Hôm nay,  

Lũng Đoạn Ngoại Hối

4/19/201700:01:00(View: 8479)

Trung Quốc với núi nợ đang thuộc loại kỷ lục của thế giới.

Nhằm thuyết phục Chính quyền Trung Quốc cùng hợp tác để giải quyết hồ sơ Bắc Hàn, Chính quyền Hoa Kỳ đã tỏ ý hòa dịu với Bắc Kinh về những mâu thuẫn kinh tế giữa hai nước. Điển hình là tuần qua, Chính quyền Donald Trump thông báo việc không nêu danh Trung Quốc là quốc gia có chính sách lũng đoạn ngoại hối. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu lũng đoạn ngoại hối là gì và phân tích bài toán ngoại hối của Bắc Kinh.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuận Nghĩa. Thưa ông, sáng Chủ Nhật mgày 16 trong tin nhắn qua mạng xã hội Twitter, Tổng Thống Donald Trump cho biết Chính quyền của ông không đặt Trung Quốc vào danh mục các quốc gia can tội lũng đoạn ngoại hối vì Bắc Kinh đang hợp tác với Hoa Kỳ để giải quyết vấn đề Bắc Hàn. Trong bối cảnh căng thẳng về an ninh tại vùng Đông Bắc Á trước thái độ khiêu khích của chế độ Cộng sản Bắc Hàn, quyết định kinh tế đó từ phia Hoa Kỳ cũng làm nhiều người phân vân về lập trường dời đổi của ông Donald Trump, nhưng trước hết, quý thính giả của chúng ta cũng muốn rõ “lũng đoạn ngoại hối” hay “currency manipulation” là gì? Xin đề nghị ông phân tích cho hồ sơ kinh tế rắc rối này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quả thật, đây là một hồ sơ rắc rối mà nếu không hiểu ra, người ta có thể kết luận sai và nhất là không thấy trước nhiều biến động bất ngờ và nguy hiểm sau này.

- Dù không lệ thuộc nặng vào xuất khẩu bằng nhiều nền kinh tế khác như Nam Hàn, Đức hay Trung Quốc, kinh tế Hoa Kỳ bị nhập siêu quá lớn và quá lâu. Vì vậy, năm 2015, Quốc hội Mỹ có một đạo luật về phát huy và kiểm soát ngoại thương theo đó, Bộ Ngân Khố - là Bộ Tài Chính của các nước khác – phải báo cáo một năm hai lần về quan hệ buôn bán với các đối tác chính và chỉ ra trường hợp cạnh tranh bất chính bằng tỷ giá đồng bạc quá thấp gọi là lũng đoạn ngoại hối, hầu Chính quyền có biện pháp đối phó thích ứng.

- Về chuyên môn, khi phân tích tỷ giá hay hối suất đồng bạc và chính sách kinh tế đối ngoại của các nước đối tác, Bộ Ngân Khố Mỹ có ba tiêu chuẩn thanh lọc về nạn lũng đoạn ngoại hối hay hối đoái, là 1/ đạt thặng dư mậu dịch với Hoa Kỳ, ít ra hơn 20 tỷ đô la trở lên; 2/ đạt thặng dư cán cân vãng lai, cụ thể là 3% của tổng sản lượng GDP; 3/ đơn phương can thiệp liên tục vào thị trường ngoại hối qua 12 tháng trước, khi mua ngoại tệ xứ khác đến ngạch số tổng cộng cao bằng 2% của Tổng sản lượng, nhằm làm giảm giá nội tệ của mình. Từ đó, vào Tháng Tư và Tháng 10 mỗi năm, Bộ Ngân Khố Mỹ công bố báo cáo khảo sát cho Quốc hội và quốc dân, gần đây nhất là phúc trình hôm 14 vừa qua, với kết luận đáng chú ý là có sáu nước thuộc diện “cần theo dõi” là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức và Thụy Sĩ vì vi phạm một hay hai trong ba tiêu chuẩn nói trên, nhưng không xứ nào can tội “lũng đoạn ngoại hối”, kể cả Trung Quốc là nền kinh tế có mức xuất siêu cao nhất với Hoa Kỳ, lên tới hơn 300 tỷ đô la vào năm ngoái.

