Hôm nay,  

Du Tử Lê Và 8 Năm Quân Ngũ Tại Cục Tâm Lý Chiến, Ở 2 Bis Hồng Thập Tự, Sài Gòn

02/07/201600:00:00(Xem: 11638)
Ghi chép của Vương Hồng Anh

*Đôi điều về KBC 3168, 2 bis Hồng Thập Tự Sài Gòn

Trong bài viết “Du Tử Lê, những ngày ở KBC 3168” đăng trên Việt Báo vào cuối tháng 11 năm 1998, chúng tôi có nói qua về Cục Tâm Lý Chiến, mà khu bưu chính (KBC) có danh số là 3168. Doanh trại của đơn vị này đặt tại 2 bis Hồng Thập Tự từ năm 1955. Đây là một địa chỉ bưu chính giao dịch hành chính của đơn vị với các cơ quan dân sự và số 2 bis có một “lịch sử” của nó. Theo tài liệu quân sử của Bộ Tổng Tham Mưu và lời kể của một số niên trưởng đã làm việc tại doanh trại này từ thời gian doanh trại được hình thành, thì trước năm 1955, đường Hồng Thập Tự có tên là Chasseloup Laubat, và địa chỉ bưu chính số 2 là khu xưởng của ngành công chánh, còn 2 bis là doanh trại của một đơn vị của quân đội Liên Hiệp Pháp. Vào khoảng cuối năm 1956, Nha Chiến Tranh Tâm Lý tiếp nhận doanh trại này và xây dựng thêm một số khu nhà mới. Cũng cần ghi nhận rằng đầu tháng 2 năm 1954, trong kế hoạch phát triển quân đội Quốc gia Việt Nam, Bộ Quốc phòng cho thành lập Nha Chiến Tranh Tâm Lý, Tác Động Tinh Thần và Chính trị (tới tháng 9 năm 1956 thì cải danh thành Nha Chiến Tranh Tâm Lý). Đến cuối năm 1964, Tổng cục Chiến tranh Chính Trị được thành lập, quy hợp các nha Chiến Tranh Tâm Lý, Nha An Ninh Quân Đội, Nha Xã Hội Văn Hóa, các nha đổi thành cục, đồng thời tổng cục này lập thêm Cục Chính Huấn và các Nha Tuyên Úy Phật Giáo và Tin Lành( nha Tuyên Úy Công Giáo đã có từ trước). Riêng Nha Chiến tranh Tâm Lý cải danh thành Cục Tâm Lý Chiến, tổng chỉ huy 5 tiểu đoàn Tâm Lý Chiến, 5 Đại Đội Dân Sự Vụ hoạt động tại 4 Vùng Chiến Thuật và Biệt khu Thủ Đô. Cuối năm 1966, các tiểu đoàn Tâm Lý Chiến và Đại Đội Dân Sự Vụ sát nhập thành các Tiểu đoàn Chiến tranh Chính Trị trực thuộc Tổng cục Chiến Tranh Chính Trị. Cục Tâm Lý Chiến chỉ còn cơ quan trung ương gồm có Khối Kỹ Thuật ( điều hành các phòng Điện Ảnh, Vô Tuyến Truyền Hình, Thông tin Báo chí, Văn Nghệ, Ấn Họa, Đài Phát thanh Quân Đội, Nhật Báo Tiền Tuyến) và các khối Kế hoạch, Hành chính, Tình Báo Tâm Lý Chiến, quân số từ hơn 3 ngàn quân nhân, chỉ còn khoảng 500 người vào cuối năm 1966.

*Khi Du Tử Lê thuyên chuyển về Cục Tâm Lý Chiến

Cũng vào cuối năm 1966, một số Tổng Nha, Nha thuộc Bộ Quốc phòng được tái tổ chức, quân số của những đơn vị này, dược bổ sung cho các Cục thuộc Tổng Cục Chiến tranh Chính Trị và Tổng Cục Tiếp Vận. Riêng Khói Kỹ Thuật Cục Tâm Lý Chiến đã tiếp nhận khoảng 30 quân nhân, bổ sung cho các phòng Điện ảnh, Vô Tuyến Truyền Hình, Thông Tin Báo Chí, và Đài Tiếng Nói Quân Đội. Trong số các quân nhân bổ sung cho Phòng Thông Tin Báo Chí có Trung úy Đặng Tràn Huân (cấp bậc cuối cùng: Thiếu tá), Trung úy Lê Cự Phách ( tức là nhà thơ Du Tử Lê, khoảng 2 năm sau, nhà thơ này được thăng cấp đại úy), Thiếu úy Dương Vy Long ( tháng 11 năm 1967 trở thành dân biểu Hạ Viện), Thượng sĩ Phan Bá Thuần Hậu (bút danh là Anh Thuần). Riêng về Trung úy Lê Cự Phách, ban đầu được điều động về Cục Chính Huấn, nhưng sau đó, Cục Tâm Lý Chiến có trình văn xin hoán chuyển về Cục Tâm Lý Chiến,1 sĩ quan khác của cục được điều động thay thế Du Tử Lê ở Cục Chính Huấn.

