Hôm nay,  

Ước mơ cuối đời của cha tôi

13/03/201600:02:00(Xem: 10242)
Ước  mơ  cuối  đời  của  cha  tôi
.
Bút ký của Đoàn Thanh Liêm

.

Cha tôi là người con trưởng của một ông cụ đồ nho. Ông sinh vào khỏang năm 1897 tại một làng quê trong tỉnh Nam Định thuộc vùng đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc Việt nam. Cũng như đa số bà con trong làng thời ấy, cha mẹ tôi đều theo đuổi nghề làm ruộng - như tôi vẫn còn nhớ trong giấy khai sinh của mình thời trước năm 1945 thì được ghi bằng tiếng Pháp – mà trong mục nghề nghiệp của người cha, thì được viết là “cultivateur”.

Tên thật của cha tôi là Đoàn Đức Hải, nhưng bà con thường gọi là ông Chánh Hải. Chữ Chánh ở đây là một “chức vị hàm” như Chánh Hương, Chánh Hội – chứ không phải là chức vị thực sự hẳn hòi trong hệ thống chính quyền ở thôn quê miền Bắc dưới thời Pháp thuộc như chức vụ Chánh Tổng là một viên chức có uy quyền cai quản cả một khu vực gồm đến 5 -7 xã trong một huyện (ở trong Nam, thì gọi là ông Cai Tổng). Như vậy là cha tôi đã không hề là một viên chức của chính quyền vào thời kỳ trước năm 1945; ông chỉ là một nông dân bình thường mà thôi.

blank

Mẹ tôi cho biết là: “Bố con là người có sức khỏe tốt, tinh thần lành mạnh, lại có nhiều sáng kiến, siêng năng làm việc và có tính quyết đáp – một khi đã khởi sự làm việc gì, thì quyết tâm theo đuổi công việc đó cho đến cùng. Vì thế mà bố con gặt hái được nhiều thành công trên đời. Đó là một đức tính tốt, đàn ông con trai như con thì sau này phải tập noi theo cái gương đó...”

Kể từ giữa năm 1945 trở đi, cuộc sống của bà con trong làng Cát Xuyên chúng tôi đã hồi phục lại sau nạn đói khốn khổ hồi đầu năm Ất Dậu khiến làm thiệt mạng đến cả trăm người dân. Và trong các gia đình, ai nấy đã bắt đầu tìm lại được bàu không khí an vui phấn khởi như xưa. Tòan thể dân làng đều biểu lộ sự vui mừng nô nức trước hoàn cảnh mới của nền độc lập tự chủ trên đất nước, sau khi nước nhà vừa mới thóat khỏi được tình trạng đô hộ kềm kẹp của thực dân Pháp. Đặc biệt là lớp thiếu niên nhi đồng cỡ tuổi 11- 12 như tôi, thì suốt ngày say mê hát hò theo những bài ca mới lạ, kêu gọi lòng yêu nước, yêu dân tộc.

Trong khí thế sôi nổi hăng say như thế đó, cha tôi thường hay tâm sự với bà con trong làng như thế này: “Bây giờ nước ta có độc lập tự do rồi, riêng tôi thì chỉ còn có mỗi một điều mong ước - đó là có thể leo lên máy bay mà đi thăm bà con bạn bè ở khắp nơi trên đất nước Việt nam mình. Rồi thì có nhắm mắt, xuôi tay cũng được thỏa chí vui lòng mà không còn điều gì tiếc nuối ân hận nữa cả ...”

Nhưng, bất hạnh thay cái ước mơ nhỏ bé đơn sơ ấy của cha tôi lúc ở vào cái tuổi 50 đã không làm sao thực hiện được – bởi lẽ đơn giản là chẳng bao lâu sau đó vào đầu năm 1948 ông đã bị người Việt minh cộng sản bắt đi biệt tăm và chẳng bao giờ gia đình chúng tôi lại còn có dịp gặp lại ông nữa. Trong bài viết ngắn này, tôi xin lần lượt ghi lại những kỷ niệm vui buồn thật đáng nhớ của những ngày tháng cuối cùng mà cha con chúng tôi còn sinh sống chung với nhau trong mái ấm gia đình. Xin trình bày sự việc như đã xảy ra cách nay đã đến 70 năm với các chi tiết sau đây.

