Hôm nay,  

VN: 60 Năm Nhìn Lại

08/07/201400:00:00(Xem: 7456)

...Mỹ không thể trả “mọi giá” cho mọi cuộc can thiệp quân sự trên thế giới...

Tháng Bẩy này đánh dấu 60 năm ngày chia đôi đất nước. Nó cũng đánh dấu 60 năm ngày Mỹ bắt đầu can thiệp vào VN.

Chuyện chia đôi đất nước đã và đang có rất nhiều vị quan tâm và viết bài, kẻ viết này không chuyên mục về vấn đề này nên sẽ không bàn thêm, mà chỉ xin nhìn vào câu chuyện này dưới một khiá cạnh khác: ảnh hưởng của vấn đề VN trên nước Mỹ, trên phương diện chính trị cũng như ngoài chính trị.

Trên nguyên tắc, Mỹ đã can dự vào VN từ trước Hội Nghị Genève năm 1954. Trước đó, Mỹ đã vào VN từ những năm 44-45 thời Đệ Nhị Thế Chiến. Khi đó SOS, tiền thân của CIA, đã gửi một toán đặc nhiệm do Thiếu Tá Patty cầm đầu, vào rừng thượng du Bắc Việt giúp ông Hồ Chí Minh và nhóm hai tá “lính” của Võ Nguyên Giáp, được phóng đại thành một thứ “lực lượng võ trang tuyên truyền” gì đó.

Nhưng thực tế mà nói, khi đó chính quyền Mỹ chẳng biết và cũng chẳng cần biết ông Hồ là ai, làm gì. Họ chỉ nhìn thấy một nhóm quân võ trang có thể phá rối quân Nhật, cầm chân quân Nhật phần nào tại VN, trong khi quân Mỹ đánh quân Nhật trên Thái Bình Dương. Ví dụ như Bẩy Viễn có một lực lượng tương tự trong bưng, thay vì bận rộn với sòng bài Đại Thế Giới, thì có thể Mỹ cũng đã gửi một Thiếu Tá Patty khác qua giúp Bình Xuyên rồi.

Trong khi chính quyền Mỹ chỉ nhìn chuyện này như một công cụ chiến thuật quân sự nhỏ như hạt cát (một thiếu tá với dăm ba quân nhân, vài khẩu súng lục và carbine,...), ông cáo già họ Hồ đã khai thác và biến nó thành một thứ hậu thuẫn chính trị khổng lồ của đại cường số một trên thế giới thời đó. Ông đã láu cá trích dẫn đoạn mở đầu trong Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ, khiến vài trí thức VN thời đó ngây ngô tin ngay, đến cả vài chục năm sau vẫn còn bám víu vào hình ảnh tưởng tượng của một ông Hồ như Tito, lãnh tụ CS Nam Tư không chịu hoàn toàn lệ thuộc cộng sản Xô Viết. Cũng khiến cho vài anh chính khách Mỹ, nhất là các “học giả” (không phải học thiệt) và nhà báo cấp tiến, ngây ngô không kém, tự vả vào mặt mình vì nghĩ đã để mất cơ hội kết nạp ông Hồ làm đồ đệ.

Nhìn dưới khiá cạnh này thì mới thấy Mỹ chỉ thực sự can thiệp vào VN từ những ngày của Hội Nghị Genève, khi chính quyền Eisenhower hậu thuẫn –hay xúi bẩy?- Quốc Gia VN không ký vào Hiệp Định Đình Chiến, rồi sau đó tích cực xây dựng một miền Nam theo mô thức Mỹ với một tổng thống do họ tiến cử.

Câu chuyện từ đó đến cuộc tháo chạy năm 1975 đã là đề tài của quá nhiều sách báo, ở đây ta không bàn thêm. Chỉ nhìn vào hậu quả của việc can thiệp này lên xã hội và chính trường Mỹ.

Cuộc chiến tại VN đã là cuộc chiến lâu dài nhất lịch sử Mỹ (trước khi có các cuộc chiến Iraq và Afghanistan), tốn tiền nhất, chết nhiều lính nhất, phân hoá xã hội Mỹ nhất, để rồi đưa đến kết cuộc tủi hổ nhất cho Mỹ và tai hại nhất cho VN.

Nhìn lại lịch sử cận đại Mỹ thì sẽ thấy thập niên 60 đã là cao điểm của cuộc chiến tại VN, mà cũng là một thời kỳ nhiễu nhương, nổi loạn, bạo động chết người (hai anh em TT Kennnedy, mục sư Martin Luther King, thống đốc George Wallace, mục sư Malcolm X). Một thập niên đổi đời của Mỹ.

