Hôm nay,  

Cây Dân Chủ Khó Mọc Trên Đất Á

01/03/201700:00:00(Xem: 7182)

...thế giới biết rằng chế độ cộng sản Trung Quốc và cả Việt Nam đều phá hoại dân chủ...

Theo báo cáo hàng năm lần thứ chín của hệ thống truyền thông kinh tế Economist Intelligence Unit thì Chỉ số Dân chủ năm 2106 của 167 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới đã sút giảm. Đáng chú ý trong phúc trình có uy tín này là khu vực Á Châu đầy thành tích kinh tế từ mấy thập niên đã đạt nhiều tiến bộ về dân chủ hóa trong 10 năm qua nhưng thật ra lại vẫn thua các khu vực Tây Âu, Bắc Mỹ và cả Mỹ Châu La Tinh. Mục Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu vì sao Á Châu lại chậm có dân chủ….

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, hàng năm, hệ thống thông tin kinh tế của tạp chí The Economist và The Economist Intelligence Unit của Anh Quốc vẫn có một báo cáo về Chỉ số Dân chủ, gọi là Democracy Index. Năm nay, công trình nghiên cứu của họ về tình hình dân chủ trên thế giới đề cập đến sự nổi loạn của quần chúng chống lại thành phần chính trị ưu tú vì tách rời khỏi thực tế và chẳng quan tâm đến quyền lợi của người dân bình thường. Trên diễn đàn này, từ nhiều năm qua, ông nói đến khủng hoảng niềm tin vào lãnh đạo là hiện tượng khá phổ biến tại nhiều nước trước những khó khăn kinh tế dồn dập cho nên người ta hiểu được tình trạng nổi loạn được báo cáo về Chỉ số Dân chủ năm 2016 nhấn mạnh. Nhưng xuyên qua báo cáo này, ta còn thấy ra một hiện tượng khác, là khu vực Á Châu được thế giới ngợi khen về thành tích kinh tế thật ra lại hiếm có dân chủ. Vì sao lại như vậy, tiết mục chuyên đề về kinh tế của chúng ta nên tìm hiểu cho quý thính giả. Ông nghĩ sao về hiện tượng khá bất thường này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đây là một thắc mắc chính đáng vì người ta cứ lầm tưởng rằng khi kinh tế phát triển thì mức sống khả quan hơn của nhiều người trong một quốc gia sẽ khiến xã hội thay đổi dần và sự hình thành của một tầng lớp trung lưu sẽ dẫn tới dân chủ như một diễn biến bình thường. Vì lầm tưởng như vậy, người ta có thể ngạc nhiên khi thấy các nền kinh tế rồng cọp của Á Châu từ nhiều thập niên vừa qua lại chưa dẫn tới dân chủ.

- Nói về bối cảnh thì phúc trình về dân chủ của hệ thống The Economist Intelligence Unit được công bố từ năm 2006, và bản phúc trình thứ chín vừa xuất hiện đã xếp loại 167 quốc gia hay lãnh thổ, tức là gần như toàn thể nhân loại, theo bốn nhóm, là 1/ dân chủ trọn vẹn; 2/ dân chủ bất toàn; 3/ chế độ lai tạp; 4/ chế độ độc tài. Họ khảo sát và xếp loại căn cứ trên năm tiêu chuẩn là 1/ thể thức bầu cử và đa nguyên; 2/ dân quyền; 3/ sự vận hành của chính quyền; 4/ việc tham gia chính trị; và 5/ văn hóa chính trị. Theo các tiêu chuẩn ấy thì không quốc gia Á Châu nào được ở trong nhóm của 19 nước có dân chủ trọn vẹn, có 13 nước thuộc nhóm “dân chủ bất toàn”, tám nước trong loại “chế độ lai tạp” chưa dân chủ và năm nước thuộc loại “độc tài”, là Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Afghanistan và Bắc Hàn. Thật ra Việt Nam nằm ở cuối sổ, hạng 131, nếu có hơn Trung Quốc hàng 136 thì vẫn thua Cam Bốt hay Miến Điện, là điều đáng buồn.

