Hôm nay,  

Tình Yêu Của Bụi

13/09/201708:46:00(Xem: 6499)

Tình Yêu Của Bụi
 

Ngô Mai Hương

 

Trong đêm đen, trong im lặng, trong ngột ngạt

Đợi anh, đợi anh

Cùng bụi trần đợi anh

(Lưu Hiểu Ba)

  

 

Cứ vào mùa thu, khi lá bắt đầu vàng úa trên sân trường đại học tôi lại nhớ đến bóng dáng của những người lính đã nằm xuống 30 năm trước. Những khuôn mặt thật trẻ của nhà văn Võ Hoàng, nhạc sĩ Trần Thiện Khải, kỹ sư Ngô Chí Dũng,…

 

Ba mươi mùa thu, lá rừng đã phủ lấp, đã ôm ấp hình hài của  những người lính năm nào khát khao trở về quê mẹ. Ba mươi mùa thu, những đứa trẻ ngày xưa đã lớn, nhiều người đã quên, tôi cũng đã quên mất cái ngày ngồi trong một góc thư viện của Truman College và đau lòng đọc bản tin về cuộc đụng trận của họ ở Nam Lào. Nhưng cái khoảng cách đằng đẵng của 30 năm lại không đủ sức làm phai nhạt hình ảnh người đi trong lòng những người vợ lính. Tôi muốn nói đến cô Vân, hiền phụ của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh.

Một tháng trước, tôi đã xúc động khi nhận được tấm hình cô gởi tặng. Tấm hình cô chụp cùng các con, các cháu hôm kỷ niệm 50 năm ngày cưới của cô. Cô vẫn chung thủy với lời hẹn thề và không bao giờ chấp nhận rằng ông đã thực sự ra đi. Không có một lý lẽ nào có thể thắng được niềm tin và tình yêu của một người vợ. Và sự thật thì ông vẫn hiện hữu đấy thôi.

Ngày xưa, khi về làm vợ của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, cô Vân có rất ít thời gian được gần gũi chồng, và đây là điều cô hối tiếc mãi. Là một tướng trẻ của hải quân, ông hành quân liên miên, cô phải ở nhà lo cho mẹ chồng nên họ cũng chỉ gặp được nhau mỗi 2 tuần một lần.

Tôi nghĩ đến hoàn cảnh của một người vợ khác. Bà Lưu Hà, người cũng vừa vĩnh viễn chia tay với chồng, khôi nguyên hòa bình Lưu Hiểu Ba. Ông bà Lưu cũng chỉ ở bên nhau rất ít ngày, còn lại là những chuỗi ngày tù đằng đẵng của ông.
 
blank

Bà Lưu Hà lập gia đình với Lưu Hiểu Ba khi ông đang ở tù, tiệc cưới của họ diễn ra ngay tại nhà ăn của trại giam. Đây là một chiến thắng nho nhỏ của Lưu Hiểu Ba trước chính quyền độc tài. Rõ ràng ông là người luôn luôn tự do.

Sau đó, ngay trước phiên tòa xử ông, trước mặt chánh án, ông đã giành cơ hội để phát biểu với thế giới  và nói với người vợ của mình mặc dù bà Lưu Hà không được phép có mặt trong phiên tòa đó:“Có tình yêu em, người yêu dấu ơi, anh sẽ nhìn thẳng vào phiên toà hôm nay với lòng thanh thản, không tiếc hận về những chọn lựa của mình, và vẫn lạc quan tin tưởng vào một ngày mai. Anh chờ đợi đất nước chúng ta sẽ trở thành xứ sở tự do”. Từ ấy đến nay, tư tưởng của ông đã vượt thoát các song sắt kiên cố của nhà tù Hoa Lục. Và thế giới đã lắng nghe ông nói.