Nguyên Lam: Nếu vậy thì việc khảo sát đó là nhiệm vụ chuyên môn của Bộ Ngân Khố, và có phải rằng năm nay Trung Quốc thoát tội lũng đoạn ngoại hối không là quyết định chính trị của Tổng thống như người ta cứ tường thuật. Thưa ông, vì sao lại có nghịch lý này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, từ năm 1994 tới nay, Hoa Kỳ chưa bao giờ chính thức kết án một quốc gia nào đó đã can tội lũng đoạn hối đoái. Thứ hai, mươi năm về trước thì Bắc Kinh cố tình phá giá đồng Nguyên so với Mỹ kim của Hoa Kỳ để bán hàng cho rẻ nên Quốc hội Mỹ, nhất là từ đảng Dân Chủ, có phản ứng đả kích mạnh vì vậy mới ban hành đạo luật năm 2015.

- Thực tế thì Bắc Kinh dần dần chấm dứt biện pháp đó từ giữa năm 2014 trở đi và năm ngoái còn điều chỉnh lại, trước tiên là hạ giá chậm hơn rồi lại còn nâng giá, cho nên từ mấy tháng nay so với đô la Mỹ thì đồng Nguyên tăng giá được 1%. Sự thật thì Bắc Kinh lâm vào cái thế kẹt mà giới kinh tế gọi là “tam đa đoan”, hay ba điều bất khả, là trong ba chính sách thì chỉ áp dụng được hai mà thôi.

Nguyên Lam: Xin ông vui lòng trình bày cho cái thế kẹt đó của lãnh đạo Trung Quốc.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Về lý luận kinh tế, người ta nói đến ba chính sách bất khả tương dung: một là có chính sách ngoại hối ổn định với một tỷ giá nhất định; hai là có chính sách tự do tư bản, là không kiểm soát dòng vốn ra hay vào lãnh thổ: và ba là có chính sách tiền tệ của một cơ chế độc lập. Trong ba chính sách ấy thì các nước chỉ thi hành được hai, nếu muốn áp dụng cả ba thì dễ bị khủng hoảng như nhiều nước đã bị, là Mexico năm 94-95, các nước Đông Á năm 97-98 hay Argentina vào đầu thế kỷ 21. Nay Trung Quốc cũng chẳng thoát định luật ấy.

- Chúng ta không quên là các đồng bạc của Mỹ, Âu, Anh, Nhật đều được thả nổi cho lên xuống theo quy luật cung cầu của thị trường, mà Bắc Kinh lại chủ yếu neo đồng Nguyên của họ vào đô la Mỹ theo một tỷ giá họ định ra mỗi ngày và cho phép giao dịch trong biên độ là 1% rồi 2%, chứ không thả nổi. Từ giữa năm 2014, Mỹ kim lại lên giá cho nên nếu để đồng Nguyên tăng theo thì sẽ thành cao giá hơn so với đồng Euro hay đồng Yen và khó xuất khấu hơn. Nếu thả neo cho lỏng tức là can thiệp bằng cách bán Mỹ kim để đồng Nguyên sụt giá thì bị kết tội lũng đoạn hối đoái và vừa bị nạn tẩu tán tư bản vừa mất dự trữ ngoại tệ!

- Năm qua, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc từ gần 4000 tỷ đô la đã mất một phần tư, nay chỉ còn gần 3000 tỷ thôi. Dù là kho đạn khá dày thì họ cũng phải dùng vào mục tiêu khác và chung cuộc thì khó vượt qua sóng gió vì núi nợ quá cao ở nhà, trong khi kinh tế vẫn cần xuất khẩu nếu không thì suy trầm dẫn tới động loạn xã hội. Người ta cứ sợ hãi hay đả kích Chính quyền Trump là nhượng bộ Trung Quốc mà chẳng thấy ra nguy cơ khủng hỏang của Bắc Kinh khi nay mai đồng Mỹ kim lại còn tăng giá!

