Hôm nay,  

Đâu Là Sự Thật Về Ngày 19-8-1945: Việt Minh Cướp Chính Quyền?

10/08/201700:00:00(Xem: 11980)

blank
Trần Trọng Kim và bản đồ VN.

Ngày nay ai cũng biết cuộc kháng chiến chống Pháp, sau khi thực dân trở lại tái chiếm VN vừa lúc thế chiến II chấm dứt. Đó là xương máu chung của toàn thể quốc dân VN, chứ không riêng của đảng CS hay cái gọi là cách mạng tháng tám, tháng mười, mà bấy lâu nay đảng Hồ cứ rêu rao tuyên truyền để lừa bịp công luận.

Đây là một chặng đường lịch sử vô cùng quan trọng, vì chính nó đã dự phần quyết định vận mệnh của đất nước và dân tộc Việt như hôm nay chúng ta đã biết. mà khởi đầu bằng một giai đoạn ngắn ngủi từ 9-3-1945 tới ngày 3-9-1945.

Ngày 9-3-1945, Nhật chấm dứt 80 năm đô hộ của giặc Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Ngày 25-8-1945 Nhật cũng cáo chung quyền lực tại đây. Rồi sau đó là sự ra đời của hai chính phủ VN độc lập, một của người Quốc Gia lãnh đạo và chính quyền kia, ra đời từ sau ngày 9-3-1945 do Mặt trận Việt Minh đoạt được, khi người Nhật bỏ ngõ VN, qua sự góp sức và yểm trợ vũ lực của Sở Hành Động Chiến Lược Mỹ (OSS).

Đó cũng là một báo hiệu của cuộc đổ máu chín năm sắp tới, không bắt đầu từ cái gọi là VN Độc Lập Đồng Minh Hội mới thành lập, mà là sự nối tiếp chặng đường đấu tranh của toàn dân Việt, có từ năm 1859 khi thực dân Pháp bắt đầu cưỡng chiếm VN. Trước khi Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng Sản VN – Đệ Tam Quốc Tế cưỡng đoạt vào ngày 30-4-1975, phần đông thế giới kể cả Hoa Kỳ tuy đã có liên hệ chiến đấu tại VN nhưng hầu hết rất ít hiểu biết về đất nước và dân tộc Việt.

Sự kiếm khuyết này nguyên do không phải vì đất nước chúng ta thuộc loại vô danh tiểu tốt hay bởi CSVN tuyên truyền như huyền thoại, mà là VN có quá nhiều cuộc chiến trong quá khứ nhưng lần nào cũng mờ mờ ảo ảo, khiến cho các sử gia cảm thấy lạc lỏng trước sự thật.Do trên, một số đã hư cấu hay viết bừa theo tài liệu một chiều của CS, làm cho VN đã xa lạ với thế giới lại càng thêm huyễn hoặc, âm thầm.

Ngày nay trước sự hiện diện của mấy triệu người Tị Nạn CS trên khắp các nẻo đường thế giới, đồng thời với sự đau đói hận nghèo tại địa ngục đỏ VN, nhân loại mới chịu thức tỉnh ợđể có dịp hiểu rõ cái thực chất lừa bịp của cuộc chiến tranh vừa qua.

Bắt đầu từ năm 1940 ngay sau khi khởi cuộc Đệ II Thế Chiến, Pháp đã đại bại trước Đức, nên đã bán đứng thuộc địa VN cho Nhật lúc đó cũng là kẻ thù của mình, để vớt vát. Chính Toàn Quyền Đông Dương là Decoux đã cho quân Nhật vào Bắc Kỳ, để hải quân Nhật sử dụng hải cảng Hải Phòng, còn Không quân Nhật thì chiếm đóng các phi trường Gia Lâm, Lào Kay, Phủ Lạng Thương.