Khi Du Tử Lê về phòng Thông tin Báo Chí, thì người viết bài này đang phụ trách ban “Phim thời sự” của phòng Điện ảnh vàVô Tuyến Truyền Hình, và đồng thời là sĩ quan Biên tập chương trình Truyền hình Quân đội trung ương do Cục Tâm Lý Chiến đảm trách. Tôi gặp Du Tử Lê lần đầu tại Phòng Thông Tin Báo Chí khi anh vừa đi làm phóng sự chiến trường từ Vùng 2 Chiến thuật trở về. Họa sĩ Mai Chửng, bạn cùng khóa 21 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức với tôi, lúc đó phụ trách về kỹ thuật trình bày của phòng này đã giới thiệu tôi với Du Tử Lê. Sau đó, tôi, Mai Chửng và Du Tử Lê trở thành bạn thân. Và vào giữa năm 1967, thì tôi xin thuyên chuyển về Phòng Thông Tin Báo Chí theo gợi ý của Du Tử Lê và Mai Chửng.

*Những chuyện về Du Tử Lê ở phòng Thông Tin Báo Chí

Khi tôi thuyên chuyển về Phòng Thông Tin Báo Chí, thì quân số của phòng có gần 20 người, trong đó có hơn 10 sĩ quan. Phòng này chiếm nguyên một ngôi nhà trong đó có 1 phòng rộng dành cho phụ tá trưởng phòng và các sĩ quan, 1 phòng dành cho tòa soạn bán nguyệt san Chiến sĩ Cộng Hòa, 1 phòng dành cho bộ phận văn thư và 1 phòng dành cho vị trưởng phòng là Đại úy Nguyễn Đạt Thịnh ( cấp bậc cuối cùng là Trung tá). Khi tôi trình diện trưởng phòng, Đại úy Thịnh đã phân nhiệm tôi vào nhóm Phóng viên lưu động tại 4 vùng chiến thuật để viết phóng sự chiến trường và các tin quân sự cho nhật báo Tiền Tuyến ( do số phóng viên cơ hữu của nhật báo rất ít chỉ phụ trách các phần tin thời sự chính trị, xã hội). Riêng Du Tử Lê, công việc chính là biên tập các bài viết của độc giả gửi về cho bán nguyệt san Chiến sĩ Cộng Hòa, và bản tin thời sự quân đội của nhật báo Tiền Tuyến, Trong trường hợp chiến trường tại các vùng chiến thuật sôi động, thì Du Tử Lê được diều động tăng cường cho nhóm phóng viên chiến trường, và vùng chiến thuật mà anh thường đến là Vùng 2 Cao nguyên.


Trong một năm phục vụ tại phòng Thông Tin Báo Chí, trước khi tôi tình nguyện thuyên chuyển về bộ chỉ huy một trung đoàn tân lập ở chiến trường Quảng Trị-Thừa Thiên, tôi đã chứng kiến nhiều sự việc liên quan đến con người Du Tử Lê, xin được ghi lại sau đây:

*Du Tử Lê và những người khách từ xa đến

Vào những năm 1967, 1968, hàng ngày, ở cửa phòng trực của doanh trại Cục Tâm Lý Chiến, thường có khách xin vào Phòng Thông Tin Báo Chí để gặp một số phóng viên, biên tập viên, với nhiều lý do khác nhau.. Người có nhiều khách nhất là Du Tử Lê, những người khách này thường từ xa về, có người từ Huế, Đà Nẵng vào, có người từ Cao Nguyên xuống, có người từ miền Tây lên, Họ gặp Du Tử Lê để trao đỏi về một bài thơ, bài viết của tác giả đăng ở các tuần báo xuất bản tại Sài Gòn, Những người này được tòa soạn các tòa báo đó hướng dẫn rằng “ cứ đén 2 bis Hồng Thập Tự xin gặp Du Tử Lê ở phòng Thông Tin Báo Chí”. Mỗi lần gặp như thế, Du Tử Lê phải nói nhỏ với Đại úy Phạm Huấn, phụ tá trưởng phòng, xin ra ngoài để đưa khách đi uống nước. Khoản tiền tiếp khách của Du Tử Lê nếu cuối tháng cộng lại cũng chiếm một phần lớn tổng số tiền nhuận bút của các tuần báo trả cho anh.

