Hôm nay,  

Nhà Tù Phan Đăng Lưu

02/04/201500:00:00(Xem: 13784)

Nói đến ngày Quốc-Hận 30-4-1975 phải nói đến nhà tù Phan Đăng Lưu. Đây là nhà tù tuy không lớn nhưng nổi tiếng là khắt nghiệt nhất được Việt Cộng thành lập sau khi cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam. Nhà tù nầy nằm đối diện với chợ Bà Chiểu và sát với tòa tỉnh trưởng Gia Định, Sài Gòn xưa. Địa chỉ nhà tù nay là số 4 đường Phan Đăng Lưu, Sài Gòn.

Sau năm 1975, Việt Cộng dùng nhà tù nầy để nhốt các lãnh tụ tôn giáo miền Nam, các nhà tư bản, các chủ xí nghiệp, các phong trào phục quốc, cứu quốc, những văn nghệ sĩ miền Nam và kể cả các tổ chức vượt biên trốn ra nước ngoài. Tất cả những cá nhân, những tổ chức trên đều được chúng ghép vào tội phản động, tàn dư của Mỹ Ngụy và âm mưu lật đổ chính quyền cộng sản Việt Nam.

Trại có 2 khu là khu biệt giam và khu tập thể.Khu biệt giam với nhiều phòng nhỏ nằm sát nhau, mỗi phòng biệt giam rộng 1m và dài 2m.Mỗi phòng biệt giam có 2 sàn xi măng, sàn trên cao hơn sàn dưới độ 3 tấc. Sàn trên có một cái còng.Như vậy phòng biệt giam có thể nhốt 2 người tù mà bị còng thì chỉ có người nằm trên thôi. Trong phòng biệt giam có một cầu tiêu và một vòi nước khi mở khi không, trước phòng là một cửa sắt, trên cửa có một lỗ thông gió khoảng một tấc vuông dùng để đưa đồ ăn cho tù. Cải lỗ gió nầy được đóng hay mở cũng tùy thuộc cán bộ trực trại.

Lỗ gió nầy khi được mở và khi hành lang không có ai qua lại là niềm hạnh phúc của người tù. Nhờ lỗ gió mà người tù ở các phòng liền nhau có thể liên lạc với nhau dù không thấy mặt nhau. Họ có thể gọi nhau ra nói chuyện, cho nhau miếng bánh, cái kẹo, nhất là điếu thuốc rê đốt sẳn. Qua lỗ gió thấy an toàn, họ gọi nhau bằng cách gõ vào vách tường báo hiệu, xong thò tay qua lỗ gió, hai bàn tay sẽ gặp nhau…

Tôi bị bắt vào Phan Đăng Lưu năm 1983 về tội “ tổ chức vượt biên”.Tôi bị đưa vào phòng biệt giam. Tôi là tài công nhưng Việt Cộng tưởng tôi là tổ chức nên chúng đưa vào biệt giam và còng hai chân chân để tra khảo tôi phải khai tổ chức là ai và tiền, vàng, bạc để đâu. Lúc đầu ở biệt giam một mình, một tháng sau thì có thêm một người nữa. Người nầy là một cán bộ ngoài Bắc, không biết bị tội gì mà đưa vào ở chung với tôi.Một tháng sau, người cán bộ nầy ra thì một người tù khác vào, anh tên Cường có dính dáng đến “ Vụ Án Nhà Lam”. Cường người Huế, trước 1975 là một thợ chụp hình, khi T 54 của Việt Cộng tiến từ xa lộ Biên Hòa vào thành phố Sài Gòn, Cường đã ra đón và được cho lên xe tăng để chỉ đường cho đoàn xe vào Dinh Độc Lập. Chính anh đã chụp những bức ảnh T 54 ủi sập cổng chính của dinh và nhiều bức ảnh khác của những ngày Ba Mươi Tháng Tư. Cường không phải là ca sỉ nhưng có giọng hát hay mà lại bạo phổi, tối nào anh cũng đưa miệng qua lỗ gió hát lớn cho các tù biệt giam nghe. Cường cũng biết ngâm thơ nhất là bài “Hồ Trường”thì những ai ở biệt giam Phan Đăng Lưu vào những ngày ấy đều không quên giọng ngâm của anh vì tối nào nếu có dịp là anh ngâm, nhất là lúc trời mưa gió bên ngoài. Không may, một hôm anh đang ngâm “Hồ Trường” thì bị cán bộ trực trại phát hiện và anh bị kỷ luật và đưa đi nơi khác. Sau đó một người tù khác lại vào ở chung với tôi.Người thứ ba nầy là một cựu sĩ quan VNCH, ở chung với nhau một thời gian ngắn, chúng tôi hiểu nhau và chia sẽ mọi thứ cho nhau dù phòng kín chỉ vừa nửa chiếc chiếu, mồ hôi nhể nhải suốt ngày lại thêm muỗi mòng, gián chuột và mùi hôi thối từ lỗ cầu tiêu mục nát bốc lên.Có lúc đang ngủ giật mình thấy gián bò trên bụng hay chuột gậm gót chân.

