Hôm nay,  

Đọc tập thơ “Oang Oang Lòng Chén Rỗng” của Bụt Sĩ Lưu Văn Vịnh

11/09/201709:08:00(Xem: 10150)
Đọc tập thơ “Oang Oang Lòng Chén Rỗng”
của Bụt Sĩ Lưu Văn Vịnh

 
Đào Văn Bình

Nhân Đại Hội Chu Văn An Toàn Cầu họp tại San Jose, California, ông bạn nối khố Dược Sĩ Nguyễn Văn Thịnh của tôi từ Hoa Thịnh Đốn bay qua và ngủ tại nhà tôi. Dược Sĩ Lưu Văn Vịnh tới thăm bạn Thịnh và tặng tôi ba cuốn sách: 1) Chủ Đạo Dân Tộc: Đồng Quy, Đồng Tôn, Đồng Tiến 2) Việt Sử Siêu Linh 3) Tập thơ Oang Oang Lòng Chén Rỗng.
Tôi cũng đã đôi ba lần nghe DS. Lưu Văn Vịnh thuyết trình về những đề tài văn hóa Việt Nam nhưng chưa một lần biết ông đã là một nhà thơ từ năm 1970.  Đó là lý do tại sao tôi tò mò đọc tập sách này. Thi tập in bằng khổ bỏ túi 11x 18cm dày 131 trang, trên trăm bài thơ, thỉnh thoảng có bài dịch qua Anh Ngữ, xuất bản năm 2007. Thơ Lưu Văn Vịnh nặng về triết lý, nhiều ẩn dụ, đôi khi khô khan, khó hiểu nhưng ẩn chứa khát vọng chân chất nhất của một trái tim “trẻ thơ” không bị nhiễm ô, buồn trước cảnh đời, tình đời…không phải chung  quanh mình mà toàn thế giới.
Đọc tựa đề, tôi tạm đoán tác giả nhận thấy ngày nay không hiểu tại sao có quá nhiều học thuyết, chủ thuyết đao to búa lớn, nhiều “ông đạo” kiếm bộn tiền nhưng bạo lực vẫn còn đó, hạnh phúc vẫn xa tầm tay và con người sống đầy ảo tưởng.
Địa cầu là một quả cân
Xương người thổ địa thủy ngân lệch trời
Mấy tỷ người
Đốt lửa chơi
Nóng ran nghĩa địa, thây phơi chiến trường.” (trong Thổ Địa trang 17)
Từ đó tác giả có một ý nghĩ vô cùng mỉa mai “Trời đã sinh loài người, chẳng cần sinh đười ươi”. (trang 8). Thực ra thì Trời chỉ sinh người và muốn họ làm người, nhưng một khi con người không biết kiềm chế thì nó trở thành đười ươi. Đười ươi trần truồng, không mặc quần áo và làm trò nhố nhăng. Rồi đây trong các quốc gia văn minh nhất, con người sẽ thay thế đười ươi. Vào những bãi biển ở truồng (nude beach) khắp Âu-Mỹ mà người ta gọi đó là biểu tượng của Tự Do, chúng ta không thấy sự văn minh ở đây, chúng ta chỉ thấy sự thoái hóa văn minh của những con người thời Tiền Sử.
Nhìn vào những cuộc chiến khốc liệt gần đây, tác giả đã mô tả một thế giới đầy chia rẽ như sau:
Bên này nói đúng
Bên kia nói đúng
Hai bên đều giơ súng
Ai đúng ai sai?
Chạy dài! (trang 8)
Và trong cái thảm họa “chạy dài” (chạy trốn) đó, tác giả cũng đã chạy loạn từ trong bào thai:
Tôi lớn lên
Trên hai triệu thây người chết đói
Tôi lớn lên
Trên hầm hố chông gai
Tôi lớn lên
Giữa bom đạn thế chiến thứ hai
Tôi lớn lên
Giữa giữa cờ đỏ, cờ vàng, cờ tam tài
Tôi lớn lên
Chưa biết đi đã chạy
Chạy loạn từ trong bào thai! “ (Trang 49)
            Tác giả đã có một ý nghĩ ngộ nghĩnh về thời cuộc như sau:
Được làm vua
Thua viết hồi ký
Vô kế khả thi
Luận bàn Tam Quốc Chí ” (trang 77)
            Thật vậy, không biết bao cuốn hồi ký của Mỹ ra đời sau chiến tranh Việt Nam hơn hẳn cuộc Chiến Tranh Triều Tiên và Đệ II Thế Chiến mà Mỹ là kẻ chiến thắng.
Dù sống trong thế giới văn minh điện tử với bao tiện nghi, nhưng tác giả đã sợ hãi nền văn minh điện tử:
Bút lông bút sắt bút chì
Tới thời điện tử chữ đi tàng hình
Tú Xương sống dậy thất kinh
Văn minh mạng lưới phận mình ra sao! “ (Bút Điện trang 17)
            Sự sợ hãi của tác giả không phải không có lý. Nhà vật lý học Stephen Hawking tiên đoán rằng rồi đây với “nền văn minh software” con người có thể thản nhiên bấm nút giết cả triệu người mà không hề xúc động. Phải chăng chính nền văn minh sẽ hủy diệt con người và chính cái gọi là “tự do”sẽ biến con người thành đười ươi?
            Thế nhưng trong những giây phút chán chường đó, tác giả đã ru hồn mình bằng Thiền, chẳng hạn như bài thơ:
Karma
Voice from empty cup
Song of karma
Silence speaks
Heart beats
Time afar (trang 29)
            Tôi xin dịch ra Việt Ngữ:
Nghiệp
Tiếng từ chén không
Vang lời nghiệp báo
Im lặng không lời
Nghe tim mình đập
Quá khứ xa rồi. (trang 29)
            Và :
Sự  đời thiện ác rối bời
Sư không vướng tóc, sự đời trôi qua
Sự đời chỉ chiến với hòa
Sư cầm dùi nện rung tòa hoa sen” (trang 53)
            Không vướng mắc vào đúng-sai hay thiện-ác là chỗ chứng đắc của thiền sư và cũng là cốt lõi của Bát Nhã Tâm Kinh và là chỗ an trú của chư Phật.
Thế nhưng bên cạnh những bài thơ mang tâm trạng chánh chường, vẫn có những bài thơ mang âm hưởng trữ tình giống như “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng” của Phạm Thiên Thư hay “10 bài Đạo Ca” của Phạm Duy:
Kiếp sau làm chim xanh
Chờ áo em lộng gió
Thơm thơm hương lụa trắng
Nhớ mấy lần hội xuân
 