Nguyên Lam: Ông vừa nêu ra một nghịch lý rất lạ là Mỹ kim sắp lên giá làm Bắc Kinh có thể bị khủng hoảng chứ không ở vào thế mạnh về kinh tế trong quan hệ với Hoa Kỳ. Thưa ông, chuyện ấy là gì vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin miễn bình luận về thế kẹt của lãnh đạo Bắc Kinh tại Đông Á khi gặp mâu thuẫn với Nhật Bản và muốn gây sức ép với cả Nam Hàn lẫn Bắc Hàn về an ninh mà không đạt kết quả trước sự thúc giục của Hoa Kỳ. Xin đề nghị là ta nên nhìn qua lĩnh vực không là chính trường hay chiến trường mà là thị trường, vốn chẳng có giới hạn trong/ngoài nhưng lại ảnh hưởng đến sinh hoạt toàn cầu, trước hết là qua một biểu hiện bất ngờ là giá cả. Đó là tỷ giá đô la. Mỹ kim lên giá hay không thì do thị trường quyết định và chính thị trường ấy mới gây khó cho kinh tế Trung Quốc.

- Về thị trường thì trong khối kinh tế Âu-Mỹ-Nhật, Hoa Kỳ tạm phục hồi sau vụ Tổng suy trầm 2008-2009. Vì vậy, Ngân hàng Trung ương Mỹ bắt đầu nâng lãi suất khỏi số không từ Tháng 12 năm ngoái, tăng lần nữa vào Tháng Ba vừa qua và sẽ còn tăng nếu kinh tế có chỉ dấu nóng máy là lạm phát. Phái nói thêm rằng đáng lẽ họ tăng lần đầu từ Tháng Tám năm ngoái mà lại tạm hoãn vì sợ gây ra khủng hỏang cho Trung Quốc khi ấy. Cho nên thế mạnh của Hoa Kỳ nằm ở chỗ đó mà có lẽ Bắc Kinh cũng thấy ra.

Nguyên Lam: Trên diễn đàn này, ông nhiều lần nói đến tương quan mạnh yếu giữa hai nền kinh tế dẫn đầu thế giới với thế mạnh của nền kinh tế Hoa Kỳ. Phải chăng một biểu hiện của thế mạnh đó chính là vị trí của đồng Mỹ kim, cho nên nếu tiền Mỹ lên giá thì Bắc Kinh vất vả?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng sau vụ Tổng suy trầm 2008-2009 và biện pháp tăng chi ít công hiệu của Chính quyền Barack Obama, Ngân hàng Trung ương Mỹ ráo riết hạ lãi suất tới sàn rồi ba lần áp dụng biện pháp tiền tệ bất thường là “nâng mức lưu hoạt có định lượng” hay “quantitative easing”, nôm na là bơm tiền vào nền kinh tế, tổng cộng khoảng 4500 tỷ đô la, cho nên Mỹ kim sụt giá mạnh. Khi tình hình kinh tế khả quan hơn thì ngoài việc nâng lãi suất, Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ hút lại lượng tiền đó, như thông báo “vuốt nhọn lại chính sách tiền tệ” vào Tháng Sáu 2013. Vì vậy, từ năm 2014, đồng Mỹ kim bắt đầu lên giá sau khi nằm dưới đáy.

- Khi tiền Mỹ rẻ, các nước thoải mái đi vay, nhưng khi tiền Mỹ lên giá thì xứ nào lỡ vay bằng Mỹ kim sẽ vất vả như Việt Nam và nhất là Thái Lan, Malaysia và Indonesia trong vùng Đông Nam Á. Chuyện ấy chẳng dính gì tới ông Donald Trump vì trong 15 năm qua tổng số nợ bằng Mỹ kim tăng gấp năm và nay lên tới 10 ngàn tỷ đô la. Riêng các nước đang phát triển lại còn vay quá nhiều, trong 10 năm qua, tổng số tín dụng của họ đã tăng từ 16 ngàn tỷ lên 56 ngàn tỷ đô la, hơn gấp đôi Tổng sản lượng. Hoàn cảnh của Trung Cộng càng khốn đốn hơn với một núi nợ thuộc mức tỷ lục mà diễn đàn này đã phân tích từ lâu, và ngày nay họ đang đến lúc tính sổ.