Bảy tháng sau tôi được đưa qua phòng giam tập thể, phòng nầy dài khoảng 10 mét rộng 5 mét, chứa khoảng gần 80 người tù đủ mọi lứa tuổi và đủ mọi thành phần tù tội.Thấy tôi mới đến, tên trưởng phòng giam là một đại úy công an Việt Cộng bị bắt vì tội “Tổ chức vượt biên” chỉ định tôi nằm gần sát cầu tiêu bên cạnh là một người tù lớn tuổi. Tên nầy đúng là một cai tù. Nó cùng đám tay chân nằm gần cửa ra vào để dể dàng tiếp cận cán bộ trại và hít thở không khí bên ngoài, còn lại tất cả nằm sắp lớp như cá mòi trong hộp. Tất cả đều răm rắp theo lệnh cai tù, cai tù lại theo lệnh của cán bộ trại. Phần đông trước khi vào khu tập thể, người tù nào cũng phải trãi qua biệt giam nên ai cũng gầy yếu, xanh xao, và còn bị cai tù bắt nạt, dọa dẫm đủ điều. Nằm cạnh nhau cả ngày mà tôi chưa dám nói chuyện với bác bên cạnh vì sợ cai tù nghe vu cáo chuyện tù cũ tù mới nhỏ to nói xấu bác, đảng và cách mạng. Đợi lúc cai tù ra ngoài làm việc, bác nằm cạnh tôi nói nhỏ:

- Kệ nó.Tránh voi chẳng xấu mặt nào.

Tôi tự giới thiệu tên rồi hỏi bác:

- Bác tên gì?

- Tôi tên Nguyễn Hoạt

Tôi hỏi lại:

- Có phải Nguyễn Hoạt là Hiếu Chân tiên sinh ?

Bác gật đầu. Tôi hỏi tiếp:

- Bác bị bắt vì tội gì?

- Biệt kích văn hóa.

- Trước bác làm gi?

- Giám đốc Văn Bút Việt Nam

Tôi nói đã đọc nhiều bài viết của bác trên các báo và rất ngưỡng mộ bác.

Từ đó, chúng tôi quen thân nhau, nằm sát nhau rồi ăn chung với nhau. Cũng nhờ đó tôi đã học hỏi từ bác nhiều thứ và xem bác như người thầy. Bác lớn hơn tôi 10 tuổi, sáng nào bác cũng ngồi thiền, chiều lại bác tập “trồng chuối ngược”, tức tập chúc đầu xuống đất, hai chân đưa thẳng đứng lên trời. Bác nói đây là cách tập luyện“Tinh, Khí, Thần”, hằng ngày mình ngồi, đứng nhiều, làm đảo ngược lại sẽ giúp máu xuống tim và lên đầu mạnh hơn.

Tôi lại hỏi bác:

- Bác nghĩ thế nào về văn học miền Nam trước năm 1975.