Cũng vì vậy mà máy bay và chiến hạm của Đồng Minh đã tấn công Nhật ngay trên lãnh thổ VN, khiến cho đồng bào phải chịu nạn kiếp chung với Pháp và Nhật. Nhưng rồi sự hợp tác bất đắc dĩ trên cũng phải chấm dứt vì dã tâm quá lớn của người Nhật qua mộng Đại Đông Á. Do đó vào đêm 9 tháng 3 năm 1945, Đại Sứ Nhật là Matsumoto Shunichi đã chính thức trao tối hậu thư cho Toàn Quyền Jean Decoux, ra lệnh cho quân viễn chinh Pháp trên toàn cõi VN phải buông súng đầu hàng Nhật vô điều kiện.

Tiếp theo là một trận chiến ngắn ngủi chưa tới 48 tiếng đồng hồ, quân Pháp tại Đông Dương từ Toàn quyền tới binh chốt, đều bị Nhật bắt làm tù binh. Rốt cục, chỉ có một phần quân Pháp thuộc Sư Đoàn của tướng Gabriel Sabattier nhờ đóng sát biên giới trong tỉnh Lai Châu, nên trốn thoát sang được đất Tàu.

Từ đó VN cũng như Lào và Cao Mên, tạm thời cởi được chiếc cùm của Pháp nhưng lại mang vào cái gông của Nhật đang là chủ nhân ông trực tiếp kiểm soát toàn vùng. Lợi dụng Pháp và Nhật đang tranh giành nhau quyền làm chủ thuộc điạ, Việt Minh nương theo chiều gió, càng lúc càng bành trướng và phát triển mạnh mẽ.

Việt Minh là hai chữ gọi tắt của VN Độc Lập Đồng Minh Hội, được thành lập năm 1941 với phương châm Bài Phong, Phản Đế, Diệt Phát Xít, tiêu diệt Thực Dân và Đế Quốc Chủ Nghĩa. Qua cái lý thuyết về cuộc chiến tranh Vệ Quốc chống lại kẻ thù đế quốc tư bản, học lóm từ bên Nga Tàu, người cán bộ cọng sản lúc đó chỉ mượn nó để hô hào, tuyên truyền chống Nhựt, chống Pháp.

Bởi thế ban ngày thì nói chính nghĩa, hòa hợp, lập hội kết tình để nối vòng tay lớn nhưng ban đêm lại gõ cửa những người ban ngày chống đối, dẫn đi thủ tiêu, đập đầu hay cho mang đá mò tôm. Những năm này dân chúng trong vùng gọi là giải phóng, chết còn sướng hơn sống vì Việt Minh khủng bố đỏ, còn rùng rợn hãi hùng hơn cả thực dân và quân phiệt, mà cán bộ đảng đã chửi ban ngày khi tuyên truyền. Những ai đã sống sót qua thời kỳ chín năm kháng chiến Việt Minh, chắc không bao giờ quên được cảnh nạn nhân bị kết tội Việt gian, bị đày dọa hành hình man dã, chết mà không biết mình đã có tội gì. Nói tóm lại khủng bố là một đường lối chính sách của Quốc Tế Cọng Sản, nhằm đối phó với tất cả các đối tượng không phục tùng hay đã biết rõ mặt thật của chúng, tới bây giờ vẫn không có gì thay đổi.

Cọp đi thì ma về, sự thay đổi quan trọng nhất trong giai đoạn này là quan Nhật thay quan Pháp. Ngày 16-3-1945, Tư lệnh Quân Đoàn 38 đồn trú tại Đông Dương là Tướng Tsuchihashi Yuitsui, từ Sài Gòn ra Hà Nội lên ngai Toàn Quyền Đông Dương. Cơ cấu tổ chức cũng y như thời Pháp, một miền có một Thống Đốc hay một Thống Sứ cai trị. Trong tháng 5/1945, Nhật giao hoàn Bắc Kỳ lại Nam Triều nên vua Bảo Đại kiêm lãnh Trung và Bắc Kỳ, gọi là An Nam, có một Cố Vấn tối cao Nhật bên cạnh chỉ đạo.