Nguyên Lam: Sau phần bối cảnh, trước khi chúng ta đi vào việc giải thích nguyên nhân, Nguyên Lam xin hỏi rằng Nhật Bản hay Nam Hàn và Đài Loan vẫn chưa được coi là dân chù hay sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta có thể rộng lượng cho là trong 26 nước Á Châu có 21 nước ít nhiều có dân chủ, chứ sự thật thì Nhật Bản và Nam Hàn đã từ hạng có dân chủ trọn vẹn tuột xuống hạng dân chủ bất toàn từ năm 2015 và năm ngoái còn nằm dưới đó, bên cạnh Ấn Độ và Đài Loan. Trong khu vực này thì chỉ có Úc và New Zealand được coi là có dân chủ trọn vẹn, ngang hàng nhiều nước Tây Âu tiên tiến và đấy là nét đáng chú ý. Còn nhìn theo khuôn khổ thời gian thì từ mươi năm nay, Á Châu đã dân chủ hóa khá nhiều với chỉ số bình quân tăng từ 5,44 lên 5,74 nhưng thật ra vẫn còn thua Tây Âu, Bắc Mỹ và thậm chí cả Mỹ Châu La Tinh.

Nguyên Lam: Bây giờ ta bước qua phần phân tích, thưa ông, tại sao các nước Á Châu nói chung đã đạt nhiều thành tựu kinh tế từ mấy chục năm qua mà vẫn chậm có dân chủ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi không nói về những thăng trầm ngắn hạn khiến tình hình dân chủ trong một nước có thể sa sút nên bị tuột hạng, như trường hợp Nhật Bản hay Nam Hàn từ hai năm qua hay cả trường hợp Hoa Kỳ cũng bị rơi vào loại “dân chủ có vấn đề” vì cuộc bầu cử năm ngoái, là điều chưa chắc mình đã đồng ý. Nhìn trong viễn cảnh dài thì câu hỏi nêu lên rất đáng được chúng ta suy ngẫm để quy vào hoàn cảnh của Việt Nam.

- Lấy hình tượng của thảo mộc học thì dân chủ là cái cây chứ không là nhánh cỏ, chóng mọc chóng tàn. Cây dân chủ tại Á Châu có rễ quá nông, trồng trên đất hiểm và gốc lại bị đánh nên khó trở thành loại cổ thụ đã thấy trong các khu vực Âu-Mỹ. Nhiều người duy ý chí cứ tưởng thành tựu kinh tế sẽ dẫn đến dân chủ và viện dẫn trường hợp Nam Hàn hay Đài Loan đã tự chuyển hóa từ chế độ quân phiệt hay độc tài sang chế độ dân chủ. Điều ấy không đúng vì khi kinh tế mới chỉ khởi phát chứ chưa lên tới trình độ thịnh vượng thì lãnh đạo hai xứ này đã chủ động tiến hành dân chủ hóa, chấp nhận đa đảng và đối lập, rồi có khi còn thất cử. Tức là cải tổ chính trị phải đi trước cải cách kinh tế. Đã thế, sau khi có dân chủ thì cái gốc dân chủ lại bị vùi dập vì tình trạng cấu kết và tham nhũng, là trường hợp đáng tiếc ngày nay của Nam Hàn. Nói lại cho gọn thì kinh tế có thể làm đất đai thêm phì nhiêu nhưng chẳng vì vậy mà dân chủ sẽ tự nhiên đâm chồi nẩy lộc. Còn lại, các chế độ dân chủ giả hiệu chỉ trồng cỏ trên mảnh đất độc tài để lừa gạt quốc tế nhẹ dạ, là trường hợp Trung Quốc nay đang lui về thời Mao.