Đó là thời của cách mạng văn hoá kiểu Mỹ. Tuy không đẫm máu như cách mạng văn hoá của Mao, nhưng dư âm lớn gấp bội vì chẳng những đã ảnh hưởng đến thời cuộc khi đó, mà đã biến dạng hoàn toàn xã hội và văn hoá cũng như suy tư và lối sống Mỹ, một cách vĩnh viễn.

Cuộc cách mạng văn hoá Mỹ đã là một cuộc “đảo chính” của giới trẻ Mỹ, bất mãn với đời, muốn đảo lộn mọi giá trị luân lý, muốn phá tan mọi trật tự xã hội. Tìm vui trong hiện tại, trong ma túy, trong nhạc đúng là “kích động”, thể hiện qua chống báng mọi quyền lực, mọi phong tục tập quán gọi là “cổ lỗ”. Đó là thời vàng son của nhạc Beatles và Rolling Stones, của marijuana, của quần áo màu mè điên loạn, đầu tóc rối bù, và nhất là của sex, sex, và sex.

Cuộc cách mạng này, mà nhiều người gọi là cách mạng tình dục, cũng đã là cuộc cách mạng “giải phóng” phụ nữ Mỹ, thật sự mang họ ra khỏi nhà bếp và phòng ngủ.

Thời đó cũng là thời của những anh nghiện ngập lêu lổng phóng túng như Bush, hay lăng nhăng bạ đâu ngủ đấy như Clinton. Bush đã thức tỉnh và cai rượu vĩnh viễn. Clinton thì đã mang theo cái tật bạ đâu ngủ đấy vào tới Tòa Bạch Ốc luôn, khiến xém mất chức qua vụ Monica.

Phải so sánh tình cảnh thời đó với nước Mỹ gia giáo, lễ nghiã, ổn định, trật tự, hiền hoà của thập niên 50 với cha già đạo mạo Eisenhower, thì mới thấy được mức đổi đời của cuộc cách mạng văn hóa của thập niên 60.

Cuộc cách mạng này là hoàn toàn tự phát, chẳng ai chỉ đạo, chẳng ai hướng dẫn, cũng chẳng ai đốc xúi. Các nhà xã hội học đã và sẽ còn tốn nhiều giấy mực nghiên cứu về hiện tượng này. Nhưng có điều không cần bàn thêm là cuộc chiến VN đã là nguyên nhân lớn nhất đưa đến cuộc nổi loạn tự phát này của giới trẻ Mỹ.

Mỗi ngày, họ đều nhìn thấy cảnh bom đạn lửa khói, quan tài và bao bố đựng xác, thương binh máu me be bét. Nói như truyền thông Mỹ nhận định, chiến tranh VN đã vào tới phòng ăn, phòng khách của dân Mỹ qua sự phát triển cực nhanh của truyền hình. Thanh niên Mỹ đâm ra sợ hãi cho số phận (nên nhớ hồi đó vẫn còn chế độ quân dịch, tất cả thanh niên đều bị bắt buộc đi lính, trừ vài trường hợp đặc miễn, cho đến khi TT Nixon đổi qua chế độ tự nguyện). Chỉ còn muốn sống vội trước khi chết. Vội đến độ phải phá bỏ mọi quy tắc, luật lệ nếu cần, “phá giới” tuyệt đối.

Cuộc nổi loạn của giới trẻ, tuyệt đại đa số là dân da trắng, cũng lan mạnh qua khối dân da màu, tạo nên một cuộc nổi loạn tương tự, nhưng mang màu sắc chính trị nặng hơn nhiều. Mà cũng đổ máu nhiều hơn. Đó là cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng của dân da đen.

Trên cả nước Mỹ, nhất là tại các tiểu bang miền đông nam, từ Louisiana men biển lên tới Virginia, và cả Hoa Thịnh Đốn, hàng triệu dân da đen đã xuống đường, biểu tình trong hòa hoãn trật tự, cũng như trong bạo động, đốt phá, đánh nhau với quân đội, cảnh sát, dùi cui và chó săn, để đòi bình quyền. Đưa đến những luật về dân quyền dưới thời TT Johnson, cho họ bình quyền thật, tuy chưa hoàn hảo.

Cuộc nổi loạn này, cũng như cuộc nổi loạn văn hoá, đã để lại những dấu ấn đúng là đổi đời chứ không nhất thời như cách mạng văn hoá của Mao đã chẳng để lại dấu ấn nào ngoại trừ hàng loạt nhà tù và nghiã địa mới.

Một bằng chứng không thể rõ ràng hơn: TT Obama. Một người da đen –tuy lai- lên lãnh đạo cả nước Mỹ. Một chuyện không thể tin được chỉ cách đây vài năm.