Bác trả lời:

- Nhiều bước tiến rõ rệt. Bác dẫn chứng, miền Nam Việt Nam trước năm 1954 chưa có gì. Thế mà sau 20 năm, miền Nam có tất cả, dù chưa lớn lắm, nhưng đã hơn nhiều nước ở Đông Nam Á. Bác nói tiếp, bây giờ lại trở về con số không.

Tôi lại hỏi:

- Trong thời kỳ cầm bút, bác thích thú điều gì nhất?

- Tôi thích nhất là lúc gặp nhà văn Kim Dung khi ông trên đường bay từ Singapore về Hồng Kông, ông có ghé qua Tân Sơn Nhất vài tiếng.Vài tiếng nhưng tôi đã nói chuyện nhiều với ông ấy.

Kim Dung là nhà văn nổi tiếng của Hồng Kông, tác giả của những tập truyện kiếm hiệp làm say mê hằng triệu độc giã khắp thế giới. Bác thích nhất câu nói của Kim Dung: “ Chỉ có tự do mới sáng tác hay được”.

Cuối năm 1984 tôi được chuyển lên nhà tù Chí Hòa. Một năm sau tôi lại chuyển lên trại tù Tống Lê Chân thuộc tỉnh Bình Long để phá rừng trồng cây tiêu, cây điều, ba năm sau, cuối năm 1987 mới được thả về. Sau đó tôi được biết bác Nguyễn Hoạt cũng bị đưa lên Chí Hòa và chết tại trại tù nầy, không biết lý do gì.

Nghĩ đến trại tù Phan Đăng Lưu. Gần 40 năm, tôi vẫn còn nhớ đến những bạn tù trong biệt giam cũng như những bạn tù trong phòng giam tập thể.Trong đó có người bạn tù không tên ở bên cạnh phòng biệt giam thường cho tôi điếu thuốc rê đốt sẳn.Tuy nghe giọng nói hằng ngày của nhau nhưng chưa bao giờ thấy mặt nhau, đã làm tim tôi khắc sâu ân tình nầy, tiếp đến là anh Cường, trẻ tuổi, vui tính và nhiệt tình, sau cùng là bác Hoạt tức Hiếu Chân tiên sinh, người đã nằm cạnh và ăn chung suốt nhiều tháng, một nhà văn tha thiết tự do với nhiều mơ ước chưa thành sự thật đã phải từ giã người thân, bạn bè và cây bút của mình trong nhà tù Công sản.

Lúc qua Mỹ, tôi có xuất bản một tập thơ lấy tên “Mẹ và Quê Hương” trong đó có bài thơ ghi lại vài dấu tích với những bạn trong ngục tù Phan Dăng Lưu, một trại tù đã gây biết bao nỗi kinh hoàng cho mọi người vào thời đó. Sau đây là bài thơ “Ngục tù Phan Đăng Lưu”:

Đêm dài không ngủ được
Thời gian đếm bước chân
Nằm chờ nghe tiếng gõ
Đợi nhau qua lỗ gió
Trao nhau điếu thuốc rê
Cho nhau lời thăm hỏi
Những chẳng thấy mặt nhau
Bạn cho ta tiếng hát
Vang lên như tình gọi
Lời ca trong đêm vắng
Thắm tình tù thiết tha
Phòng rộng nửa chiếc chiếu
Thiếu không khí, thiếu mặt trời
Đôi lúc bạn bị còng
Điếu thuốc chẳng chuyền tay
Bài ca đành tắt lịm
Khi cả hai bị còng
Cuộc tình thêm thê thảm
Nằm đợi tiếng gõ vách
Vui quên đời ngục tù
Cám ơn bạn bên kia
Phòng biệt giam T-28
Ngày đêm ta có bạn
Bây giờ bạn ở đâu.

Cali 1-4-2015

Tam Giang Hoàng Đình Báu

Ý kiến bạn đọc
03/04/201502:16:20
Khách
Biét bao nhân tài như bác Hoạt này đã là nạn nhân của cọn cọn sản vô thần khát máu! Nhắc để đừng bao giờ quên!
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.