều Tiên (cả hai miền), theo thống kê năm 2005, 23% dân số theo Phật Giáo, còn 46% không gắn bó với tôn giáo nào. Thế nhưng Phật-Lão-Khổng vẫn là nền tảng của văn hóa Triều Tiên.

-Đài Loan, 35% dân số theo Phật Giáo, 33% theo Lão Giáo. Như vậy truyền thống của Đài Loan vẫn là Phật-Lão-Khổng.

-Nhật Bản, 35% dân chúng theo Phật Giáo và Thần Đạo 51% nhưng truyền thống văn hóa của Nhật Bản vẫn là Phật Giáo.

Hành lang Phật Giáo này chính ra đã có thêm cái bao lơn khổng lồ là Ấn Độ và kéo dài xuống tận Nam Dương - đã có thời huy hoàng với Bảo Tháp Borobudur tại Đảo Java – một kỳ quan của thế giới được xây dựng vào Thế Kỷ thứ IX nhưng sau đó suy tàn vì ảnh hưởng của Ấn Độ Giáo rồi biến mất do ảnh hưởng của Hồi Giáo. Tại Ấn Độ, sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, Phật Giáo gần như bị hủy diệt,  “Một trong những nguyên nhân chính làm cho Phật Giáo suy tàn và sụp đổ nhanh chóng ở Ấn Độ là sự đàn áp của những nhà cầm quyền Bà La Môn cũng như những người cuồng tín.” (Thư Viện Hoa Sen). Rồi sự xâm lăng và tàn sát của Đế Quốc Hồi Giáo vào Thế Kỷ thứ X làm Phật Giáo “mất tích” luôn. Thế nhưng ngày nay có khác, Phật Giáo đang trở mình và hồi sinh ở Ấn Độ. Các nhà lãnh Ấn Độ nhận thấy rằng Phật Giáo không nguy hiểm cho nền an ninh chính trị của họ. Điều đó có nghĩa là Phật Giáo không đòi phải nắm lấy chính quyền, không đòi ly khai, cát cứ hay bất cứ một thứ quyền lợi, bổng lộc, ưu đãi nào của chính quyền. Cứu cánh của Phật Giáo là hoàn thiện con người, đem lại hạnh phúc cho con người mà Từ Bi và Trí Tuệ là phương tiện rốt ráo để đạt cứu cánh đó. Chính vì thế mà Thủ Tướng Ấn Độ Modi, đi đâu ông cũng đều xiển dương giá trị hòa bình và nhân bản của Phật Giáo và hãnh diện vì Đức Phật đã ra đời từ đất nước ông. Ngày nay các hàng trí thức Ấn Độ và thành phần “tiện dân/Thủ Đà La/người Dalit” (Untouchables) quy y tập thể theo Phật Giáo rất đông.

Bằng cứ vào lịch sử, chúng ta thấy các quốc gia sống trong “Vòng Cung Phật Giáo” đều:

-Không có “thánh chiến” hay xung đột vì khác hệ phái, tông phái như vùng Ả Rập, Trung Đông hay Ái Nhĩ Lan giữa Tin Lành và Ca-tô Giáo La Mã. Các tông phải Phật Giáo cùng phát triển tùy căn cơ, văn hóa, tập quán của từng quốc gia và đều tôn trọng lẫn nhau. Trong Phật Giáo không có vấn đề kỳ thị.  Đức Phật dạy rằng 84,000 pháp môn chỉ là phương tiện. Phương tiện nào đưa tới an vui, hạnh phúc cho chính mình và cho mọi người đều tốt. Thật tức cười nếu nói rằng chỉ có cử tạ, tập võ mới tốt cho con người. Nếu vậy thì chạy bộ, bơi lội, tập khí công, hít thở, thậm chí đá bóng, đá cầu…không tốt cho sức khỏe sao? Cũng thật tức cười nếu nói chỉ tu Thiền mới thành Phật. Tu Thiền khiến thành Phật nhanh hơn nhưng rất nhiều rủi ro. Còn Tịnh Độ chậm thành Phật nhưng vững vàng, như người yếu có gậy để chống. Nếu Thiền-Tịnh song tu thì “Như hổ mọc thêm cánh”, chư Tổ nói thế. Nam Tông hay Bắc Tông, Nguyên Thủy hay Đại Thừa đều là đệ tử của Đức Phật cả.


-Thế nhưng các quốc gia Phật Giáo Á Châu có chung biên giới với Hồi Giáo đang gặp khó khăn như: Miến Điện với khu vực Rakhine của người Rohingya nằm cạnh Bangladesh, Miền nam Thái Lan có biên giới với Mã Lai, khu vực Tân Cương của người Duy Ngô Nhĩ theo Hồi Giáo ở Trung Hoa. Thậm chí Phi Luật Tân là quốc gia theo Ca-tô Giao La Mã nhưng đang phải đối phó với nguy cơ Hồi Giáo ở khu vực phía nam, sát với Nam Dương. Điều này cho thấy, nếu quốc gia bạn nằm cạnh một quốc gia theo một tôn giáo khác, bạn phải coi chừng tham vọng ly khai, đòi độc lập của nhóm thiểu số trong nước hay có thể là những cuộc xâm lăng để bành trướng tôn giáo. Thí dụ, Mễ Tây Cơ với dân số 119 triệu, nếu là một quốc gia Hồi Giáo, sẽ gây rắc rối to cho nước Mỹ. Hoa Kỳ may mắn có một hàng rào an toàn về mặt tôn giáo, Gia Nã Đại và Mễ Tây Cơ ở phía bắc và nam đều là các quốc gia theo Ca-tô Giáo La Mã hay Tin Lành. Thế nhưng Hoa Kỳ và Âu Châu đang phải đối phó với nạn khủng bố Hồi Giáo trên quy mô toàn cầu.