Nguyên Lam: Nếu dùng lại ẩn dụ về thảo mộc của ông thì có những động lực gì giúp ích cho cây dân chủ? Chẳng hạn như sự hình thành của một tầng lớp trung lưu có mức sống khá giả hơn trước thì có trở thành phân bón cho cây dân chủ hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi gọi đây là thảm kịch Á Châu. Vốn sống quá lâu trong bần cùng và chinh chiến nên khi kinh tế thăng tiến, giáo dục được nâng cấp và xã hội được đô thị hóa, giới trung lưu thành thị được tiếp xúc với thế giới bên ngoài thì ta có hai loại phản ứng. Thứ nhất là củng cố thành quả bằng cách bảo vệ hiện trạng chứ không muốn thay đổi thêm. Họ củng cố bằng cách thỏa hiệp và cấu kết với chế độ chứ không lưu tâm đến đa số lầm than còn lại. Hậu quả là ai ai cũng chỉ cố ngoi lên một vị trí cao hơn cho bản thân và gia đình mà lại e sợ thay đổi khi dân chủ tất nhiên đảo lộn trật tự cũ. Vì vậy, các nước Á Châu có thể phát đạt hơn xưa nhưng cây dân chủ vẫn chưa bén rễ. Loại phản ứng thứ hai còn nguy hại hơn vậy. Thành phần trung lưu được tiếp xúc với thế giới bên ngoài thì tìm cách sống trong thế giới đó, vì sẽ được tự do, thăng tiến và cống hiến cho các nước đã thịnh vượng trong khi quê nhà vẫn chưa ra khỏi ách bần cùng hay nền dân chủ giả hiệu. Người ta đều thấy sự thành công của di dân gốc Á tại các nước Âu-Mỹ nhưng nên tự hỏi vì sao Á Châu lại chẳng thành công như vậy? Cho nên, giới trung lưu có là đại gia ở nhà hay tiểu tốt ở nước ngoài thì vẫn là “thảm kịch Á Châu”.

Nguyên Lam: Nếu sự hình thành của tầng lớp trung lưu ở thành thị không góp phần cho dân chủ như ông vừa nhận xét một cách bi quan khi cộng đồng quốc tế mà gây áp lực thì liệu rằng có thể giới hạn các thế lực muốn đánh bật cái rễ dân chủ non yếu tại Á Châu hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì đạo lý con người, người ta phải phê phán mọi vi phạm dân chủ, nhưng về thực tế kinh tế, thế giới biết rằng chế độ cộng sản Trung Quốc và cả Việt Nam đều phá hoại dân chủ mà nhiều người vẫn lặng thinh vì truy tìm lợi nhuận ở nơi đó. Nguy hại hơn thế, vì quyền lợi mà nhiều kẻ hướng dẫn dư luận Tây phương còn lý luận là nên thông cảm với nhu cầu ổn định của chế độ và thậm chí ngợi ca tổ chức chính trị của nhiều nước Á Châu là có nền độc tài sáng suốt và cần thiết cho kinh tế. Đã vậy Bắc Kinh còn có thể dùng đòn bẩy kinh tế lũng đoạn chính trường của nhiều nơi khác tại Á Châu, như Hong Kong, Cam Bốt, Lào, Thái, Miến Điện hay Philippines hoặc cả Đài Loan. Doanh gia hay báo chí quốc tế vào những nơi đó đều thấy ra bàn tay của Bắc Kinh mà vẫn nín thinh để còn hành nghề, còn làm ăn. Truyền thông chúng ta rất nên chú ý đến những điều ấy.

- Một thí dụ gần là Bắc Kinh có thể viện dẫn biến động chính trị trong cuộc bầu tử Tổng thống tại Hoa Kỳ để chứng minh rằng chế độ chính trị của họ ổn định và lành mạnh hơn của Mỹ. Một số bình luận gia Âu-Mỹ cũng lập luận như vậy khiến người dân các nước độc tài càng phân vân. Sự thật thì biến động chính trị vừa qua là phản ứng của dân Mỹ chống các phần tử ưu tú chính trị đã chẳng quan tâm gì tới đời sống của họ. Rồi việc dân Mỹ có biểu tình theo phe này phe kia mà cảnh sát không đàn áp là một thể hiện dân chủ không thể có trong các nước độc tài. Dân chủ đòi hỏi trước hết tinh thần cởi mở là không ai được độc quyền chân lý mà sự thật có thể hiện hữu ở cả hai lề trái phải. Nếu có một lề thì không thể nào có con đường, trong khi chế độ độc tài chỉ cho lề phải tồn tại và đưa lề trái vào tù mà chẳng ai dám than!

