Hôm nay,  

Lễ Xây Chầu

28/09/201700:00:00(Xem: 8020)

Lễ Xây Chầu
Châu Văn Đễ

 
Viết lại bài nầy theo tài liệu của Đốc Sự Châu Ngọc Thôi, Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa VNCH, theo Chánh Trí Mai Thọ Truyền, theo Đốc Sự Đỗ Văn Rỡ, Trưởng Ban Quý Tế Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt (Lăng Ông Bà Chiểu) theo nhà văn Sơn Nam và nguồn “Wikipedia”cùng những phim ghi lại các lễ Xây Chầu tại Miền Nam Việt Nam.

Tôi giữ nguyên văn những lời chú nguyện theo âm điệu cổ truyền, chỉ mạn phép thêm vài chi tiết cho phù hợp với thân trạng hoàn cảnh của người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản tại hải ngoại.                              

Đốc sự Châu Văn Đễ

Chủ Tịch Hội Lăng Ông Bà Chiểu Association

(Sao lục nhơn Lễ Vía Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt ngày 10 tháng 9 năm 2017 tại Hội Trường Việt Báo, thành phố Westminster, California)

 
***

 
Niệm Hương trước Bàn Thờ Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt:

 
(Tay cầm 3 cây nhang xá 3 xá)

Nguyện:

Tạ Thiên tạ Địa

Tạ tối cao lãnh đạo Tổng Thống Donald Trump, đời thứ 45 Hoa Kỳ

Tạ Linh Thần thành phố Westminster, California

Phục duy:

Huyền hư hữu tượng

Cảm dĩ tại thông

Cẩn chú thanh hương

Kiền thiền bái khải

Nhứt niệm Đạo hương: Thượng thấu Thiên quang

Nguyện vĩnh bảo san hà xã tắc

Nhì niệm Đức hương: Trung đạt Địa quang

Nguyện quốc thới dân an vật phụ

Tam nguyện Thanh Tịnh hương: Hạ triệt Thủy quang

Nguyện tứ hải phong hòa võ thuận

Tứ thời diệu võ

Lệ đáo Kỳ Yên

Ca xướng nhứt diên

Chấp lệnh giả… (Châu Văn Đễ, Chủ Tịch Hội Lăng Ông Bà Chiểu)

Nhập đàn khởi cổ

Nguyện tứ trinh tường

Cung vọng:

Tôn Thần vi linh

Phù thùy chứng lễ

Nhứt bái: Nguyện thiên cao ấn giám (1 lạy)

Nhì bái: Cầu địa hậu minh tường (1 lạy)

Tam bái: Vọng Tiên Thánh chiêu dương (1 lạy)

Tứ bái: Thỉnh Linh Thần hân cảm (1 lạy)

(Xá, đi ra bàn Tổ Xây Chầu đặt trước sân khấu)

 
Niệm Hương trước Bàn Thờ Xây Chầu:

 
Phục duy: Thánh Thần chi đạo

Cảm dĩ tại thông

Cẩn chú thanh hương

Kiền thiền kính khải (xá)

Nhơn tư diệu võ

Lệ đáo Kỳ Yên

Ca xướng nhứt diên

Chấp lệnh giả đệ tử … (Châu Văn Đễ, Chủ Tịch Hội Lăng Ông Bà Chiểu)

Nhập đàn khởi cổ

Nguyện tứ thông linh

Cung vọng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt

Minh minh chứng thị:

Nhứt bái Thiên (1 lạy)

Nhị bái Địa (1 lạy)

Tam bái Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt (1 lạy)

 
Tẩy Uế:

(1 chén nước 3 cái bông, 3 cây nhang. Cầm chén nước có bông và 3 cây nhang quay về hướng Bắc đọc chú)

Thiên nhứt sanh thủy

Địa lục thành chi

Nhứt lục ký lịnh

Ngủ hành nại ky

Thần thủy sái động

Uế trục trần phi

(Quay qua hướng Đông hớp sanh khí thổi nhang vào trong chén nước và nguyện:

CÀN--NGƯƠN--HANH--LỢI--TRINH

Lấy bông quậy vô nước rồi rải lên dùi trống, lên sân khầu, lên bên cái trống)

 
Lên Sân Khấu:

Đứng trước trống chầu, vừa đi chung quanh vừa khấn:

Luân hoàn động chuyển, định âm dương

Tứ trụ Thiên Thần trấn tứ phương

Đệ tử nhập đàn cầu khởi cổ

Trùng hưng xã tắc thọ miên trường

(mở khăn đỏ để trên mặt trống, lau mặt trồng và dùi trống)


