Hôm nay,  

Bài Học Về Nguồn Từ Cá Hồi

9/12/201700:00:00(View: 8583)

Bài Học Về Nguồn Từ Cá Hồi
Trương tấn Thành, Lacey

Tiểu bang Washington của chúng ta, tiểu bang của “Ngàn Thông Mãi Xanh”, có nhiều nguồn hải sản độc đáo.  Ngoài con sò vòi voi Goeduck (âm tiếng Việt ta đọc là “Ghui Đất”) không đâu có cho đến vô số các loại nhuyển thể như sò hến cho đến các loại giáp sát như tôm cua thì phải nói đến giống cá Hồi, tiếng Mỹ gọi là Salmon.

Tôi không được biết vị tiền bối nào lại đặt cho loại cá Salmon cái tên Việt là “cá Hồi” thật vô cùng ý nghĩa.  “Hồi” đây tức là trở về, mà đây là trở về “nơi chôn nhau cắt rún” của cá.  Vị tiền bối đó chắc đã nhiên cứu tường tận và chính xác nên đã đặt cho loài cá này cái tên mà “không ai tranh cãi được”.

Tôi còn nhớ những năm mình còn đi học ở trường đại học công đồng SPSCC ở Olympia, khi đi ngang qua lối đi bắt  qua con suối chảy ngang trường lúc mùa cá salmon về, nhìn dưới cầu là từng bầy cá đang vung vẩy tóe nước cố lội ngược dòng về nguồn để tìm chỗ đẻ nhiều đến không đếm nổi.   Đối với người Da Đỏ, cá salmon là món qùa tặng của Trời Đất để họ có thực phẩm từ hồi họ có mặt ở vùng Bắc Mỹ này.  Lòng quí trọng đó thể hiện rõ qua các nghi thức tôn nghiêm để nhớ ơn nguồn thực phẩm chính mà Trời ban để nuôi sống họ.

Tôi có cái may phục vụ nhiều năm tại trường dạy cho trẻ em người Da Đỏ tên Wa He Lut ( trường W.H. Lut chỉ dạy cho trẻ con người Da Đỏ từ mẫu giáo đến lớp tám,  nằm tại exit 114, I-5) tại thung lủng Nisqually nên đã nhiều lần được chứng kiến nghi lễ đó được cử hành tại bờ sông Nisqually mé sau hông trường.  Sáng nay, cũng như mọi năm, tại bờ sông, cả trường hành lễ tạ ơn cá salmon.  Tất cả trường ra bờ sông với một vị bô lão làm chủ tế.  Buổi lễ hôm nay là để đưa hồn cá salmon đã hy sinh thân mình nuôi con người về với sông nước để lại tái sinh để dưởng nhân.  Một chiếc kiệu hình chữ nhật làm bằng loại gỗ thông quí cedar,  được bốn học sinh khiêng, trên đó có đặt bộ xương và đầu cá salmon được phủ kín bởi lá thông.  Sau nghi thức cầu nguyện, trong tiếng ca kệ bàì hát cổ Da Đỏ về lòng nhớ ơn cá salmon bằng thổ ngữ của bộ lạc Kwelsucid, bốn học sinh đó khiêng cái kiệu ra bờ sông rồi thả trôi đi theo dòng nước để cá lại được tái sinh như truyền thuyết.  Người chủ tế vẫn tiếp tục khấn và cấu nguyện trong khi học sinh cả trường đứng quanh bờ sông chứng kiến.

Chắc có vị đã từng ăn cá salmon và biết qua về gía trị dinh dưởng rất cao của cá đối với cơ thể con người chúng ta.   Nếi tôi không lầm thì cá salmon bán rất đắc ở thị trường Âu va Á.  Ở Washington này , 1 pound cá salmon cũng đã ttrên dưới 4 dollars.  Thịt cá salmon có màu hơi đỏ cam đậm trông rất đẹp.  Nếu vị nào ăn sống được với bột cải xanh ( green mustard) thì có khi ngon hơn bò nhúng dấm.  Sau đây xin được nói sơ về chu trình sinh trưởng và tiêu trầm của giống cà Hồi.

Có tất cả năm loại cá salmon:  sockeye, chinook (còn được gọi là King Salmon vì nó lớn nhất khi so với các loại kia), kế là cá pink, chum và coho.  Mỗi loại có một chu trình sinh nở hơi khác nhau nhưng tựu trung chúng đều trải qua những giai đoạn sau:

Gđ 1. Vào cuối mua thu, khoản tháng mười một, cá mái đẻ trứng nơi những con suối mà đáy có nhiều đá cuội từ 11 đến 12 ngày rồi cá cha và cá mẹ đều chết.

Gđ 2.  Vaò tháng chạp hay tháng giêng tây, trứng nở nhưng vẫn còn nằm trong kẹt của sỏi và đá. Chúng sống nhờ cái túi đầy chất bổ dưởng dưới bụng mình.

Gđ 3.  Đến tháng Ba hay tháng Tư thì túi thức ăn đó hết đi, chúng bắt đầu bơi ra chỗ rộng hơn để tìm mồi.  Lưng của cá con bắt đầu nổi sọc như là một phương cách ngụy trang, sinh tồn để khỏi bị các giống cá khác ăn.

Gđ 4.  Cuối tháng Tư va Năm, sau một năm trời sống trong suối, cá bơi ra sông lớn, mình bắt đầu nổi vãy bạc vá làm quen với vị nước mặn.