Từ thực tế lịch sử và chính trị đó, các quốc gia đang nằm trong “Vòng Cung Phật Giáo” ở Đông Nam Á, chủ trương đoàn kết chặt chẽ trong tổ chức ASEAN đã đành, mà phải coi nhau như huynh đệ để cùng xiển dương giáo lý của Đức Phật và duy trì một nền hòa bình, ổn định cho khu vực. Xin nhớ, giáo lý của Đức Phật là giáo lý hòa bình. Ngày nay, hai quốc gia Phật Giáo mà gây chiến với nhau là điều không thể chấp nhận được.

Hiện nay Tổng Thống Maithripala  Sirisena của Tích Lan đang đóng vai trò tích cực trong việc phát triển Phật Giáo và nối kết các quốc gia Phật Giáo tại Á Châu.

Nhìn vào những bất ổn chính trị và thảm họa chiến tranh trên toàn thế giới chúng ta thấy: Muốn duy trì ổn định chính trị, ngoài chủ trương tự do tôn giáo, bình đẳng xã hội, phải làm sao phát triển một tôn giáo dòng chính (mainstream) làm trụ cột cho văn hóa và tâm linh dân tộc. Chính quyền chỉ có thể duy trì kỷ luật của quốc gia. Nhưng đoàn kết đất nước, yếu tố quan trọng nhất vẫn là văn hóa, truyền thống và tâm linh. Văn hóa bao gồm lối sống, chữ viết, ngôn ngữ đồng nhất, các tác phẩm văn chương, tôn trọng các lời di huấn của Tổ Tiên, tôn trọng các bậc đạo đức, danh nhân, các bậc anh hùng đã đứng đóng góp công lao và trí tuệ cho dân tộc. Truyền thống bao gồm các lễ hội lớn của đất nước. Còn tâm linh, về mặt chìm là niềm tin vào một tôn giáo. Về mặt nổi là sự hiện diện của chùa chiền, miếu đền, các di tích lịch sử. Chúng ta hãy nghe lời dạy của Đức Phật về những điều kiện cường thịnh của một quốc gia: (*)

“Cuộc hành trình cuối cùng của Đức Phật bắt đầu từ Thành Vương Xá (Rajagaha) kinh đô xứ Ma Kiệt Đà (Magadha). Trước khi ngài rời Thành Vương Xá (Rajagaha), Vua A Xà Thế (Ajatasattu), vị vua giết cha, có sai viên đại thần đại thần của mình có tên Vassakara đề dò ý kiến Ngài về mưu định của nhà vua muốn gây chiến với nước Cộng Hòa Vajjian (8), thuở ấy rất trù phú. Điều kiện thịnh suy. Đức Phật dạy:

1) Ngày nào mà người dân Vajjian còn thường gặp gỡ và tụ họp đông đảo với nhau;

2) Ngày nào mà người dân Vajjian còn tụ họp trong tinh thần đòan kết, còn vươn mình tiến triển trong tinh thần đòan kết và làm tròn nhiệm vụ trong tinh thần đòan kết.

3) Ngày nào mà người dân Vajjian không ban hành những đạo luật mới mẻ chưa từng được ban hành, không hủy bỏ những đạo luật sẵn có, và sống thích hợp với những quy tắc cổ truyền;

4) Ngày nào mà người dân Vajjian còn hộ độ, tôn sùng, kính trọng và đảnh lễ các bậc trưởng thượng trong xứ, và còn nghe những lời dạy thích nghi của các vị này;

5) Ngày nào mà người dân Vajjian không còn một người đàn bà hay con gái nào bị quyến rũ hay cưỡng ép phải sống với kẻ ngọai nhân;

6) Ngày nào mà người dân Vajjian còn bảo trì, tôn trọng, kính nể và làm vẻ vang các tôn miếu của họ, dù ở trong hay ở ngòai tỉnh thành, và không sao lãng những nghi lễ cổ truyền;

7) Ngày nào mà người dân Vajjian còn bảo bọc, bênh vực, và nhiệt thành ủng hộ các vị A La Hán, khiến các vị nào chưa đến sẽ đến trong xứ và vị nào đã đến, được sống an lành.

Ngày nào mà bảy điều kiện trên còn được thực hiện, thì dân tộc Vajjian không thể suy đồi, trái lại còn cường thịnh hơn trước.” Khi nghe chính Đức Phật giảng dạy bảy điều kiện thịnh suy của người dân Vajjian, vị đại thần Vassakara nhận thức chắc chắn rằng vua  xứ Ma Kiệt Đà (Magadha) không thể chiến thắng dân tộc Vajjian. “

Ngày nay, khác biệt tôn giáo đang là nguy cơ chia cắt và bất ổn trên toàn thế giới. Các tôn giáo cực đoan đều muốn nắm lấy chính quyền, thu tóm tài nguyên của đất nước, biến giáo luật thành luật pháp quốc gia, khống chế tư tưởng con người và triệt hủy mọi phong tục tập quán, văn hóa của người dân bản địa khi họ nắm được chính quyền hay lật đổ được chính quyền.

Đào Văn Bình

(California ngày 12/12/2017)

 

(*) Trích trong Đức Phật và Phật Pháp của Ngài Narada Maha Thera,  Phạm Kim Khánh dịch

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.