Khởi Cổ:

Đọc chú lau mặt trống:

Nhứt tẩy cổ diện, tịnh trừ cấu uế

Nhì tẩy cổ diện, diện sắc quang minh

Tam tẩy cổ diện, diện xuất lôi âm

Chú khai cổ:

Đọc chú và viết chữ LÔI

Thượng thân nhứt túc

Âm tợ Lôi sanh

Biến cổ chấn thanh

Thông thiên triệt hạ

Tà ma quỉ mị

Viễn ẩn thâm kinh

Hoặc cầm dùi trống vẽ trên không chữ Thạnh, thụt lùi 3 bước, chưn bấm vẽ chữ Sát để trừ ác quỉ. Bước lên vẽ trên mặt trống Tứ Tung Ngủ Hoành (Vẽ liên tục)

Chú điểm dăm: (Nhắm hướng đại lợi, miệng đọc chú, tay nhịp dăm trống)

Nhứt trịch chư Thiên giáng phước

Nhì trịch chư Địa phi tai

Tam trịch chư Thần lai chứng

Chú điểm dùi trống:

Nhứt khắc mộc, mộc phát sum lâm

Nhì khắc mộc, mộc quái bất sanh

Tam khắc mộc, mộc danh bất trụ

Chú điểm mặt trống: (Ba điểm tam giác trên mặt trống)

Nhứt điểm, nguyện tối cao lãnh đạo, Tổng Thống Donald Trump, đời thứ 45 Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ:

Vượng bá hà xương

Vạn thọ trinh tường

Thiên niên đức hóa (Nhịp 3 nhịp)

Nhì điểm, nguyện tứ phương ninh tịnh

Hải yến hà thanh

Văn võ công khanh

Linh qui hạt toán (Nhịp 3 nhịp)

Tam điểm, nguyện quốc phú binh cường

Văn tu võ tiến

Quốc gia lạc kiểng

Điền uyển phong đăng

Nhơn khương vật phụ

Túc thực mãn y

Sĩ nông vinh vi

Công thương hưng phát

Ngư lâm thạnh đạt

Bá tánh đắc thường (nhịp 3 nhịp)

Chú điểm nhựt nguyệt: (nhịp giữa mặt trồng)

Phụng thỉnh:

Dần Thân Tỵ Hợi luân tứ trụ

Tứ thánh, cùng Thần cổ linh linh

Lai giáng bổn đàn

Minh minh chứng chiếu (Nhịp 3 chập, mổi chập 2 nhịp)

Chú Khởi cổ: (Đọc chú, đánh 3 dùi mạnh, 3 chập, tay chấp âm dương, hai tay cầm dùi)

Nhứt kích cổ (3 dùi đều) Thiên thời đại thạnh

Nhì kích cổ (3 dùi đều) Địa lợi trường tồn

Tam kích cổ (3 dùi đều) Nhơn hòa vĩnh phúc

Chú đả liên thanh (đánh ba hồi trước nhẹ sau mạnh và vuốt gọi là tiền bần hậu phú)

Nhứt liên thấu triệt Thiên đình (30 dùi chậm, thúc mạnh, vuốt gọi là Tam tài)

Nhì liên thông toàn Trung giới (40 dùi chậm, thúc mạnh, vuốt gọi là Tứ quí)

Tam liên đáo tận Long cung (50 dùi chận, thúc mạnh, vuốt gọi là Ngũ phúc)

Chú lại dùi:

Nhứt thông (1 dùi mạnh) Thiên hạ thái bình

Nhì thông (1 dùi mạnh) Thành phồ Westminster, California đắc an ninh

Tam thông (1 dùi thật mạnh) bổn ban Câu Lạc Bộ Hát Bội đồng hòa tấu cửu liên để cung nghinh Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt:

Kính mời tất cả quý vị đứng lên. Lễ nhạc hòa tấu nghinh Thần.

Xướng chúc…(tiếp nơi trang 8)

 
(Hai tay chấp âm dương, đánh 3 dùi đều 3 chập. Nhạc tế lễ trổi 3 hồi 9 chập nghinh tiếp. Chấp sự đứng ngay thẳng, 2 bàn tay nâng dùi trống ngang ngực, ngó ngay bàn Đức Tả Quân mặc niệm).

