Hôm nay,  

Obama Với Chiến Tranh Và Hoà Bình Tại Trung Đông Và Ch U Á

05/06/201612:35:00(Xem: 5637)
OBAMA VỚI CHIẾN TRANH VÀ HOÀ BÌNH
TẠI TRUNG ĐÔNG VÀ CHÂU Á
 
Massimo Calabresi
(Tuần báo TIME 6/6/2016)

Khi lãnh tụ của Taliban, Mullah Akhtar Mansour, vượt biên giới từ Iran qua Pakistan ngày  21 tháng 5 trong một chiếc xe du lịch Toyota màu trắng móp méo, cũng là lúc Tổng Thống Barack Obama ở Washington đang bận chuẩn bị cho chuyến đi kéo dài trong một tuần lễ đến Việt Nam và Nhật Bản. Nhưng Tổng Thống đã lên kế hoạch từ trước. Mấy ngày trước đấy ông đã chấp thuận việc tiêu diệt Mansour, và khi Ngũ Giác Đài thông báo cho ông biết sắp tiến hành công việc đó, ông khỏi cần phải bận tâm: một máy bay không người lái đã tấn công thiêu hủy chiếc Toyota, giết chết Mansour và tùy tùng. Mấy giờ sau Obama đáp chiếc Air Force One lên đường đi Hà Nội.

Đối với Obama, đã có sự tiến bộ trong việc loại trừ một cách dễ dàng một lãnh tụ của kẻ thù lâu đời. Trong suốt thời gian tại chức, Obama đã nỗ lực chuyển đổi sự quan tâm của Hoa Kỳ từ mối đe dọa của tổ chức Thánh Chiến Hồi Giáo (Jihadist) khủng bố qua việc đối phó với thách thức của một nước Trung Hoa đang trổi dậy, chuyển từ Trung Đông sang Viễn Đông. Nhưng Obama vẫn bị lôi kéo ra khỏi Châu Á, cho nên lẽ ra phải cấp thiết củng cố lực lượng của Hoa Kỳ tại đấy thì lại phải tiến hành ở nơi khác. Những chuyến đi nhằm thúc đẩy quan hệ đồng minh tại các nước Châu Á đành hủy bỏ. Thời gian và công sức đều phải dồn vào việc giải quyết những khủng hoảng kéo dài từ Afghanistan đến Bắc Phi.

Chỉ còn tám tháng tại chức, Obama đành phải miễn cưỡng chấp nhận một giải pháp khác. Nơi mà trước đó ông hy vọng chấm dứt chiến tranh như tại Iraq và Afghanistan, ông đã phải ngưng việc rút quân, và trang bị lại hàng ngàn quân Hoa Kỳ trú đóng ở đấy để chống lại Taliban và Nhà Nước Hồi Giáo (ISIS). Đồng thời, ông kết thúc những năm thi hành chính sách đứng đằng sau những cuộc đối đầu bằng cách đẩy mạnh nước Mỹ thành một cường quốc Thái Bình Dương hầu tạo thế cân bằng với Trung Quốc đang trồi dậy về cả quân sự lẫn kinh tế. Và ông nỗ lực lưu lại cho người kế nhiệm của ông di sản đó.

Không có chỉ dấu gì chứng tỏ rằng Obama muốn chiến đấu chống lại nhóm Thánh Chiến Hồi Giáo lâu dài hơn cuộc chiến đang diễn ra tại Afghanistan. Mười lăm năm sau khi cuộc chiến bùng nổ, và hai năm sau khi ông cam kết sẽ rút tất cả quân sĩ Hoa Kỳ trước khi ông rời Tòa Bạch Ốc, lực lượng Mỹ tại đấy là 9800 người. Trên danh nghĩa, họ giữ vai trò huấn luyện, nhưng thực chất hơn 4000 quân thuộc lực lượng đặc biệt được điều động đánh quân Taliban. Việc giết chết Mansour (giáo sĩ Mawlawi Haibatulla Akhundzada đã thay thế) càng chứng tỏ quyết tâm của ông. Husain Haqqani, cựu đại sứ Pakistan tại Hoa Kỳ, nói: “Taliban cứ tưởng được để yên, ta cũng tưởng quân Mỹ sẽ rút đi, nhưng điều đó sẽ không xẩy ra.”

