Hôm nay,  

Quét Lá Mùa Xưa

03/01/201500:00:00(Xem: 6297)
blank
Như chẳng còn gì để nuối tiếc một mùa thu, những chiếc lá vàng cuối cùng cũng lìa cành, rụng tả tơi trước hiên nhà. Lòng thầm nhớ câu hát của Đức Huy:

Mùa đông sắp đến trong thành phố

Buổi chiều trời lạnh.
Heo may từng cơn gió
bước chân về căn gác nhỏ…
Nhìn xuống công viên...
Ngồi xem lá úa trên đường vắng
Buổi chiều ngủ vùi…

Chiều hôm nay nghỉ làm và được ngủ vùi. Chẳng cần nhìn xuống công viên, từ cửa sổ phòng tôi nhìn ra hiên đã thấy lá úa ngập lối đi.

Lá vàng, đỏ ở đâu nhiều thế! Từ hai cây sồi và cây tro trước sân, từ hàng cây tử vi và cây phong nhà hàng xóm, lá bay sang rồi phủ thảm lên bải cỏ hiên nhà. Ngày hôm qua lưa thưa, sau một cơn gió, hàng cây như rùng mình se lạnh mà trút bỏ áo vàng để gầy hao cành mộc chào đón mùa đông. Phải quét lá thôi!

Kinh nghiệm những mùa thu trước khi không quét lá, những ngọn cỏ xanh không vươn lên nổi trên tầng lá khô dày, dấu tích của những khoảng đất nâu cỏ chết trên thảm xanh không đều. Năm nay cứ thấy lá vàng rơi là phải cào, phải quét. Càng quét lá càng rơi. Buổi chiều tỉnh lặng như chỉ có lá và tôi.

Quét lá vàng hốt nhiên bổng trở thành những phút giây suy niệm lan man. Nhớ những ngày thu còn nhỏ đi cào lá thông ở đồi Thiên An. Những tháng năm ấy “gạo châu củi quế”, cơm độn khoái sắn là thường. Và củi thì phải mua người ta đẩy xe đem về bán từ núi Bình Điền, Kim Phụng. Những bó củi nhỏ còn ẩm tươi, phải chẻ nhỏ đem phơi lề đường. Bếp lò là kiềng ba chân, có khi kê bằng ba cục gạch. Mồi lửa bằng miếng gỗ thông còn tươm nhựa cây. Và tất nhiên là khói, khói đến cay mắt, khói đến mờ mịt căn bếp nhỏ…Phụ mẹ chút tiền mua củi, tôi cùng bạn hàng xóm mướn xe bò, bới cơm trưa trong lon Guigoz. Hai đứa thay nhau làm bò, kéo lên đồi thông Thiên An cào lá thông đem về chụm. Đi từ mờ sớm, chừng hửng nắng thì đến đàn Nam Giao. Ngắm những hàng thông già, thông non dọc con đường dốc thoải thoải. Những nhánh thông non nhú lên xanh nỏn như ngọn bút lông, như ngọn nến chưa thắp, mà nhủ thầm “hàng cây thắp nến hai hàng” là đây! Tới đỉnh đồi Thiên An, thì nắng đã lên cao. Nắng làm bốc lên ngai ngái mùi hương tràm, nhựa thông. Nằm nghỉ ngửa mặt lên trời nhìn hàng thông lá nhỏ như chùm kim dài, đan vòm trên cao, gió thoảng vi vu, cả vùng đồi yên ắng. yên ắng đến nổi nghe được tiếng gió đi qua những hàng cây thông dáng đẹp trầm hùng. Và tiếng lá thông rơi khe khẻ. Lá rơi nhẹ lắm như không muốn cho cây biết, như không muốn làm động giấc ngủ miên man của sỏi đá. Lá thông rơi nhẹ như tóc bạc của mẹ (chẳng biết mẹ có hay!) Vậy mà ngày tháng trôi, lá khô đầy trên đồi vắng. Mùa sau lá xuân non sẽ mọc. (Tóc mẹ xanh có mọc lại chăng?)