Theo một tài liệu khác, cũng viết tương tợ: Nhứt kích cổ, đánh nhẹ ở điểm tâm linh số 1 ba tiếng trống đọc lời nguyện “Sơn hà xã tắc thiên hạ thái bình, hoặc Quốc thới dân an”


Nhị kích cổ, đánh nhẹ ở điểm số 2 đọc lời nguyện “Phong hòa võ thuận, Bá tánh lạc nghiệp”

Tam kích cổ đánh nhẹ ở điểm thứ 3 đọc lời nguyện “Lê thứ thái bình    

Ba hồi trống kế tiếp là “Điểm cổ” đánh nhẹ cái hình Thái cực vẽ trên mặt trống

Nhứt điểm cổ: đánh nhẹ 3 tiếng, xướng Trừ Càn Khảm (trừ sự bại sự hư)

Nhị điểm cổ: đánh nhẹ 3 tiếng, xướng Lập Trung Cấn Chấn (cô lập sự khóc lóc, sự chết, quỉ ma)

Tam điểm cổ: đánh nhẹ 3 tiếng, xướng Tốn, Ly, Khôn, Đoài (cầu lộc, phúc đức)

Sau đó là 3 hồi trống đánh mạnh, trước ít sau nhiều, tiền bần hậu phú. Theo cổ lệ, phần nầy phải đánh cả thảy 3 hồi là 300 dùi (80-100-120) sau giảm bớt, nay chỉ còn 120 (20-40-60) dùi vì người đánh trống chầu già yếu, không đủ sức….

 
Xướng Chúc:

Dạ dạ…Tiền khởi mãn hậu khởi sung

Kính chúc hòa hiệp thủy chung

Đồng hưng hỉ lạc

Câu Lạc Bộ Hát Bội thạnh đạt

Diễn viên nam nữ

Thanh sắc lưỡng toàn

Khởi cổ khai tràng

Để cống hiến Linh Thần và quý khách

 
Khai Tràng:

Đánh 9 tiếng 2 chập đều và lơi. Chập thứ ba 2 nhặt 1 khoan.

Trống chiến hát bội bắt mỗi chập và trống khai tràng

Xướng: Đuôi trống chầu là đầu trống chiến

Thùng ! Thùng ! Thùng ! …. Rụp

Thùng ! Thùng ! Thùng ! ..... Rụp…Rụp

Thùng ! Thùng ! Thùng ! …. Rụp…Rụp…Rụp

(Nhạc khai tràng)

Hạ giá: Khiêng trống xuống để phía bên mặt, ngó lên sân khấu

 
Hồi Chầu:

(Sau khi nghệ sĩ hạ vãn, chấp sự đứng ngó ngay lên bàn thờ Đức Tả Quân cầm dùi trống bợ hai đầu để ngang ngực)

Xướng:

Đắc thành chí nguyện

Thượng thấu Hoàng Thiên

Ca xướng nhứt diên

Hồi chầu viên mãn

(Đứng quay lại đánh 12 tiếng đều: 3X4=12 và thúc vuốt, không lại dùi, quăng dùi trống lên sân khấu, có người lượm trao lại…)

 
Hát Xây Chầu:

Mở đầu thường xuất hiện Ông Bàn Cổ, tục truyền sống tới cả ngàn năm ra múa nghinh thần, tay cầm nắm nhang gọi là “Điểm Hương”.

Có nơi bắt đầu bằng Tề Thiên Đại Thánh hay Na Tra là những vi thánh có thể đằng vân độn thủy lên xuống Thiên Đình Long Cung như trở bàn tay.

Kế đến là Xang Nhựt Nguyệt âm dương một nam một nữ y phục sặc sỡ tay cầm cái chén bịt khăn đỏ tượng trưng cho mặt trời (dương) và người cầm cái chén bịt khăn màu trắng tượng trưng cho mặt trăng (âm).Thỉnh thoảng họ âu yếm ôm nhau tượng trưng cho âm dương hòa hợp.

Người nam hát:

Thiên khai nhựt ảnh chiếu huy hoàng

Địa tịch hành phong võ lộ đoan

Hổn độn sơ khai chơn khí tượng

Càn khôn giao thới thế gian quang

Người nữ hát:

Nguyệt phách tinh quang thông thế giới

Âm dương tương khắc thị bình bang

Nam Bắc tương phân chơn bách lý

Đông Tây phối hiệp tứ thập giang

Lễ Tam Tài, Tam Tinh Thiên Địa Nhân hay gọi là Phước Lộc Thọ. Ông Phước bận áo xanh râu dài bồng đứa bé. Ông Lộc bận áo quan, tay bưng quả tươi. Ông Thọ còng lưng chống gậy. Phước Lộc Thọ còn gọi là “Ba Ông Hiền”.

