Hôm nay,  

Đọc tập thơ “Oang Oang Lòng Chén Rỗng” của Bụt Sĩ Lưu Văn Vịnh

11/09/201709:08:00(Xem: 10154)
Đọc tập thơ “Oang Oang Lòng Chén Rỗng”
của Bụt Sĩ Lưu Văn Vịnh

 
Đào Văn Bình

Nhân Đại Hội Chu Văn An Toàn Cầu họp tại San Jose, California, ông bạn nối khố Dược Sĩ Nguyễn Văn Thịnh của tôi từ Hoa Thịnh Đốn bay qua và ngủ tại nhà tôi. Dược Sĩ Lưu Văn Vịnh tới thăm bạn Thịnh và tặng tôi ba cuốn sách: 1) Chủ Đạo Dân Tộc: Đồng Quy, Đồng Tôn, Đồng Tiến 2) Việt Sử Siêu Linh 3) Tập thơ Oang Oang Lòng Chén Rỗng.
Tôi cũng đã đôi ba lần nghe DS. Lưu Văn Vịnh thuyết trình về những đề tài văn hóa Việt Nam nhưng chưa một lần biết ông đã là một nhà thơ từ năm 1970.  Đó là lý do tại sao tôi tò mò đọc tập sách này. Thi tập in bằng khổ bỏ túi 11x 18cm dày 131 trang, trên trăm bài thơ, thỉnh thoảng có bài dịch qua Anh Ngữ, xuất bản năm 2007. Thơ Lưu Văn Vịnh nặng về triết lý, nhiều ẩn dụ, đôi khi khô khan, khó hiểu nhưng ẩn chứa khát vọng chân chất nhất của một trái tim “trẻ thơ” không bị nhiễm ô, buồn trước cảnh đời, tình đời…không phải chung  quanh mình mà toàn thế giới.
Đọc tựa đề, tôi tạm đoán tác giả nhận thấy ngày nay không hiểu tại sao có quá nhiều học thuyết, chủ thuyết đao to búa lớn, nhiều “ông đạo” kiếm bộn tiền nhưng bạo lực vẫn còn đó, hạnh phúc vẫn xa tầm tay và con người sống đầy ảo tưởng.
Địa cầu là một quả cân
Xương người thổ địa thủy ngân lệch trời
Mấy tỷ người
Đốt lửa chơi
Nóng ran nghĩa địa, thây phơi chiến trường.” (trong Thổ Địa trang 17)
Từ đó tác giả có một ý nghĩ vô cùng mỉa mai “Trời đã sinh loài người, chẳng cần sinh đười ươi”. (trang 8). Thực ra thì Trời chỉ sinh người và muốn họ làm người, nhưng một khi con người không biết kiềm chế thì nó trở thành đười ươi. Đười ươi trần truồng, không mặc quần áo và làm trò nhố nhăng. Rồi đây trong các quốc gia văn minh nhất, con người sẽ thay thế đười ươi. Vào những bãi biển ở truồng (nude beach) khắp Âu-Mỹ mà người ta gọi đó là biểu tượng của Tự Do, chúng ta không thấy sự văn minh ở đây, chúng ta chỉ thấy sự thoái hóa văn minh của những con người thời Tiền Sử.
Nhìn vào những cuộc chiến khốc liệt gần đây, tác giả đã mô tả một thế giới đầy chia rẽ như sau:
Bên này nói đúng
Bên kia nói đúng
Hai bên đều giơ súng
Ai đúng ai sai?
Chạy dài! (trang 8)
Và trong cái thảm họa “chạy dài” (chạy trốn) đó, tác giả cũng đã chạy loạn từ trong bào thai:
Tôi lớn lên
Trên hai triệu thây người chết đói
Tôi lớn lên
Trên hầm hố chông gai
Tôi lớn lên
Giữa bom đạn thế chiến thứ hai
Tôi lớn lên
Giữa giữa cờ đỏ, cờ vàng, cờ tam tài
Tôi lớn lên
Chưa biết đi đã chạy
Chạy loạn từ trong bào thai! “ (Trang 49)
            Tác giả đã có một ý nghĩ ngộ nghĩnh về thời cuộc như sau:
Được làm vua
Thua viết hồi ký
Vô kế khả thi
Luận bàn Tam Quốc Chí ” (trang 77)
            Thật vậy, không biết bao cuốn hồi ký của Mỹ ra đời sau chiến tranh Việt Nam hơn hẳn cuộc Chiến Tranh Triều Tiên và Đệ II Thế Chiến mà Mỹ là kẻ chiến thắng.
Dù sống trong thế giới văn minh điện tử với bao tiện nghi, nhưng tác giả đã sợ hãi nền văn minh điện tử:
Bút lông bút sắt bút chì
Tới thời điện tử chữ đi tàng hình
Tú Xương sống dậy thất kinh
Văn minh mạng lưới phận mình ra sao! “ (Bút Điện trang 17)
            Sự sợ hãi của tác giả không phải không có lý. Nhà vật lý học Stephen Hawking tiên đoán rằng rồi đây với “nền văn minh software” con người có thể thản nhiên bấm nút giết cả triệu người mà không hề xúc động. Phải chăng chính nền văn minh sẽ hủy diệt con người và chính cái gọi là “tự do”sẽ biến con người thành đười ươi?
            Thế nhưng trong những giây phút chán chường đó, tác giả đã ru hồn mình bằng Thiền, chẳng hạn như bài thơ:
Karma
Voice from empty cup
Song of karma
Silence speaks
Heart beats
Time afar (trang 29)
            Tôi xin dịch ra Việt Ngữ:
Nghiệp
Tiếng từ chén không
Vang lời nghiệp báo
Im lặng không lời
Nghe tim mình đập
Quá khứ xa rồi. (trang 29)
            Và :
Sự  đời thiện ác rối bời
Sư không vướng tóc, sự đời trôi qua
Sự đời chỉ chiến với hòa
Sư cầm dùi nện rung tòa hoa sen” (trang 53)
            Không vướng mắc vào đúng-sai hay thiện-ác là chỗ chứng đắc của thiền sư và cũng là cốt lõi của Bát Nhã Tâm Kinh và là chỗ an trú của chư Phật.
Thế nhưng bên cạnh những bài thơ mang tâm trạng chánh chường, vẫn có những bài thơ mang âm hưởng trữ tình giống như “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng” của Phạm Thiên Thư hay “10 bài Đạo Ca” của Phạm Duy:
Kiếp sau làm chim xanh
Chờ áo em lộng gió
Thơm thơm hương lụa trắng
Nhớ mấy lần hội xuân
 