Sự thay đổi chính trị dù sôi động nhưng cũng vẫn không che khuất nổi nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu tại miền Bắc và Trung Kỳ đã bắt đầu từ năm 1944, từ khi Pháp cho Nhật nhập quan, để cả hai cùng chia nhau xương máu của dân Việt. Đã nghèo lại càng đói rách bi thảm hơn khi xuất hiện thêm cái gọi là Mặt Trận Việt Minh, lúc nào cũng cần gạo, tiền và nhân lực. Thiên tai hằng năm, ruộng đất cằn xấu, kỹ thuật canh tác cổ lỗ nên người nông dân miền Bắc và các tỉnh đầu Trung Kỳ muôn đời hầu như chỉ đủ lương thực nếu không có gì xãy ra. Nhưng từ cuối năm 1943 Pháp đã bắt dân chúng VN bán hết gạo thóc để dành, đồng thời gạo tiếp tế từ miền Nam cũng bị bế tắc vì máy bay của Đồng Minh. Nạn đói do trên đã lan tràn khắp đồng bằng sông Hồng, sông Mã, khiến cho người chết đói nằm như rạ. Người đói phải bỏ làng ra đi, kéo về thành thị xin ăn, kiếm sống nhưng một số lớn cũng gục chết bên vệ đường.

Dân chết thê thảm là dịp may ngàn đời để Việt Minh khai thác tuyên truyền đánh Pháp, diệt Nhật cứu nước. Cũng nhờ cái bảng hiệu vàng ròng này trong giai đoạn 1940-1945, Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh chẳng những được yên ổn phát huy, mà còn được Cơ quan Tình báo Trung Hoa QG do tướng Trương Phát Khuê chỉ huy, thuê mướn săn tin quân Nhật tại biên giới Hoa-Việt và nội địa VN.

Sau đó vào ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật hốt trọn quân Pháp tại Đông Dương, khiến cho Mỷ mất hết tin tức tình báo, nên dù biết Hồ là điệp viên của Cộng Sản Quốc Tế, nhân viên tình báo Hoa Kỳ (OSS), đã phải thay đổi thái độ hợp tác với bác. Từ đó Hồ được Charles Feen nhân viên tình báo trong Đội Yểm Trợ Không Lưc Hoa Kỳ (AGAS) tại Trung Hoa, đặt cho bí danh Lucius.

Thêm cơ duyên một lần nữa: Đó là ngoài việc Hồ được Mỹ tin dùng kể cả CSVN qua chiêu bài Việt Minh và điệp viên đệ tam quốc tế Hồ Quang, còn được Hoa Kỳ phục hồi nhanh chóng về trang bị và nhân lực. Tóm lại, nhờ dựa lưng Mỹ và nạn đói năm Ất Dậu đang hoành hành, cọng sản Đông Dương gần như chiếm phần ưu tiên, chuẩn bị theo phe Đồng Minh thắng trận, đổ bộ vào VN cướp Chánh quyền của Chính phủ Bảo Đại, do người Nhật dựng lên.

Trong giai đoạn từ 17-4-1945 tới 25-8-1945, Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Ông sinh năm 1883 tại Hà Tĩnh và là một học giả uyên bác nổi danh khắp nước, qua các tác phẩm biên khảo giá trị như Phật Giáo, Nho Giáo, Lịch Sử VN. Nguyên Thanh Tra tiểu học, năm 1939 ông được bổ nhiệm Dân biểu miền Bắc. Ngày 30-3-1945, lúc đang tị nạn trốn sự bắt bớ của Mật Thám Pháp tại Thái Lan, Trần Trọng Kim được Nhật đưa về Huế gặp vua Bảo Đại, lập Chính Phủ vào ngày 16-4-1945.

Vì chỉ hiện diện trong một thòi gian ngắn ngủi, nên nội các Trần Trong Kim bị các nhà biên khảo đánh giá thấp và sự bóp mép của tài liệu đảng. Ngày nay, nhiều sử gia qua lăng kính vô tư, đã công nhận rằng đó không phải là cải cách giấy, mà là các kế hoạch của một Chính phủ đã phản ảnh đúng quan điểm tổng quát, qua cái nhìn của giới thượng lưu và trí thức lúc đó, về một nước VN độc lập, không còn chịu ảnh hưởng của người Pháp.