“Vững tựa Nam San Phước Lộc Thọ

Nhơn gian vĩnh phước tăng huê xứ

Thế thượng thùy nhơn chiếu mãn đường”

Kế đến là Ngủ Hành “thài” rất đẹp mắt. Đó là 4 đào đẹp đẽ cầm quạt phe phẩy mặc sắc phục rực rỡ 4 màu khác nhau tượng trưng cho Kim, Mộc, Thủy Hỏa, hay Xuân Hạ Thu Đông. Và một người nam sắc phục màu vàng là Thổ tức là Đất nuôi dưởng muôn loài) hay còn gọi là “Đứng Cái”. Thài là vừa hát vừa múa theo điệu bình dân chúc phúc cho bá tánh như nhịp điệu ngủ hành xung khắc mà hóa sanh muôn vật. Màn nầy còn gọi là “Một ông bốn bà” ý nói lên phong tục đa thê nhiều con nhiều vợ. Thài có những câu rất hay như:

“Âu vàng vững đạt báu ngôi

Trên Vua khai rạng dưới tôi trung thần”

…”Làu làu tiết chói Nghiêu thiên

Hây hây Thuấn nhựt, Vua Lê trị đời”

(Vua Lê đây là nhà Hậu Lê, khi Chúa Nguyễn vào Nam mở nước).

Có khi có màn trình diễn Tứ Thiên Vương bắt nguồn từ Ấn Độ. Bốn vị nầy tượng trưng cho mưa gió sấm sét, họ hòa hợp nhau tạo mưa thuận gió hòa. Khi múa xong họ trưng ra những biểu hiệu như “Thiên hạ thái bình”, “Quốc thái dân an” để dâng lên cho ban tổ chức. Đó là 4 người nam mặt trắng, đầu đội kim khôi, chưn đi hia, lưng mang cờ lịnh cùng múa và hát:

Đông Phương giáp ất Mộc

Thiên Vương Mã Lê Thanh

Tây Phương canh tân Kim

Thiên Vương Mã Lê Bạch

Nam Phương bính đinh Hỏa

Thiên Vương Mã Lê Hồng

Bắc Phương nhâm quý Thủy

Thiên Vương Mã Lê Thọ

Theo nhà văn Sơn Nam, khi Đức Phật chào đời, chín con rồng hiện ra phun nước tắm Ngài và bốn vị Thiên Vương Ma Lễ Hải làm mưa, Ma Lễ Thanh thổi sáo gọi gió, Ma Lễ Thọ gìn giữ mưa điều hòa và Ma Lễ Hồng dùng cây đàn Ấn Độ điều tiết cho gió vừa phải.

Cũng có màn Bát Tiên múa chúc thánh thần và dâng lễ dân làng. Cũng có màn “Gia quan tấn tước”, một nghệ nhơn mang mặt nạ “Ông Địa” xuất hiện múa vui.

Sau cùng là các màn Hát Bội như Thần Nữ dâng Ngủ Linh Kỳ, Bao Công Xử Án Quách Hòe, Ngủ Long Công Chúa, Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, Tôn Vương Đường Lý Đáng… và đặc biệt Tuồng San Hậu. Các tuồng tích Hát Bội của Đào Tấn vào thời Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt làm Tổng Trấn Gia Định Thành đã cho trình diễn và hiệu đính rất nhiều. Nhứt là Tuồng San Hậu hay Sơn Hậu là “Sau Núi” tương truyền là của Đức Tả Quân biên soạn. Tuồng San Hậu là “Tuồng Thầy”, thường diễn với 3 cảnh: “Phàn Viên Ngoại tống cung ái nữ, Tạ Thiên Lăng soán nghiệp Tề Vương”; “Giận Tạ tặc, Phàn Công chém sứ, lạc Kim Lân, Bà Thứ lìa con”; “Tạ Nguyệt Kiểu xuống tóc xuất gia, Tề Đông Cung đuổi tà phục nghiệp”. Tuồng San Hậu nói lên gương trung liệt vì nước vì dân quyết khuông phò xã tắc.
Văn hóa “Đàng Trong” còn giữ được đến ngày nay là do Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt hoằng hóa và bảo tồn. Đức Tả Quân sanh năm 1863 tại Trà Lọt làng Long Hưng Tỉnh Định Tường Mỹ Tho và tạ thế ngày 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn 1832, thọ 69 tuổi./.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.