Kiếp sau làm chim xanh
Tháp chuông gieo thánh thót
Môi em còn hơi nóng
Lời chim hót lao xao
 
Kiếp sau làm chim xanh
Đậu thành cầu Sông Seine
Tôi chờ em ba kiếp
Trời đất vẫn đánh ghen.” (trang 44)
Trong tập thơ này tôi đặc biệt chú ý tới bài thơ “Hồn Bướm Mơ Tiên” nơi trang 24. Thông thường, người ta ca tụng hoặc đề cập nhiều tới các vị thiền sư, cao tăng đắc đạo hơn là một ni sư hay ni cô và bóng dáng của các ni cô mờ nhạt dưới mái hiên chùa. Người ta quên mất rằng nhân vật Tiểu Long Nữ mới có tám tuổi mà đã tu thành Phật: Phẩm Long Nữ Thành Phật kể rằng:
Ngài Trí Tích hỏi ngài Văn-thù-sư-lợi rằng:  
- Kinh này rất sâu vi diệu là báu trong các kinh, trong đời rất ít có, vậy có chúng sanh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này mau được thành Phật chăng?
            Ngài Văn-thù-sư-lợi nói: 
- Có con gái của vua rồng Ta-kiệt-la mới tám tuổi mà căn tánh lanh lẹ, có trí tuệ, khéo biết các căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, được pháp tổng trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thọ trì, sâu vào Thiền định, rõ thấu các pháp. Trong khoảnh sát-na phát tâm Bồ-đề được bậc Bất thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sanh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến Bồ-đề
.”
Có lẽ bài thơ “Hồn Bướm Mơ Tiên” là bài thơ đầu tiên ca ngợi ni cô trên diễn đàn thi ca mà tôi được đọc. Bài thơ như sau:
Ni cô dáng cao thanh
Ngân nga chuông chiều xuống
Động đá vàng nắng hanh
Áo sồng hây hây gió.
 