Sau hết dù chỉ có bốn tháng nhưng Thủ Tướng Kim và nội các đã thực hiện phần nào các kế hoạch đã đề ra. Còn một điều khác cũng rất quan trọng, là hầu hết những vị Bộ Trưởng được tuyển chọn, đa số là khoa bảng tốt nghiệp từ Pháp về như Trần văn Chương, Hồ Xuân Hãn, Hồ Tá Khanh, Trần Đình Nam, Trịnh Đình Thảo. Ngay trong phiên họp đầu tiên ngày 4-5-1945, nội các đã soạn thảo hiến chương, quyết định lấy lại quốc hiệu nước là Việt Nam, từ thời vua Gia Long năm 1802, hàm ý minh định sự vẹn toàn lãnh thổ Đại Việt với ba miền Nam-Trung-Bắc.

Ngày 2-6-1945 lá Quốc Kỳ mới của Việt Nam chính thức chào đời, có màu vàng với ba sọc đỏ theo hình quẻ LY trong kinh Dịch. Lá cờ này là tiền thân của Lá Quốc Kỳ hiện tại mà quốc dân Việt Nam đã sử dụng tới năm 1975 tại Việt Nam Cộng Hòa. Sau ngày 30/4/1975; mất nước, Cờ Vàng theo người Việt Quốc Gia trên mọi nẻo đường tỵ nạn Cộng sản, mà vinh dự thay là tại Hoa Kỳ, đã có nhiều thành phố chấp nhận là lá cờ duy nhất đại diện cho Việt Nam tại hải ngoại.

Ngoài ra còn chọn bài hát Đăng Đàn Cung làm quốc thiều cho cả nước. Trong khi đó Đồng Minh tàn dư Pháp của De Gaulle và Việt Minh qua bản hiệu làm thuê cho OSS, tiếp tục đánh phá làm sụp đổ ngôi nhà VN vưà được dựng lên. Vua Bảo Đại hay đúng hơn nội các Trần Trọng Kim gần như không có một lực lượng quân sự nào, kể cả Nghĩa Dõng Quân tiền thân của lính Khố Đỏ thời Pháp và cảnh sát, cũng do người Nhật nắm giữ.

Mãi tơí tháng 6-1945 Nam Kỳ được Nhật giao hoàn về VN, Chính phủ mới có quyền tổ chức một lực lượng Bảo An. Nói tóm lại, vận mệnh của VN lúc đó nằm trong sự bảo vệ của quân đội Nhật cho nên khi Thiên Hoàng đầu hàng, dĩ nhiên cả nước đâu có quân lực để bảo vệ quyền lực, nên mới bị cọng sản cướp đoạt vận mệnh quốc gia một cách dễ dàng, bằng vài ba cây súng, mà đảng gọi là cách mạng vĩ đại tháng tám, mùa thu lá bay.

Trong lúc người Quốc Gia tàn úa vì nghèo cực và cô độc, thì Hồ và Việt Minh hể hả thừa mứa qua sự giúp đỡ của liệt cường, từ nước tổ Liên Xô, Trung Cộng cho tới Trung Hoa Dân Quốc và tình báo OSS của Hoa Kỳ. Chính Thiếu Tá Allison.K.Thomas đích thân cùng các toán viên nhảy dù xuống một mật khu của Việt Minh tại Bắc Việt, mang theo nhiều vũ khí, đạn dược cung cấp cho VC, đồng thời huấn luyện các du kích quân sử dụng các vũ khí đó.