Afghanistan có thể là một tiền đồn lâu dài nhất của Mỹ chống lại Thánh Chiến Hồi Giáo, nhưng đó sẽ không phải là mặt trận cuối cùng. Ngay khi ông đáp máy bay đi Hà Nội, Obama gọi Tổng Thống Iraq bàn tính việc lấy lại thành phố Fallujah bị quân ISIS chếm đóng – hai ngày sau trận đánh đã diễn ra. Hiện tại Mỹ có khoảng 5000 quân ở Iraq phụ trách huấn luyện quân chính phủ từ con số 275 quân mà Obama đã điều đến trở lại xứ sở này năm 2014. Đại sứ James Dobbins, cựu đặc sứ của Obama tại Afghanistan và Pakistan tuyên bố Hoa Kỳ đã nhận định rằng Iraq và Afghanistan là “một phần của thử thách lớn lao hơn mà chúng ta sẽ cần phải tham gia vào.”

Mặc cho mọi biến cố nói trên, ta hãy nhìn vào tấm ảnh của Tổng Thống, cổ thì không đeo cà vạt, tay áo xắn lên, ngồi trên cái ghế đẩu bằng nhựa ăn bún chả và uống bia với người đầu bếp nổi danh Anthony Bourdain trong một quán ăn ở Hà Nội, thì chuyện chống khủng bố dường như không phải lúc để Obama quan tâm tới. Trong một hội nghị vào Tháng Hai tại California với những nhà lãnh đạo Đông Nam Á, Obama tuyên bố: “Trong thời gian đầu tiên của nhiệm kỳ của tôi, tôi quyết định rằng Hoa Kỳ, với vị thế một quốc gia thuộc Thái Bình Dương, sẽ tái cân bằng chánh sách đối ngoại và đóng vai trò lâu dài và quan trong hơn tại Châu Á Thái Bình Dương.” Chuyến đi Việt Nam đúng là động thái mới đây nhất trong nỗ lực đó.

Obama không phải là vị Tổng Thống đầu tiên có quyết tâm hướng về Viễn Đông. Chiến lược Hoa Kỳ từ năm 1979 đã nhằm bao gồm Trung Quốc vào trong hệ thống toàn cầu về thương mại. Những quy tắc liên quan đến lãnh thổ được quy định bởi Hoa Kỳ và Đồng Minh sau Thế Chiến II. Nhưng khi Trung Quốc trở thành cường quốc lớn thứ hai về kinh tế và tiến hành bành trướng lãnh thổ, Obama lập tức xây dựng đối trọng về quân sự và kinh tế trong vùng liên hệ thông qua việc liên minh với những nước khác nhỏ hơn.

Việt Nam là một đối tác đang lên trong nỗ lực đó. Trong ngày thứ nhất tại Hà Nội, Obama tuyên bố dỡ bỏ cấm vận vũ khí đã thi hành từ khi cuộc chiến khởi sự vào năm 1960. Hà Nội, với tư cách sẽ là thành viên, thoả thuận tuân theo những điều kiện do Hoa Kỳ đặt ra cho hiệp ước đối tác thương mại gồm 12 nước xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Obama hy vọng Quốc Hội phê chuẩn trong một khóa họp được tổ chức sau cuộc bầu cử vào Tháng 11.  Và có tin rằng Việt Nam cho Hoa Kỳ sử dụng những căn cứ quân sự nhằm đối phó với sự bành trướng thế lực của Trung Quốc trên Biển Đông.

Obama với những tăng cường quân sự và triển vọng được Quốc Hội thông qua Hiệp Ước TPP có thể góp phần vào di sản mà ông muốn lưu lại về sau, đó là chánh sách đối ngoại của ông. Nhưng sự kiện ông tham chiến dù là một cách cầm chừng tại Iraq và Afghanistan cũng tỏ ra rằng những cuộc chiến đó sẽ ám ảnh những người kế vị ông cũng như đối với ông – rốt cục, Obama hiện tại là vị “Tổng Thống thời chiến” lâu dài nhất cùa xứ sở. Mặc dù những luận điệu cho rằng Hoa Kỳ đang suy thoái, sức mạnh quân sự và kinh tế của Mỹ khiến nước Mỹ trở thành một đồng minh được các nước khác tìm đến và cũng là một kẻ địch đáng sợ ở mọi nơi trên thế giới này. Bất kỳ người nào kế nhiệm Obama vào Tháng Giêng sắp tới, và bất kỳ chính sách đối ngoại của người đó là thế nào đi nữa, người đó cũng sẽ đương đầu với một thế giới đầy nghiệt ngã, phức tạp, và không thể né tránh được mà Obama đã dày công hình thành trong suốt tám năm trời.    

Ngự Thuyết dịch

6/2016  

  

.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.