Nguyên Lam: Thưa ông, bây giờ, nhìn vào tương lai thì người ta nên chờ đợi những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Kinh tế Mỹ đã hồi phục nhưng vì sự nghiệp chính trị, Chính quyền Trump phải cố hoàn tất việc cải cách kinh tế và thuế khóa để thúc đẩy tăng trưởng và tạo thêm việc làm. Khi sản xuất đã tăng thì lãi suất sẽ còn tăng và Ngân hàng Trung ương có thể hút bớt tiền ra khỏi nền kinh tế để tránh lạm phát như bà Thống đốc Janet Yellen vừa thông báo.

- Vì vậy các thị trường tài chính đều ước đoán năm nay Mỹ kim còn tăng giá thêm từ 10 tới 15%, lên tới mức kỷ lục, cho nên sẽ trở thành khan hiếm hơn cho các nước Âu Châu và Á Châu đã vay vào bằng Mỹ kim. Chúng ta không quên Mỹ kim là ngoại tệ sử dụng phổ biến nhất, chiếm hơn 40% nghiệp vụ thanh toán trên toàn cầu, so với gần 33% của đồng Euro, 7,5% của đồng Anh kim, 3% của đồng Yen Nhật và chỉ có 1,7% của đồng Nguyên. Trong vị trí bá chủ thực tế của đô la Mỹ, nếu hối suất lên tới mức kỷ lục so với các ngoại tệ khác thì các nước đang phát triển mà vay quá nhiều sẽ bị thiếu tiền, bị suy trầm hoặc suy thoái, đó là tương lai của Trung Quốc với núi nợ đang thuộc loại kỷ lục của thế giới.

Nguyên Lam: Nếu như vậy, có lẽ việc Hoa Kỳ xá tội lũng đoạn ngoại hối cho Trung Quốc chỉ là đòn ngoại giao mà thôi. Nhưng ông Donald Trump cũng than phiền việc Mỹ kim lên giá, cho nên thưa ông nếu đô la tăng giá làm hàng hóa của Mỹ khó bán hơn thì liệu Chính quyền Trump có biện pháp gì không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đấy mới là điều đáng ngại. Tôi xin nhắc lại chuyện xưa: Trong thời Chiến tranh lạnh, kinh tế Hoa Kỳ vừa bị lạm phát vừa bị suy trầm từ năm 1980 nên Ngân hàng Trung ương mới ráo riết tăng lãi suất với hậu quả là từ 1980 tới 1985 là Mỹ kim lên giá 50% so với tiền Nhật, Đức, Anh, Pháp. Vì vậy, Chính quyền Ronald Reagan mời bốn nước họp tại New York vào Tháng Chín năm 1985 để cùng phối hợp biện pháp hối đoái, là hạ giá Mỹ kim so với đồng Yen Nhật và đồng Đức Mã ch Hoa Kỳ dễ xuất khẩu hàng chế biến. Nhưng hậu quả của biện pháp ngoại hối từ Hiệp ước Plaza này là tiền Nhật quá rẻ lại thổi lên bong bóng và làm dân Mỹ khi ấy khiếp sợ kinh tế Nhật và có phản ứng chống Nhật Bản. Thế rồi khi bóng bể thi Nhật bị suy sụp từ 1991 cho tới nay, mặc dù Nhật là đồng minh chiến lược chứ không là đối thủ đòi thách đố Hoa Kỳ như Trung Quốc đời nay. Ngày nay, khi đô la lên giá tới kỷ lục mà ông Trump than phiền chuyện ấy thì ta nên e sợ chủ trương “Nước Mỹ Trên Hết” của ông.

- Nhìn trên đại thể thì Nhật Bản đã bị như vậy mà không chết vì có dân chủ, Trung Quốc thì khó gấp bội. Kết luận thì thị trường đang kéo cái neo của Trung Quốc xuống đáy mà Bắc Kinh buông neo thì mất tiền và bị chính trường Mỹ kết tội. Cho nên là mâu thuẫn Mỹ-Hoa chưa giảm và Nội các Donald Trump lại có toàn loại doanh gia nắm vững quy luật thị trường nên có thể biết ra đòn vào nơi và vào lúc nguy hiểm nhất! Đấy mới là chuyện nên theo dõi sau này.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông về cuộc phỏng vấn kỳ này.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.