I - Hồi đó, vào thời kỳ những năm 1945 - 46 tôi đang ở lứa tuổi 11 – 12, thì hay được cha tôi cho đi theo ông trong các cuộc viếng thăm bà con, bạn hữu thân thiết của ông trong các làng xã lân cận. Nhờ được gần gũi sát cánh với cha như vậy, nên trí óc tôi lần hồi được tiếp nhận thêm sự hiểu biết về con người, về các sự việc trên đời. Và tâm hồn tôi cũng được nâng cao thêm lên theo với lý tưởng đạo hạnh truyền thống của dòng họ nhà mình. Và tôi thực sự có lòng quí mến và cảm phục đối với người cha nhân hậu và quả cảm gương mẫu như thế đó.

Ông ôn tồn kiên nhẫn giảng giải cho tôi nhiều điều thật có ích lợi cụ thể thiết thực cho tôi sau này khi đã đến tuổi trưởng thành. Đại khái như các bài học qua mấy câu ngắn gọn như thế này: * Con nhà gia giáo, thì phải biết “Kính Trên, Nhường Dưới” - tức là luôn tỏ ra khiêm tốn, lịch sự nhã nhặn đối với mọi người, bất kể người đó là ai. * Người trượng phu quân tử thì luôn “lấy chữ Tín làm trọng” - tức là phải giữ đúng lời mình đã hứa với người khác.Và người quân tử đích thực thì phải có đày đủ ba phẩm chất như các cụ xưa gọi là “Nhân, Trí, Dũng” * Khi muốn hỏi tên của người nào mà lớn tuổi hơn mình, thì con nên nói “Xin cho biết quí danh” nghe có vẻ lịch sự hơn – chứ không nên nói “Xin cho biết tên”. * Dòng họ Đoàn nhà ta tuy không phải là một “danh gia vọng tộc” với tước vị cao sang quyền quý gì. Ấy thế nhưng cha ông chúng ta cũng chưa hề bị vướng mắc bởi những việc làm xấu xa tệ hại, hoặc do việc gây ra ân óan thù hằn gì đối với bất kỳ một ai trong xóm làng. Vì thế mà các con phải nhắc nhở lẫn nhau để cùng ra sức cố gắng “giữ gìn mãi được cái tiếng thơm đó” của gia tộc nhà mình v.v…

Do cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ vào cuối năm 1946, trường học đóng cửa nên tôi phải ở nhà suốt trong năm 1947. Tôi được cha giao cho việc chăn giữ con trâu, dẫn nó đi ăn cỏ ngoài đồng, cho nó đi tắm ngoài sông rạch vào ban trưa và buổi chiều còn đi cắt cỏ để cho nó ăn thêm vào ban đêm nữa. Tôi thật thích thú với công việc này, vì thấy mình được góp phần có ích lợi cho việc canh tác của gia đình và cũng được tự do cùng các bạn ngang lứa tuổi đi tung tăng khắp các nẻo đường trong thôn làng nữa. Cha tôi còn dẫn tôi đến tiệm thuốc bắc của ông lang trong khu chợ làng để nhờ ông dậy kèm thêm cho về môn chữ nho. Nhưng sau đó tôi bị bệnh sốt rét ngã nước rất nặng, nên chuyện học hành này cũng bị ngưng lại.

II – Cuộc sống của gia đình tôi tại làng quê đang êm ả thuận chiều ấm cúng như vậy, thì bỗng dưng xáo động vì những tai vạ khủng khiếp do người cộng sản gây ra đối với những người thân thiết trong gia tộc.Cụ thể là mấy chuyện như sau:

21 – Việc sát hại cậu út Tống Văn Dung vào mùa hè năm 1947.

Cậu Dung là người em út của mẹ tôi. Cậu đẹp trai, trắng trẻo lanh lợi và đã đậu văn bằng trung học (diplôme) vào khoảng năm 1939. Cậu là người thày giáo dạy khai tâm cho tôi tại trường sơ học trong làng Cát Xuyên vào năm 1941 – 42 lúc tôi mới lên 7 – 8 tuổi. Vào năm 1946, hai người em của mẹ tôi là cậu Tú và cậu Dung đều chuyển sang sinh sống với gia đình bên vợ các cậu ấy tại Ninh Bình, Phát Diệm.Và đến đầu năm 1947, cha tôi và cậu Lý Đạc là người em khác sát kế với mẹ tôi đã thực hiện một chuyến đi thăm hai cậu ấy bên Phát Diệm. Tôi và em Bính con cậu Lý Đạc được cho đi theo trong chuyến đi này.