***

Điểm giống nhau của bà Lưu Hà và cô Vân là tình yêu của người chồng dành cho họ thật thắm thiết. Thời gian, khoảng cách địa lý dường như không có khả năng chia cách họ. Bà Lưu Hà vừa phải đắp mộ cho chồng, nhưng tôi tin bà chỉ chôn thân xác của ông. Người chồng của họ vẫn sống trong mỗi nhịp đập của trái tim hai người phụ nữ ấy, ngay từ phút giây đầu tiên và mãi mãi về sau.

Khi Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh và hơn 300 người lính nằm xuống, tôi ý thức được những gian khó vô cùng của cuộc đấu tranh không cân sức này và chợt cảm kích những hy sinh, bước khởi đầu nhiều gian khổ, sự dũng cảm của con người và những tổ chức chính trị thời ấy. Của những Nguyễn Trọng Hùng, Trương Ngọc Ni, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Mai Văn Hạnh, Võ Đại Tôn,… những người lính sau chiến tranh. Những chiến binh đi tiên phong.

Tất cả sự khởi đầu đầy gian nan ấy đều đặt trên nền tảng của tình thương. Tình thương là động lực giúp họ vượt qua mọi thử thách, ngay cả tù tội và cái chết. Cả khôi nguyên Lưu Hiểu Ba và Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh cũng đều quan niệm như thế khi khởi đầu và cả những giây phút cuối đời của họ.

Khi thành lập khu chiến ở biên giới Thái Lan, Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đã căn dặn các chiến hữu của ông: Nếu sức mạnh chính yếu của chiến tranh đến từ nòng súng, đến từ xe tăng, từ đại pháo thì sức mạnh của Đấu tranh Giải phóng đến từ con tim, đến từ quyết tâm của con người”.

Khi đối diện quan tòa ngày 23/12/2009, phiên tòa chấm dứt những ngày tự do cuối cùng của cuộc đời mình, Lưu Hiểu Ba khẳng định với những kẻ đã tước đoạt quyền tự do của ông rằng ông không có kẻ thù, không có lòng căm thù. Bởi căm thù có thể  làm hỏng hồn tính của một quốc gia. Ông bảo:“ tôi mong rằng mình sẽ có thể vượt lên khỏi những thăng trầm của số phận một cá nhân nhỏ bé để mà hiểu được sự phát triển của quốc gia và những đổi thay của xã hội, vượt qua thái độ thù hận mà chế độ dành cho tôi bằng thái độ chính đáng nhất, và lấy tình thương để gỡ bỏ sự thù hận”.

Khôi nguyên Lưu Hiểu Ba may mắn hơn Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh khi ở những giây phút cuối đời ông được gặp lại vợ, được ôm bà Lưu Hà trong vòng tay. Và có thể đó là động lực giúp bà vuốt mắt cho chồng, giúp bà làm cái quyết định khó khăn nhất là không tiếp tục gắn ống thở cho ông. Lời cuối khi chia tay, Lưu Hiểu Ba nói với người vợ yêu quý: “Hãy tiếp tục sống tốt”.

Phút cuối của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh chỉ có mình ông và một chiến hữu trẻ bên cạnh. Điều ông dặn dò trước khi tự sát cho thấy tình thương của ông dành cho người chiến hữu ấy cùng sự tha thiết của ông đối với sự sống như thế nào. Ông bảo:“Chiến hữu còn trẻ, hãy tìm đường quay về, hãy cố mà giữ lấy mạng sống. Còn mạng sống là còn tất cả”.

Sự sống đối với cả hai mang một ý nghĩa tích cực và tốt đẹp. Họ mong chờ ở những thế hệ tiếp nối, và chọn chấm dứt đời mình cho biểu tượng được sống. Nghe những lời nhắn gởi, chúng ta biết những chọn lựa đó rất tỉnh táo.

Tất cả chúng ta cũng chỉ là hạt bụi khi đến với cuộc đời, và họ chọn trở về với cát bụi để giữ cho sự sống có ý nghĩa.