Gđ 5.  Sau đó cá con bơi ra cữa sông nơi tếp giáp với biển trong một chuyến hải du có khi mất cả tháng trời.  Vớí thức ăn dồi dào nơi cữa sông, cá tha hồ ăn và lớn như thổi trước khi bơi ra biển.  Cuối tháng Sáu, khi cá đã vào biển thì lưng nó có      màu xanh lá cây đen, vãy bạc hiện lên ở vùng hông và bụng, các vạch sọc biến mất để chúng dễ hòa mình với các loài thủy tộc khác.

Gđ 6.  Cá Coho phải mất từ 6 đến 18 tháng để ăn và lớn.  Đầu mùa hạ thì cá trưởng thành và bắt đầu quay về nguồn để đẻ trứng.  Chúng có thể bị mất cả 6 tháng để bơi vào vùng nước ngọt.

Gđ 7.  Khi vào tới vùng nước ngọt, cá không ăn mà chỉ sống nhờ vào số mỡ dự trử trong người.  Da của nó bắt đầu đầy lên và cứng ra.  Mỏ của con cá đực biến dạng thành mỏ quặp lại. (tiếng người Da Đỏ gọi cá salmon là “dô bạch” có nghỉa là “mỏ quặp”.)  Bụng cá cái thì no phình ra với đầy trứng.

Gđ 8.  Ngay khi cá đã vượt vào tới suối mà chúng đã đuợc sinh ra vào tháng Mười một, hai bên mình nó đổi sang màu đỏ, lưng và đầu thành màu xanh lá cây đậm.  Cá mang đầy trứng tìm nơi có đá cuội trong lòng suối  đẻ rồi chết.  Chu kỳ sinh diệt của cá Hồi cứ như vậy mà tiếp diển mãi mãi.

Tìm hiẻu về vòng  sinh diệt này tôi rất kinh ngạc trước bản năng “quay về nguồn” naỳ của cá salmon.  Dù lớn lên và đi xa nhưng vẫn tìm về nơi mình được sinh ra để truyền giống và để chết.  Tôi cảm nhận trong cái chu trình tuyệt vời đó của cá salmon nó hàm chứa cả một bài học cho tôi về thân phận của mình tại xứ người.  Ai đó đã nói một câu đáng cho tôi suy gẩm: “ Dù cho mình có trở nên là gì đi nữa, thì cũng phải nhớ đến nguồn cội của mình.”

Tôi tự nhủ với mình rằng: “…Trước kia mi có lần  muốn thành Tây, thành Mỹ bao nhiêu thì giờ đây mi thấy rõ là mi phải trở về với con người thật của mình.  Với con người “bất tòan và bất túc” của nó và hảnh diện với những thành quả hạn hẹp cá nhân và sống đúng theo văn hóa của mình.  Cá salmon dạy cho mi baì học đầy ý nghĩa đó.  Dù đã  ra được  bể lớn để sống đời tự tại , cá vẫn lội ngược về nơi mình được sinh ra để làm bổn phận thiêng liêng của một sinh vật có trách nhiệm với giống nòi của mình.  Cái  bản năng này sao mà đáng phục và đáng ca ngợi qúa.  Mi haỹ nghĩ rằng như ngày nay mình đã đưọc vào biển cả thì không trở về với nguòn cội của mình thì còn chờ đến bao giờ?  Nhưng mi nên biết là trở về nguồn không nhất thiết là về nơi mà mình đã phãi từ bỏ ra đi vì không sống được.  Về nguồn đây là trở về với con người Việt Nam có truyền thống yêu chuộng Tự Do và không bao giờ chấp nhận sự áp chế, chuyên quyền.  Con người sống trong biển rộng ở xứ sở naỳ thì đừng quên thân phận của mình và thân phận bi đát của đồng bào mình.  Đây không phải là việc dễ làm đối với mi.  Như cá salmon phải trầy vi tróc vãy vẫn cố lội ngược dòng để trở về nơi sinh trưởng, trở về nguồn nơi xứ lạ với những thử thách không ngừng nhiều lúc làm mi đã phải “đổ mồ hôi sôi nước mắt”.  Trong qúa trinh phải tìm chỗ đứng và hòa nhập vào cuộc sống mới cũng như trước sự thu hút nam châm mãnh liệt của vật chất, hào nhoáng không chiều sâu, sự vong thân hay nguy hiểm hơn nữa là sự vong bản sẽ dễ dàng đến vơi mi.  Nếu mi chịu đúng lại thì cái bóng “ảo” mà mình vẫn theo đuổi cũng sẽ đứng lại.  May nhờ mi có được nhiều thì giờ bỏ ra để suy gẩm và đi ngược lại với chiếc xe “ảo” đang điên cuồng phóng tới của xả hội vật chất bên ngoài, mi đã “trụ” và đi lộn trở về với con nguời “thật” và giá trị thật của mình.

Để chấm dứt, mình cảm hứng mấy vân thơ rút tiả ra đuợc từ baì học tìm về nguồn của giống cá Hồi như sau :

Ta dù được đi ra biển cả

nhưng biết tìm về cội rể ở nơi xưa

mưa sa bảo táp cho dù,

tìm về nguồn cội đó là phương châm./.                     

TTT- Lacey, Dec. 1, ‘09

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.