Người Mỹ còn cho Việt Minh những tin tức tình báo về Nhật tại Đông Dương, bày kế hoạch cho Hồ cướp chính quyền khi Nhật đầu hàng Đồng Minh trên đất Việt. Lợi dụng sự đoàn kết dân tộc, nhiều cán bộ cọng sản cao cấp nằm vùng như Nguyễn Mạnh Hà, Hoàng Minh Giám, Tôn Quang Phiệt, Phạm Ngọc Thạch, Phạm văn Bạch… trà trộn vào đủ mọi cơ quan, từ trung ương ở Huế cho tới tận Nam Kỳ.


Tất cả là những yếu tố góp phần làm sụp đổ nội các Trần Trọng Kim, tạo nên một khoảng trống vô quyền lực vào những ngày quân Nhật đầu hàng Đồng Minh. Về ngân quỹ dự trữ của VN tại Ngân Hàng Đông Dương, Nhật chẳng những rút hết số tiền đã có do Pháp ký thác hơn 800 triệu Phật Lăng mà còn in thêm tiền không bảo chứng, tạo tình trạng lạm phát, góp phần cho nạn đói và trộm cướp khắp nơi.

Mặc dù bị Việt Minh phá hoại, xúi dục dân chúng đánh cướp các kho gạo dự trữ công cộng, hành hung cản trở những viên chức phát gạo chẩn bần, hay bất nhơn hơn, là bán tin, chỉ điểm cho máy bay của Hoà Kỳ, đánh phá các trục giao thông, tàu thuyền chở gạo từ Nam ra Bắc, khiến cho hơn 1 triệu người chết đói. Tuy nhiên từ tháng 6-1945, Chính phủ cũng đã ngăn được nạn đói, do trúng mùa Chiêm và nhất là gạo trong Nam đã chở ra được ngoài Bắc, dù Mỹ đã đặt mìn phong tỏa Hải Phòng cùng các hải cảng lớn.

Trong vấn đề cải cách, chính phủ đã ban hành lệnh giảm hay bỏ hẳn nhiều loại thuế bất công và bóc lột người dân nghèo có từ thời Pháp, nhất là loại thuế thân. Về giáo dục, lấy chữ quốc ngữ làm ngôn ngữ chính trong các chương trình giảng dạy, đã tổ chức khóa thi tiểu học đầu tiên bằng chữ Việt mới vừa cải cách. Chính điều cải cách quan trọng này, đã mở đuờng cho Việt Minh sau này, phát động phong trào Bình Dân giáo dục, xoá nạn dốt nát trong mọi tầng lớp dân chúng nhất là tại nông thôn và các làng làm cá ven biển.

Từ tháng 7-1945, Nhật trả độc lập hoàn toàn cho VN và giao lại toàn vẹn lãnh thổ, chính phủ đã lập ra một Ủy Ban Quốc Gia phụ trách nền quốc học. Để chứng tỏ sự tự cường, tự do, chính phủ đã công bố nhiều buổi lễ, hồi phục và vinh danh các anh hùng liệt nữ mọi thời, từ Hùng Vương quốc tổ cho tới những nam nữ liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chống Pháp xâm lăng, trong đó có VN Quốc Dân Đảng.

Tất cả tên các đường phố đều được đặt lại, bằng tên các anh hùng VN như Lê Lợi, Quan Trung, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Thái Học. Song song cho phá bỏ các tượng đài của Pháp dựng lên tại thành phố, đô thị. Báo chí cũng được dịp nở rộ và tự do phát triển viết lách. Ngày 25-5-1945, một dụ ra đời thành lập Hội Đồng Quốc Gia Thanh Niên, mục đích đoàn ngũ hóa tuổi trẻ VN vào các tổ chức, đáp ứng phong trào thanh niên đã bùng nổ mạnh từ sau khi Nhật lật đổ Pháp ngày 9-3-1945.