Trong cuộc đời mình, tôi may mắn được biết đến và chứng kiến hai mối tình thật đẹp. Tình yêu của họ vượt thoát khỏi mọi quy luật tầm thường của đời sống. Cả hai người đàn ông đã ra đi, chỉ còn lại hai người phụ nữ với tình yêu sâu lắng và hai tấm ảnh cuối đời của họ. Đối với tôi chúng đã trở hành hai bức chân dung tình yêu đẹp nhất thế kỷ.

Bức hình thứ nhất chụp vào ngày lễ kỷ niệm 50 mươi năm ngày cưới của hiền phụ Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh. Trong cái trôi đi của ngày tháng, lãng quên của bao người, tình yêu của bà vẫn sống mãnh liệt cùng với lời hẹn thề của ông: “trăng hỡi theo ta về dưới mái nhà nhắn ai rằng một ngày ta sẽ trở về”. Và bà đã chung thủy đợi ông như thế, trong đêm đen, trong im lặng, và có lúc trong cái không khí ngột ngạt, đau thương của những ngày dậu đổ bìm leo.­­­

Tôi không mong là được đăng bức hình của bà trên trang viết này vì biết bà sống rất thầm lặng và đây là điều bà không muốn tuy nhiên tôi vẫn xin phép.
 
blank
Sau một ngày suy nghĩ bà gọi lại và cho phép tôi được đăng với một lời nhắn. Xin gởi đến bạn đọc lời nhắn của bà: “Cô không cần biết ai nói gì, với cô anh Minh và các anh (các chiến hữu của ông) vẫn đang ở đâu đó, họ đang chiến đấu và chú sẽ đón cô trở về khi VN có tự do. Nhưng bây giờ cô lớn tuổi rồi, nếu đến lúc cô ra đi mà chú vẫn chưa về, thì ước mong anh em cố gắng. Khi thành công xin hãy đem cô và chú về lại quê hương mình”

Bức hình thứ hai là bức hình hiếm hoi của Lưu Hiểu Ba cùng vợ là bà Lưu Hà trong một bịnh viện ở Bắc Kinh. Tấm hình được chụp một ít ngày trước khi ông từ trần vì căn bệnh ung thư gan ở thời kỳ cuối. Qua vòng tay ôm của chồng, bà Lưu Hà nhìn ông với ánh mắt thiết tha. Người ta chạnh nhớ câu nói của ông Lưu Hiểu Ba gởi cho vợ trong phiên tòa ngày 23/12/2009 “cho dù người ta có nghiền nát anh ra, anh vẫn nguyện ôm ấp em bằng tro than của mình”.

 

Xin cám ơn những hạt bụi lóng lánh như những hạt kim cương trong bóng đêm tăm tối của chủ nghĩa CS. Và xin ghi lại đây những câu thơ của Lưu Hiểu Ba gởi cho hiền phụ của ông. Đây là lời nhắn gởi của những trái tim gởi lại tình yêu cho cuộc đời và trở về với cát bụi.

Đoạn thơ cũng xin được gởi tặng đến cô Vân và những người vợ trong số 300 người lính đã nằm xuống. Lịch sử sẽ in dấu bước chân của họ, những con người của 30 năm trước và những con người của ngày hôm nay. Những người chọn hy sinh chính mình để vô hiệu hóa một thể chế hung bạo.
 

Em biết đấy, mộ phần

Là nơi tốt nhất để em quay về

Ở đó em đợi anh

Sẽ không còn kinh động nào nữa

Em cô độc trung thành với tình yêu của bụi

(Lưu Hiểu Ba – Cùng Cát Bụi Đợi Anh- gửi người vợ vò võ đợi chờ)

 

Để thắp một nén nhang cho những người lính đã thầm lặng ngã xuống 30 năm trước cùng sẻ chia những mất mát với vợ con họ. Kính mời quý đồng hương đến tham dự lễ tưởng niệm Anh Hùng Đông Tiến lúc 1 giờ trưa, Chủ Nhật, ngày 24 tháng 9 năm 2017 tại:

           

Westminster Community Center
8200 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683

Trân trọng,

Ngô Mai Hương

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.