Kiếp sau làm chim xanh
Tháp chuông gieo thánh thót
Môi em còn hơi nóng
Lời chim hót lao xao
 
Kiếp sau làm chim xanh
Đậu thành cầu Sông Seine
Tôi chờ em ba kiếp
Trời đất vẫn đánh ghen.” (trang 44)
Trong tập thơ này tôi đặc biệt chú ý tới bài thơ “Hồn Bướm Mơ Tiên” nơi trang 24. Thông thường, người ta ca tụng hoặc đề cập nhiều tới các vị thiền sư, cao tăng đắc đạo hơn là một ni sư hay ni cô và bóng dáng của các ni cô mờ nhạt dưới mái hiên chùa. Người ta quên mất rằng nhân vật Tiểu Long Nữ mới có tám tuổi mà đã tu thành Phật: Phẩm Long Nữ Thành Phật kể rằng:
Ngài Trí Tích hỏi ngài Văn-thù-sư-lợi rằng:  
- Kinh này rất sâu vi diệu là báu trong các kinh, trong đời rất ít có, vậy có chúng sanh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này mau được thành Phật chăng?
            Ngài Văn-thù-sư-lợi nói: 
- Có con gái của vua rồng Ta-kiệt-la mới tám tuổi mà căn tánh lanh lẹ, có trí tuệ, khéo biết các căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, được pháp tổng trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thọ trì, sâu vào Thiền định, rõ thấu các pháp. Trong khoảnh sát-na phát tâm Bồ-đề được bậc Bất thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sanh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến Bồ-đề
.”
Có lẽ bài thơ “Hồn Bướm Mơ Tiên” là bài thơ đầu tiên ca ngợi ni cô trên diễn đàn thi ca mà tôi được đọc. Bài thơ như sau:
Ni cô dáng cao thanh
Ngân nga chuông chiều xuống
Động đá vàng nắng hanh
Áo sồng hây hây gió.
 