Thế mà chẳng bao lâu sau đó vào mùa hè năm 1947, gia đình chúng tôi được tin cậu Dung đã bị Việt minh bắt giết và ném xác xuống sông Trì Chính gần thị xã Phát Diệm. Được tin khủng khiếp này, mẹ tôi đã vật vã sầu khổ khóc lóc, bỏ ăn bỏ ngủ suốt mấy ngày liền - khiến cho anh chị em chúng tôi đều xúc động không cầm được nước mắt. Trong nhà, ai nấy đều đem lòng oán hận những người đã tàn ác ra tay sát hại người cậu yêu quí của chúng tôi như vậy. Khi cậu mất, thì mới ở vào tuổi ngoài 30, để lại mợ Dung và hai em Dũng và Trinh còn rất nhỏ tuổi.

Rồi chỉ vài tháng sau vào cuối năm 1947, thì cậu Lý Đạc cũng lại qua đời vì bệnh, lúc đó cậu cũng mới được chừng 45 tuổi. Anh chị em chúng tôi thương mẹ vô cùng, vì chỉ trong vòng chưa đày 6 tháng mà bà đã mất đi hai người em ruột của mình.

22 – Đến lượt cha tôi bị công an đến tận nhà bắt đi vào đầu năm 1948.

Vào khoảng tháng 3 năm 1948, mấy người công an Việt minh lại đến nhà “mời cha tôi cùng đi với họ” nữa. Lại thêm một tai họa cho cả gia đình chúng tôi vì sau cái chết liền nhau của hai người cậu chỉ vừa cách đây có mấy tháng, mà bây giờ thì cha tôi lại bị bắt dẫn đi khỏi nhà nữa. Mẹ con chúng tôi ai nấy đều sầu khổ buồn rầu và càng thêm oán hận đối với người cộng sản đã gây ra cái chuyện đau thương ác nhân ác đức tột cùng như thế đối với cả gia đình.

Họ dẫn cha tôi đi biệt tăm, mẹ tôi chẳng có cách nào mà cử người đi thăm nuôi tiếp tế cho ông được.Chỉ nghe có người nói là họ đã dẫn giải cha tôi đến trại Đầm Đùn gọi là trại giam Lý Bá Sơ thật xa xôi nơi vùng rừng núi hẻo lánh mãi tận tỉnh Thanh Hóa thuộc Liên Khu IV.

Do khí hậu khắc nghiệt, lại thiếu thốn dinh dưỡng thuốc men, nên nhiều tù nhân đã phải kiệt sức mà bỏ xác nơi đây. Và chắc chắn là cha tôi cũng đã là một trong những người tù bất hạnh đó. Trong gia tộc chúng tôi lại còn có chú Lý Ty là người em đôi con dì với cha tôi. Chú Lý Ty là em của chú Tổng Biểng, cả hai chú là con ông bà Bá Đàm ở xã Liên Thủy. Bà Bá Đàm là em ruột của bà Đồ Nhuận bà nội của tôi, nên tôi đã có nhiều lần đi theo mấy anh chị lớn đến biếu Tết tại nhà ông bà. Chú Ty cũng bị bắt vào năm 1948 lúc chú mới có hai con trai còn rất nhỏ tuổi tên là em Minh và em Trí và chú bị dẫn đi biệt tăm tích - mà gia đình không hề được hay biết gì về ngày giờ chú lìa đời và thân xác được chôn cất nơi đâu. Cũng y hệt như trường hợp của cha tôi vậy.

Vì không biết rõ ngày mất của cha tôi, nên từ lâu nay anh chị em chúng tôi thường tổ chức Lễ Giỗ Tưởng Niệm chung cho cả cha và mẹ vào ngày mẹ tôi mất vào cuối tháng 11 năm 1952. Từ ngày qua định cư ở Mỹ, thì hằng năm chúng tôi đều tổ chức Lễ Giỗ vào đúng ngày Thanksgiving cuối tháng 11. Và năm 2015 này là kỷ niệm năm thứ 63 ngày mẹ tôi mất – giữa lúc bà phải chạy loạn mà đến tá túc tại nhà bà cô là bà Phó Tích ở làng Ngọc Cục huyện Xuân Trường kề sát với làng Hành Thiện.