Rẽ trái bên đồi có một con đường nhỏ dẫn vào một đan viện còn xây lỡ dở. Nơi góc đồi có góc nhà nguyện nhỏ. Từ băng ghế đá nhìn xuống một hành lang kín ngầm dưới đất sau bức tường bê tông. Thi thoảng có vài tiếng động nhỏ nghe như tiếng nguyện cầu. Đan viện! Cái tên gọi nghe thật buồn mà đẹp. Đan là cô đơn, lẻ loi. Cũng như từ monastery có nguồn gốc từ chữ mono. Đan viện là nơi chiêm nghiệm tự thân đầy khắc kỷ. Bên ngoài này tôi ngồi đó với chiếc cào lá thông cùng những ham muốn áo cơm, bên trong bức tường kín sâu trong lòng đồi là những đức tin đầy hiến dâng cho sự cứu rỗi. “Vì em đã mang lời khấn nhỏ. Bỏ tôi đứng bên đời kia (TCS)”…

Tôi có thằng bạn, thất tình chán đời đi tu. Chùa đẹp lắm, cảnh như vườn Nhật, phong lan và thư họa treo ngút ngàn, tiếng lành vang danh thiên hạ. Chùa càng đẹp khách vãn cảnh chùa càng đông, toàn nam thanh nữ tú, thi văn tài nhân dập dìu. Hắn chợt thấy lòng càng vọng động, mê cái đẹp đến ngất ngây, nên lại yêu đời mà hoàn tục. Có lẽ thay vì quét lá, ngày ngày hắn đi tưới nước hòn đá non bộ, mong cho đá mọc rêu. Nơi đó soi bóng dáng người con gái đi viếng chùa những chiều nhạt nắng. Đá chưa rong rêu mà lòng hắn đã mốc meo…

Những đống lá thông vun cao, chúng tôi bỏ vào bao bố và chất lên xe bò mang về thành phố. Đường về thả dốc, hai đứa phải ngả người ra sau để xe lăn chậm xuống đồi. Bàn chân bám lấy mặt đường đầy sỏi mà lòng ấm áp khi nghỉ về bếp lửa nồng thơm mùi thông của mẹ chiều nay.

“Kiếp sau xin chớ làm người. Làm cây thông đứng giửa trời mà reo.” (Nguyễn Công Trứ))

Làm sao tôi qua được kiếp này với tâm hồn nặng đầy hoài niệm? Vẫn còn trong kiếp này với nhiều năm về sau nơi tha phương, khi quét lá vàng cuối thu mênh mang. Tay vẫn quét, mắt vẫn dõi trông từng xác lá úa màu thời gian, và tâm trí cứ lan man. Trong khi lá vẫn không ngừng rơi, chừng như gió không muốn nghỉ ngơi và cây khô chưa thôi hờn dỗi cho mùa sang…Chổ vừa quét xong thì ngoảnh lại đã thấy có vài xác lá êm ả đậu xuống. Chợt nghỉ đến những chú tiểu quét lá sân chùa. Việc quét lá, gánh nước, bửa củi…như là hành thiền. Quét lá vàng cũng là một công án thiền. Thật vậy! Bởi công việc thật đơn sơ mà đòi hỏi tấm lòng thanh thản. Quét lá không phải một chiều mà xong. Quét lá là không màng luận lý viễn mơ. Quét lá là không mong sự hoàn tất bởi khi đang quét lá để gom sạnh “quả” thì “nhân” của duyên đã khởi sinh cho những lá khác tiếp tục lìa cành. Như khi đặt nhát chổi đầu tiên đã mong sự hoàn tất cho thảm cỏ đẹp, thì ắt lòng đã dấy lên sự hối hả bất an. Như khi đặt nét cọ đầu tiên lên khung vải đã thấy tiếng trầm trồ, như khi chớm vài câu thơ đầu dòng đã nghe danh vọng ngút ngàn…Hình như chữ khổ và nghiệp dĩ buồn đã thấp thoáng ở đâu đó.

Nghe đâu ngài Châu-lợi-bàn-đà-già ở Ấn Độ ngày xưa ngu đần lắm, vào cửa chùa không học nỗi một câu kinh, không nhớ nỗi một lời tụng. Phật hỏi biết làm gì, Châu-Lợi-bàn-Đà-Già nói biết quét sân. Phật cho làm việc quét lá để tu tập, trong khi quét thì quán niệm câu “quét bụi, quét bặm”. Quét lá ngày sang ngày, mùa sang mùa, rồi ngài quét đi cả tham ái trần tục trong tâm và đắc quả A-La-Hán.