Nguyên Lam: Nhiều người cũng cho rằng tiến bộ của khoa học kỹ thuật với sự xuất hiện của các phương tiện thông tin hiện đại như mạng Internet có thể cung cấp thông tin về xã hội cởi mở. Thưa ông, điều ấy có lợi cho tinh thần dân chủ tại Á Châu không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hệ thống Internet là thí dụ tiêu biểu của một con dao hai lưỡi. Nó có cung cấp thông tin nhưng vẫn bị chính quyền độc tài kiểm soát qua bức tường lửa, hoặc vận dụng để thanh lọc và điều hướng sự hiểu biết của giới trẻ, vốn là thành phần tiếp cận nhiều nhất với hình thái thông tin mới. Chế độ độc tài dùng Internet để truy tìm lý lịch và đàn áp, để tuyên truyền cho tính ưu việt của họ, để đưa giới trẻ vào những hưởng thụ vô hại cho nhà nước, hoặc nhằm đầu độc trí não của thanh niên về lịch sử gian trá của chế độ. Chúng ta nên tỉnh táo nhìn vào mạng thông tin ấy như một đấu trường giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu, chứ đừng tưởng rằng nhờ có Internet mà tuổi trẻ sẽ đương nhiên đấu tranh cho dân chủ. Tai hại hơn vậy, là khi những người sống trong xã hội dân chủ lại dùng thông tin có đãi lọc và định hướng của chế độ độc tài mà phóng ngược về nhà thì họ chỉ gián tiếp xác nhận rằng chế độ có lý.

Nguyên Lam: Như ông vừa phân tích thì quả thật là cái cây dân chủ rất khó mọc trên mảnh đất Á Châu không chỉ vì yếu tố đất đai hay thổ nhưỡng mà còn vì cả khí hậu toàn cầu khi chúng ta chứng kiến những gì đang xảy ra trong các quốc gia Âu-Mỹ được coi là dân chủ nhất. Như vậy thì liệu Châu Á có hy vọng gì không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cứ hay nói ngược nên sẽ tiếp tục nói ngược! Trận đánh tại Hoa Kỳ giữa Tổng thống và báo chí là sự tuyệt vời của nền dân chủ. Hoa Kỳ có Hiến pháp trái ngược với nhiều nước, nhất là với Á Châu, khi thu hẹp quyền hạn của Chính quyền để mở rộng không gian sinh hoạt của người dân. Ngoài việc tam quyền phân lập, Hiến pháp Mỹ còn cho báo chí quyền phê phán chế độ như một nghề kinh doanh, sau này được coi như Đệ tứ quyền. Phê phán đúng sai thì điều ấy ảnh hưởng đến doanh lợi chứ không thể có chế độ nhà nước nuôi báo chí như trong xứ độc tài! Hiện nay, cả Tổng thống Donald Trump lẫn báo chí nói chung đều có mức tin cậy rất thấp của dư luận và hai phe đều hàng ngày tung đòn tấn công nhau để tranh thủ hậu thuẫn của mình, là cử tri hay độc giả khi tiến bộ kỹ thuật và cạnh tranh đang đánh sụt lợi nhuận của loại truyền thông cổ điển. Chính hiện tượng ấy mới làm bật sáng ra sự thật là chính quyền gian manh hay nhà báo nói láo. Có nơi nào trên toàn cõi Á Châu mà người dân được chứng kiến hiện tượng coi thường Tổng thống và Đệ tứ quyền như vậy không? Vì thế, ta nên theo dõi chuyện này với tinh thần cởi mở, là điều chưa có tại quá nhiều nước Á Châu.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích kỳ này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.