III – Bây giờ thì lớp con lớp cháu của cha tôi lại có thể đi khắp năm châu bốn biển rồi.

Như đã ghi ở trên, vào hồi năm 1945 – 46 lúc ở vào độ tuổi 50, cha tôi chỉ có một niềm mong ước là được đi bằng máy bay để thăm viếng bà con bạn bè trên khắp nước Việt nam của mình. Ấy thế mà do bị cộng sản bắt giữ, cha tôi đã không thể nào thực hiện được cái điều ước muốn bé nhỏ khiêm tốn đó.

Nhưng đến thế hệ chúng tôi là con, là cháu của cụ, thì kể từ năm 1954 tất cả chúng tôi đều di cư vào sinh sống ở miền Nam và nhiều người lại còn đi khắp các tỉnh ở miền Trung và miền Lục Tỉnh Hậu Giang nữa. Và sau năm 1975, thì hầu hết gia đình chúng tôi đã qua định cư ở bên nước Mỹ nữa.

Và riêng tôi, thì từ năm 1960 tôi còn được đi du học tu nghiệp tại Mỹ và sau này vào đầu thập niên 1970 tôi còn được mời đi tham dự rất nhiều hội nghị quốc tế ở Âu châu và Á châu nữa. Và kể từ khi qua định cư ở Mỹ năm 1996 đến nay, thì tôi đã đi đến mấy chục vòng xung quanh lục địa nước Mỹ và Canada. Tôi cũng đi thăm bà con, bạn bè ở nhiều thành phố tại Úc châu và ở nhiều quốc gia khác tại Âu châu nữa.

Mà rồi đến lượt thế hệ thứ ba là các cháu nội ngoại của cha tôi, thì các cháu lại còn có nhiều dịp đi và làm việc ở khắp năm châu bốn biển nữa rồi.

Và đặc biệt là đến lượt các cháu thuộc thế hệ thứ tư, thứ năm lại được sinh ra và trưởng thành trên đất Mỹ, thì các cháu lại càng hội nhập sâu sắc vào trong xã hội sở tại – do tiếp nhận được những kiến thức vững vàng về khoa học kỹ thuật cũng như thông thạo về ngôn ngữ, nên các cháu đều có công ăn việc làm với thu nhập cao, đời sống nhiều tiện nghi sung túc. Rõ ràng đó là một điều thật may mắn cho lớp hậu duệ trong gia tộc chúng tôi vậy.

IV – Để tóm kết lại.

Bài này được viết vào trung tuần tháng 11 năm 2015, trong lúc anh chị em chúng tôi đang chuẩn bị Lễ Giỗ Cha Mẹ hàng năm vào đúng ngày Lễ Thanksgiving là ngày Thứ Năm 26 tháng 11 sắp tới. Tôi muốn ghi lại một ít kỷ niệm vui buồn thật đáng nhớ trong gia đình chúng tôi ở ngoài Bắc trước năm 1954. Và rồi cũng nói qua về sinh hoạt thật phấn khởi sinh động của lớp hậu duệ thuộc thế hệ thứ ba, thứ tư tức là các cháu, các chắt của cha mẹ chúng tôi hiện nay trên đất Mỹ.

Đó cũng là để cùng nhau ôn lại những khó khăn vất vả mà thế hệ cha mẹ chúng tôi đã trải qua – trong khi các ngài vẫn cố gắng vun đắp cho lớp anh chị em chúng tôi trở thành những con người lương thiện, có nhân có nghĩa - biết ra sức cố gắng làm điều lành điều thiện, tránh điều gian ác lươn lẹo khuất tắt.

Và nhân dịp này, tôi cũng kêu gọi tất cả anh chị em, các cháu, các chắt trong gia tộc hãy hợp cùng nhau bày tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ, ông bà tổ tiên trong dòng họ nhà mình – đồng thời cũng nhắc nhở động viên lẫn nhau để cùng tiếp tục con đường đạo hạnh nhân ái mà các bậc tiền nhân đã khai mở ra trước đây lúc các ngài còn hiện diện sinh sống trên cõi đời này vậy./

.

Costa Mesa California, ngày 15 tháng 11 năm 2015

Đoàn Thanh Liêm

                

 


.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.