Tuy nhiên, công lao lớn nhất của chính phủ Trần Trọng Kim, đáng được nhắc nhớ trong dòng lịch sử dân tộc, là đã tranh đấu với chính phủ Nhật lấy lại tất cả lãnh thổ VN. Thật vậy, giống như Pháp, người Nhật ban đầu cũng chỉ hứa suông trả nước lại cho người VN, nhưng thực tế là chỉ nói miệng. Cũng nhờ chính phủ Trần Trọng Kim mềm mỏng dùng ngoại giao lần hồi chẳng những thu hồi được Ba Kỳ, mà còn lấy lại những thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng vào tháng 7-1945. Do trên vua Bảo Đại mới ban hành 4 Đạo Dụ thành lập Hội Đồng Tư Vấn Quốc Gia, để soạn thảo Hiến Pháp. Nhiều lãnh tụ chính trị miền Nam như Hồ văn Ngà, Trần văn Ân đều được tham dự trong Ủy Ban của Chính Phủ.

Nhưng giữa lúc hòa bình đang hé lộ trên quê hương, thì vòng vây của Đồng Minh Mỹ, Anh, Trung Hoa Dân Quốc càng lúc càng siết chặt và ra tuyên cáo đòi Thiên Hoàng Nhật, phải buông súng đầu hàng vô điều kiện, khi tại mặt trận Âu Châu, hai nước Đức-Ý đã đầu hàng. Thế là bầy kên kên vỗ cánh, chẳng những cán bộ VC nằm vùng như Hoàng Minh Giám, Nguyễn Mạnh Hà.. mà còn có nhiều nhân vật quốc gia như Phan Kế Toại, Trần văn Chương và tệ nhất là Bộ Trưởng Kinh Tế Hồ Tá Khanh (con Hồ Tá Bang) đòi toàn bộ Nội Các Trần Trọng Kim phải từ chức, để cho Việt Minh lên cầm quyền vì chúng đang có quyền lực (Theo Vũ Ngự Chiêu, trong The Other Side of Vietnamese Revolution).

Do trên ngày 7-8-1945 Trần Trọng Kim từ chức và chưa kịp lập Nội Các mới, thì biến động chính trị làm thay đổi tất cả, khi Thế Chiến 2 đột nhiên chấm dứt và Nhật chịu đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện sau khi Liên Xô xua quân chiếm Mãn Châu ngày 8-8-1945 và hôm sau 9-8-1945, hai trái bom nguyên tử trút xuống nước Nhật.

Để chuẩn bị cướp công, Phạm Khắc Hòe lúc đó là Ngự tiền đổng lý của Bảo Dại nhưng lại làm tay sai cho Đệ tam quốc tế do Tôn Quân Phiệt đại diện. Hoè gièm pha, kiếm chuyện ngăn cản không cho phái đoàn Trần Trọng Kim vào Sài Gòn tiếp nhận chính quyền, tạo khoảng trống để nhóm hung thần Nam Kỳ Trần văn Giàu, Dương Bạch Mai, Nguyễn văn Tạo, Nguyễn văn Trấn cướp chính quyền.

Nói chung khắp nơi, những đảng phái và người quốc gia đều đứng lên chống Việt Minh. Tại Nam Kỳ, nhóm Đệ Tứ liên hợp với hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất. Ngày 17-8-1945, Việt Minh đàn áp phong trào ủng hộ Chính Phủ Trần Trong Kim do công chức Bắc Kỳ tổ chức tại Hà Nội, khiến Nguyễn Xuân Chữ, Chủ Tịch Uỳ Ban Chính trị tại đây phải giao quyền cho chúng, kéo theo sự sụp đổ hoàn toàn của chính phủ Quốc Gia. Ngày 23-8-1945, Bảo Đại nghe theo lời xúi của Phạm Khắc Hoè thoái vị.