Có một chu kỳ của bốn mùa mà sự khát khao vội vàng “hoài thu, chán đông” chỉ là ước mơ rất đời thường. Vừa quét lá vừa lắng nghe lòng mình không vội vã. Nghe tiếng chổi, tiếng cào rê lên mặt cỏ, nghe chút sỏi đá lao xao trở mình, nghe tiếng lá rụng nhè nhẹ và tiếng gió đi qua hàng cây giơ xương để sẳn sàng chờ đón một mùa đông lạnh căm rét mướt. Vừa quét lá vừa thấy. Thấy những sắc màu xanh đỏ vàng nâu, những lá đủ hình dạng nhỏ to, cạnh tròn hay có răng cưa, trơn láng hay sần sùi gân lá…Đời của lá có khác gì đời mình? Có thấy màu “sắc – không” vô thường trong màu vàng úa của lá một thời xanh nỏn trong nắng thủy tinh? Có thấy ngọn gió kia có là duyên đưa đẩy cho cho lá lìa cành. Hay lá ham đùa, muốn rong ruổi cùng gió một trận mê cuồng trước khi về cùng đất ấm mục rã càn khôn…

“Con vua thì lại làm vua
Con của nhà chùa thì quét lá đa.”

Có đúng vậy không? Đất nước mình có cậu bé mồ côi Lý Công Uẩn, vào chùa nuôi khi còn nhỏ, sau này giỏi giang xuất chúng được Thầy Vạn Hạnh dạy dỗ chăm lo. Lý Công Uẩn làm quan và sau cùng lên làm vua đầu tiên nhà Lý. Và vì vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia nương cửa Phật, khoát chiếc áo nâu sòng như màu đất, cầm chổi quét lá sân chùa trên đỉnh núi Yên Tử. Lòng nhẹ nhàng như nắng sớm mây chiều. Quyền lực - Vinh Quang – Danh vọng, có phù hư như chiếc lá khi mùa sang, kết thúc những tháng ngày vàng son huyên náo.

Lại yêu mến câu hát “Người phu quét lá bên đường. Quét cả nắng vàng, quét cả mùa thu.” (TCS). Vợ của bạn tôi có thời làm người phu quét lá. Trong đêm thu vắng, tiếng chổi tre của chị cứ xạc xào vang dội trên đường vắng. Vang vọng cùng những tiếng rao đêm lạc lỏng trong cô tịch, khi mọi người đang say giấc nồng trong chăn ấm. Tiếng chổi tre như cào lên mặt đường những vết xước trên thịt da của phận người nghèo khó. Chị ấy đã quét đi cả nắng khuya trên con đường phượng bay, quét luôn cả mùa thu, những mùa thu không đẹp như thi ca và tranh ảnh.

Thấm thoát mà đã gần cuối năm. Lập đông nơi này vẫn còn những chiếc lá vàng làm duyên trên những cành khô, như người con gái lỡ thì làm dáng với đời. Nhớ cuối năm của mùa xưa tôi từng hát cho em khi tàn năm cũ: “Anh đến thăm em đêm ba mươi. Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi. Anh nói với người phu quét đường, xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em. (Nguyễn Đình Toàn - Vũ Thành An).” Trong chiếc lá vàng nọ phải có lời chung thủy và chứng nhân cho những gót chân hò hẹn, dẩm lên đời nhau nhàu nát ngày nào. Ai bảo mùa thu chết khi lá vàng bay, khi lời hẹn thề vẫn hằn lên gân lá những kỷ niệm long lanh nắng chiều…Tôi vẫn miên man quét lá nơi này. Mùa thu trong tim vẫn vàng như áo em ngày nọ. Mỗi chiếc lá đều mang một dáng dấp của kỷ niệm. Trong tim hình như chỉ có một mùa tình.

Ước chi tôi có thể đốt đống lá này để sưởi ấm mùa đông. Một mùa đông trong tim chưa bao giờ thanh thản. Bởi hồn đầy lá úa của mùa vàng năm xưa. Làm sao quét hết…

SB, Dec 31, 2014

Sean Bảo

www.baosinh.com | Tùy Bút site

www.sean-bao.com | SB Graphic Design

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.