Lấp lánh thạch nhũ đỏ
Hồ sen đang mùa hoa
Bậc chùa chân chùng bước
Nhìn mấy lớp mây xa
 
Ni cô khăn chàm thắm
Thấp thoáng trên gác chuông
Bóng chiều tà nhấp nhoáng
Hoàng hôn như kim cương
 
Tiễn khách xa vãn cảnh
Ni cô gieo hồi chuông
Lâng lâng vào sương núi
Vách đá quyện trầm hương
 
Tôi mang về bó nắng
Óng ánh mắt ni cô
Gió thơm ôm một gói
Giữa lồng ngực đong đưa. (trang 24)
            Tôi có cô em gái xuất gia năm 1977 và tôi đã làm một bài thơ nói về em gái mình nhưng nặng mùi trần thế và không siêu thoát bằng bài thơ của Lưu Văn Vịnh. Bài thơ như sau:
Cho Một Ni Cô Tên Trang (Em gái tôi tên Đào Thị Đoan Trang)
Ngày xưa áo trắng đoan trang.
Mênh mang tuổi ngọc như hàng phượng bay.
Tuổi xuân mới nửa vòng tay.
Bỗng đâu đất dậy cho ngày xót xa.
Áo nâu thay mảnh áo hoa.
Tóc dài em gửi cho cha mẹ buồn.
Câu kinh tiếng mõ chiều hôm.
Phồn hoa em bỏ bên đường em đi.
Em tôi nào tội tình chi?
Ni cô từ thuở đương thì xuân xanh.
Thương em anh khóc mình anh.
Bao nhiêu mộng ước thôi đành dở dang.
Chùa Trang hẳn có hoa vàng?
Có con bướm vẫn mơ màng với hoa?
Nhang đêm quyện giọt sương sa.
Trông lên bóng Phật cũng qua muộn phiền.
Trách ai gây cuộc đảo điên.
Cho em tôi phải truân chuyên cuộc đời.
            Trong cõi Ta Bà này, nhà báo nói về những gì đang xảy ra, người bình thường nói về cơm áo, gạo tiền, danh vọng quyền chức, thương-ghét, đúng –sai, các triết gia bàn luận về tư tưởng, còn các đạo sư bàn luận về tâm linh. Diễn tả về tâm linh trong một tập thơ như thế này thật khó. Nhưng những gì Lưu Văn Vịnh trình bày ở đây khá thành công và tác động tới lòng người bởi ông diễn đạt nó bằng cả khối chân tình chứ không bằng sáo ngữ đầu môi như thường thấy trong rất nhiều tập thơ.  
            Dĩ nhiên trong bốn trang giấy tôi không thể nói hết và trích dẫn hết. Muốn đọc thêm, xin quý vị tìm vào trang điện tửwww.halongvandan.wordpress.com hoặc www.vietphilopoetry.wordpress.com hoặc liên lạc tác giả qua điện thư [email protected]
Đào Văn Bình
(California ngày 10/9/2017)
 
 
Đôi nét về tiểu sử tác giả:
-Cao Học Triết Học, Cao Học Dược Khoa (Vi Trùng Học) Đại Học Sài Gòn trước 1975
-Dược Sĩ Bệnh Viện Boston Tiểu Bang California 1975-2004
 


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.