Trong Nam Kỳ, khâm sai Nguyễn văn Sâm trước họng súng, cũng giao quyền cho Việt Minh. Để rồi không lâu, ngày 23-9-1945 quân Pháp trở lại Nam Kỳ, tấn công Sài Gòn-Chợ Lớn, giữa lúc Ủy Ban Hành Chánh của nhóm hung thần Trần văn Giàu, Nguyễn văn Trấn cứ lo đi ruồng bắt, chém giết các lãnh tụ đối lập, làm sự chiến đấu với giặc rạn nứt, suy yếu. Ngoài Bắc, Hồ Chí Minh cùng đồng đảng, chỉ lo thỏa hiệp với Pháp, tự ký Hiệp định Sơ Bộ mở đường cho giặc vào Bắc Việt. Rồi cũng chính Hồ Chí Minh lên đài tuyên chiến, để Pháp có lý do biện minh về cuộc chiến tự vệ, còn Hồ Chí Minh giữ vai trò lãnh đạo, trong Chính Phủ Liên Hợp chống Pháp từ 1946-1954.

Một que diêm có thể gây nên một đám cháy rừng. Trong đêm đen kịt Việt Nam tám mươi năm nô lệ, những đốm lửa từ que diêm nội các Trần Trọng Kim, vừa thắp sáng niềm hy vọng tràn trề về một quê hương sắp có tự do và thống nhất, thì giông tố cọng sản đã đến từ một địa ngục tối om, như những bờ núi đá che khuất ánh lửa đó. Hỡi ôi trong đêm đen nô lệ VN, thiếu gì bóng tối và những ảm đạm do con người thiếu lương tri tạo ra. Phải đến mấy chục năm sau, đóm lửa ngầm trong lịch sử mời bừng lên soi sáng lại một chặng đường xa xăm VN máu lửa.

Giờ đây ai cũng biết, ngay sau khi cướp được chính quyền trong tay nội các Trần Trọng Kim, thời vua Bảo Đại vào ngày 19 tháng 8-1945, Hồ và đảng cọng sản đệ tam quốc tế, đã dùng đủ mọi xảo thuật để mời quân viễn chinh Pháp, sau khi thay chân quân Anh-Ấn, chiếm Nam Kỳ và ra Bắc. Có như vậy, trước công luận quốc tế, chánh quyền cọng sản do Hồ đứng đầu vừa lượm được bên lề lịch sử, khi người Nhật buông súng. Ngoài bức mật điện viết ngày 8-12-1946 của Sainteny viết gởi Hồ Chí Minh, chưa hề được công bố, đại ý là muốn Hồ lên đài phát thanh khai chiến với Pháp.

Sau đó là những lời tuyên bố của Trường Chinh quân Pháp ra Bắc, quân Tàu rút về và dĩ nhiên Pháp sẽ ký kết với chúng tạ Đây là một sự công nhận có giá trị Quốc tế. Thế rồi sự đi đêm giữa hai phía êm đềm như mặt nước hồ Gươm, sau khi Hồ tự ký Hiệp ước Sơ Bộ, tự cho tàu chiến Pháp vào hải cảng Hải Phòng để “Pháp thừa nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, thuộc khối Liên Hiệp Đông Dương và Liên Hiệp Pháp.”

Còn sự xung đột đẫm máu tại Hải Phòng là giữa quân Tàu và Pháp, chứ không phải Việt Minh. Ngày 18-3-1946, quân viễn chính Pháp của Tướng Leclerc vào Hà Nội trong sự mừng đón hồ hởi của Hồ Chí Minh và bộ hạ. Đó là một sự thật lịch sử đau đớn tận cùng, khi ta ngồi đọc lại những bi hài của câu chuyện lịch sử, cảnh Võ Nguyên Giáp đại diện Hồ, tham dự duyệt binh trước cột cờ Hà Nội ngày 22-3-1946, cảnh Hồ ra tận soái hạm của Pháp ở Vịnh Hạ Long ngày 24-3-1946 để chầu Cao Ủy DArgenlieur và bi thảm nhất là bộ đội Việt Minh chỉ lo ruồng bố tiêu diệt các lực lượng Quốc Gia đối lập, bỏ mặc cho quân Pháp tiến chiếm hầu hết lãnh thổ VN.