Lấp lánh thạch nhũ đỏ
Hồ sen đang mùa hoa
Bậc chùa chân chùng bước
Nhìn mấy lớp mây xa
 
Ni cô khăn chàm thắm
Thấp thoáng trên gác chuông
Bóng chiều tà nhấp nhoáng
Hoàng hôn như kim cương
 
Tiễn khách xa vãn cảnh
Ni cô gieo hồi chuông
Lâng lâng vào sương núi
Vách đá quyện trầm hương
 
Tôi mang về bó nắng
Óng ánh mắt ni cô
Gió thơm ôm một gói
Giữa lồng ngực đong đưa. (trang 24)
            Tôi có cô em gái xuất gia năm 1977 và tôi đã làm một bài thơ nói về em gái mình nhưng nặng mùi trần thế và không siêu thoát bằng bài thơ của Lưu Văn Vịnh. Bài thơ như sau:
Cho Một Ni Cô Tên Trang (Em gái tôi tên Đào Thị Đoan Trang)
Ngày xưa áo trắng đoan trang.
Mênh mang tuổi ngọc như hàng phượng bay.
Tuổi xuân mới nửa vòng tay.
Bỗng đâu đất dậy cho ngày xót xa.
Áo nâu thay mảnh áo hoa.
Tóc dài em gửi cho cha mẹ buồn.
Câu kinh tiếng mõ chiều hôm.
Phồn hoa em bỏ bên đường em đi.
Em tôi nào tội tình chi?
Ni cô từ thuở đương thì xuân xanh.
Thương em anh khóc mình anh.
Bao nhiêu mộng ước thôi đành dở dang.
Chùa Trang hẳn có hoa vàng?
Có con bướm vẫn mơ màng với hoa?
Nhang đêm quyện giọt sương sa.
Trông lên bóng Phật cũng qua muộn phiền.
Trách ai gây cuộc đảo điên.
Cho em tôi phải truân chuyên cuộc đời.
            Trong cõi Ta Bà này, nhà báo nói về những gì đang xảy ra, người bình thường nói về cơm áo, gạo tiền, danh vọng quyền chức, thương-ghét, đúng –sai, các triết gia bàn luận về tư tưởng, còn các đạo sư bàn luận về tâm linh. Diễn tả về tâm linh trong một tập thơ như thế này thật khó. Nhưng những gì Lưu Văn Vịnh trình bày ở đây khá thành công và tác động tới lòng người bởi ông diễn đạt nó bằng cả khối chân tình chứ không bằng sáo ngữ đầu môi như thường thấy trong rất nhiều tập thơ.  
            Dĩ nhiên trong bốn trang giấy tôi không thể nói hết và trích dẫn hết. Muốn đọc thêm, xin quý vị tìm vào trang điện tửwww.halongvandan.wordpress.com hoặc www.vietphilopoetry.wordpress.com hoặc liên lạc tác giả qua điện thư [email protected]
Đào Văn Bình
(California ngày 10/9/2017)
 
 
Đôi nét về tiểu sử tác giả:
-Cao Học Triết Học, Cao Học Dược Khoa (Vi Trùng Học) Đại Học Sài Gòn trước 1975
-Dược Sĩ Bệnh Viện Boston Tiểu Bang California 1975-2004
 


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.