Trong số những người khách bốn phương đó, có nhiều người còn nhờ Du Tử Lê, qua sự quen biết rộng với các bạn bè ở Không quân, xin cấp giấy vận chuyển bằng phi cơ vận tải quân sự để trở lại địa phương sau chuyến đi Sài Gòn. Một trong những người bạn ở Không quân đã “gánh giùm” cho Du Tử Lê việc này là anh Phan Lạc Giang Đông, lúc đó là quân nhân phục vụ tại Bộ Tư lệnh Không quân.

Không chỉ giúp bạn về vận chuyển, có những trường hợp Du Tử Lê còn tìm chỗ tạm trú cho bạn trong thời gian người này ở Sài Gòn. Chiếc Vespa của anh đã chở không biết bao nhiêu người bạn từ bốn vùng chiến thuật, ngao du Đô Thành.

*Vài câu chuyện về tình bạn của Du Tử Lê

Trong số thi hữu, văn hữu của Du Tử Lê, có vài người (mà vì sự tế nhị xin miễn nên tên) gặp nhiều khó khăn trong đời sống, và mỗi lần từ xa về Sài Gòn, đã được Du Tử Lê tự nguyện lo luôn tiền tiêu vặt, ăn uống, và những chuyện như thế Du Tử Lê không kể với ai.. tôi biết được là do chính do những người đó kể lại với tất cả sự cảm kích về tình bạn của Du Tử Lê.

Trước năm 1975, tôi gặp Du Tử Lê lần cuối vào mùa Hè năm 1973. Thời gian đó, Du Tử Lê phụ trách tòa soạn nguyệt san Tiền Phòng của Phòng Thông Tin Báo Chí. (báo dành cho sĩ quan). Tôi xin phép vào Sài Gòn trong 1 tuần để dự kỳ thi chứng chỉ cử nhân chuyên khoa Nhân Văn. Tôi đã ở lại nhà của Du Tử Lê trong khu cư xá Bưu Điện trong 3 ngày đầu, do nhà bạn gần trường thi. Sau đó, tôi về nhà người cậu để thăm bà con. Khi từ giả bạn, tôi nói rằng mùa hè năm sau, tôi sẽ về lại Sài Gòn để dự kỳ thi hoàn tất chương trình Cử nhân, Nhưng lời hứa đó đã không thực hiện được vì vào mùa Xuân năm 1974, tôi thuyên chuyển về Đà Nẵng, và do công việc tại đơn vị mới quá nhiều, nên tôi đành tạm gác việc thi cử. Tháng 12 năm 1974, khi tôi đang phụ trách Phòng Tâm Lý Chiến của một sư đoàn Bộ binh, vị Tướng Tư lệnh Sư đoàn muốn phổ biến một bài viết về chiến công của Sư đoàn trên nhật báo Tiền Tuyến. Tôi đã cử một sĩ quan đem bài viết về Sài Gòn kèm lá thư của tôi gửi cho Du Tử Lê nhờ bạn chuyển cho nhật báo Tiền Tuyến. Khi giao thư. tôi hỏi người sĩ quan: “Cậu có biết nhà thơ Du Tử Lê không”. Sĩ quan này trở lời ngay: “Em rất thích thơ của Du Tử Lê, nhưng chưa có dịp gặp ông ta”. Sau lần đó, tôi không có dịp để liên lạc với nhà thơ lớn này.

Gần 9 năm sau, vào cuối năm 1981, từ trại tù trở về Sài Gòn, cuộc sống của tôi vô cùng khó khăn, Trước khi được một người bạn bão lảnh vào dạy Toán tại một Trung tâm luyện thi Đại học, trong ba năm đầu, tôi phải làm đủ nghề để mưu sinh. Nhà tôi ở gần Cầu Thị Nghè, mỗi lần đạp xe ngang 2 bis Hồng Thập Tự, tôi đều nhìn vào doanh trại Cục Tâm Lý Chiến của ngày tháng cũ, vào lúc đó đã trở thành một “cơ quan nhà nước”, mà lòng ngậm ngùi. Toàn cảnh của doanh trại có nhiều thay đổi nhưng cái hồn xưa vẫn còn đó.

Tháng Sáu năm 1995, trước ngày rời Sài Gòn để sang Mỹ theo diện H.0, tôi đã đạp xe đi ngang 2 Bis Hồng Thập Tự, và đã dừng lại ở bên đường hơn một phút. Tôi đã nhìn toàn cảnh doanh trại ngày xưa lần cuối, tôi mường tượng khu nhà của Phòng Thông Tin Báo Chí, lòng bùi ngùi nhớ đến những người lính muôn năm cũ, những người bạn của đơn vị đầu tiên trong đời quân ngũ của tôi, và sáng ngời lên trong tâm tưởng là nụ cười hiền hậu của Du Tử Lê mỗi lần thấy tôi từ chiến trường trở về.

 Đêm thứ Sáu 24 tháng Sáu năm 2016

Vương Hồng Anh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.