Rồi thì chiến tranh xảy ra giữa Việt Minh và Pháp, do chính Hồ Chí Minh kêu gọi toàn qước kháng chiến vào ngày 19-12-1946 và kết thúc bằng Hiệp Định Genève 1954, qua huyền thoại chiến thắng của Võ Nguyên Giáp và Bộ Đội VC. Nhưng hào quang đó tới năm 1977 trở nên tồi tệ giữa hai đồng chí Trung Cộng và Việt Cộng, thì sự bí mật về chín năm kháng chiến và Điện Biên Phủ mới được đàn anh Trung Cộng bật mí, cho nên đi tìm lịch sử cận đại, chớ nên lạc bước theo người xưa, cứ tưởng huyền thoại là thực chất, rốt cục phải sống bên lề cuộc đời.

Một chân lý không bao giờ dời đổi trong dòng sinh mệnh của dân tộc VN, đó là cho dù đất nước có ai lãnh đạo chăng nữa, thì mục đích đánh đuổi xâm lăng thời nào cũng vẫn là xương máu của toàn dân. Có khác chăng, là trong khi chiến đấu họ có được chính quyền vinh danh hay biết tới, hoặc bị đảng cọng sản quốc tế dành hết công trạng. Dù gì chăng nữa, ngày nay chúng ta đã cảm thông và kính phục lòng yêu nước nồng nàn của người VN, kể cả kẻ thù là người Pháp cũng ghi nhận, bởi vì ho đã chịu trách nhiệm trong cuộc chiến đó.

Bởi vậy đọc cận sử từ lúc người Pháp bắt đầu cưỡng chiếm VN năm 1859 cho tới khi thất thiểu xuống tàu về nước năm 1955, là đọc những trang sử của cuộc kháng chiến chống sự thống trị của Pháp không bao giờ ngừng. Cuộc chiến đã làm cho thực dân lao đao và chết chóc, trong suốt thời gian chúng đô hộ VN, dù chúng ta luôn gặp thất bại và hứng chịu những cảnh đàn áp dã man của giặc. Tóm lại, việc xâm lăng VN lần thứ hai (1945), không dễ dàng như Pháp đã tưởng vì đã gặp phải kháng cự mãnh liệt của mọi người. Ngày xưa, những nhà nho yêu nước như Đồ Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan văn Trị… lạc lỏng trước các phong trào Văn Thân kháng Pháp nhưng trong cuộc kháng chiến chín năm 1946-1954, người Việt đã biết tận dụng mọi phương tiện trong đó có sự tham gia đấu tranh của giới văn nghệ sĩ, kết quả có được từ kỷ nguyên độc lập trong thời kỳ nội các Trần Trọng Kim cầm quyền từ 9-3-1945 tới 3-9-1945.

Ngày 19-8-1945 Việt Minh cướp chính quyền từ Nội Các Trần Trọng Kim khiến Bảo Đại thoái vị ngày 25-8-1945. Nguyễn Tất Thành tức Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, Hồ Quang và trăm tên khác sau cùng là Hồ Chí Minh, lúc đó đang ở hang Pắc Pó tại biên giới Cao Bằng-Quảng Tây, được kiệu về lên ngôi lãnh đạo chính phủ, do đệ tam quốc tế lập ngày 2-9-1945 tại Hà Nội.

Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa

Nước mưa và nước mắt của những người chinh chiến cũ, ngày xưa đã làm bao triệu con tim tan tác chia lìa. Rốt cục giờ chỉ là con đường hun hút trùng mây trong vài trang sách, không biết có ai còn nhớ tới họ hay chăng? Dù non nước Việt ngày nay đã tới hồi diệt vong trước sự xâm lăng không tiếng súng của Tàu đỏ, đâu khác gì thực trạng bi thảm của Việt Nam trong giai đoạn lịch sử từ ngày 9 tháng 3 tới ngày 3 tháng 9 năm 1945, Nhật chính thức đầu hàng Đồng Minh và Hoa Kỳ vô điều kiện.

Viết từ Xóm Cồn Hạ uy Di

Tháng 8-2017

MƯỜNG GIANG

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.