Không ai quên được câu nói của TT Clinton với Thượng Nghị Sĩ Ted Kennedy năm 2008, cách đây chỉ có 6 năm. Khi nói về ứng viên Obama đang chống đối với bà vợ ông, TT Clinton đã nói “chỉ cách đây vài năm, họ vẫn chỉ biết bưng cà phê cho chúng ta thôi”.

Giống như các thanh niên da trắng, thanh niên da đen cũng chứng kiến cuộc chiến VN trong phòng ăn của họ. Rồi họ cũng thấy thêm một cái gì không công bằng, không ổn. Dân da đen chỉ là 10% tổng số dân Mỹ, nhưng quân nhân da đen lại lên tới hơn 40% tại chiến trường VN, và tỷ lệ tử vong lên tới gần 30%. Điều đáng bực mình hơn nữa, tại sao họ lại phải đi lính nhiều hơn, bị thương nhiều hơn, chết nhiều hơn cho cuộc chiến này, trong khi ngay tại xứ Mỹ này, họ chỉ là công dân hạng hai, đi xe búyt ngồi cuối hàng, bị cấm vào trường học, cửa hàng, tiệm ăn, khu phố của dân da trắng? Họ bị cấm tại tất cả mọi nơi ngoại trừ trên chiến trường.

Đó là nói về ảnh hưởng chiến tranh VN trên phương diện văn hoá, xã hội.

Về quân sự, cuộc chiến đã là đề tài của hàng hà sa số nghiên cứu về chiến lược, chiến thuật. Đã khai sinh ra chủ thuyết Powell của Đại Tướng Colin Powell, chủ trương không tham chiến vớ vẩn nếu không có nhu cầu thật sự về an ninh hay quyền lợi, mà nếu tham chiến thì phải đánh xả láng, áp dụng sức mạnh tối đa để đạt mục đích chứ không có chuyện leo thang từng bước, vừa đánh vừa run, càng leo thì thang lại càng dài ra. Và quan trọng nhất là phải có kế hoạch rút ra. Đó là cách mà TT Bush đã áp dụng khi đánh Iraq, toàn thắng quân Iraq trong vài tuần. Nhưng TT Bush chỉ áp dụng chủ thuyết Powell khi nhẩy vào mà lại không có kế koạch rút lui chu đáo, khiến bị sa lầy nặng.

Cuộc chiến VN cũng đã là bài học đưa đến chủ thuyết chiến tranh chính trị được tướng Petraeus áp dụng để bình định Iraq. Tướng Petraeus khẳng định sức mạnh quân sự là phương tiện ngắn hạn để đạt thành công trên chiến trường như tướng Powell nhận định, nhưng muốn bình định lâu dài thì chính trị, lấy cảm tình người dân, tôn trọng danh dự, phong tục, cách sống, và mạng sống của họ, mới là yếu tố quyết định. Giặc trốn trong nhà dân thì phải thuyết phục dân tố giác họ, chứ đốt nhà dân chỉ là đổ dầu vào lửa. Chiến lược này đã thành công, ổn định phần nào Iraq, nhưng chỉ mới bắt đầu vài bước thì TT Obama nhậm chức, thay thế bằng chiến lược tháo chạy bằng mọi giá.

Việc Mỹ can thiệp vào VN rồi thất bại ê chề năm 1975 cũng là bài học vô giá cho giới lãnh đạo chính trị Mỹ, từ TT Carter cho đến TT Obama.

Sự can thiệp trực tiếp vào VN bằng quân sự khởi đầu dưới chính quyền Kennedy, theo đúng quan điểm “cứu nhân độ thế” cả thế giới của khối cấp tiến thích “thế thiên hành đạo”. Bài diễn văn nhậm chức của TT Kennedy đã đi vào lịch sử với những câu dao to búa lớn kiểu “... sẽ trả mọi giá, chịu mọi gánh nặng, hứng mọi khổ cực để hỗ trợ mọi nước bạn, chống mọi kẻ thù, để bảo đảm sự tồn tại và thành công của tự do”.

TT Kennedy không phải là tổng thống Dân Chủ đầu tiên muốn làm cảnh sát thế giới. Tất cả những cuộc chiến lớn trong lịch sử Mỹ đều bắt đầu trong các triều đại Dân Chủ: Thế Chiến Thứ Nhất dưới TT Woodrow Wilson, Thế Chiến Thứ Hai với TT Franklin Roosevelt, Chiến Tranh Cao Ly với TT Harry Truman. Và chiến tranh VN với TT Kennedy.

Nhưng rồi cuối cùng cái giá nước Mỹ chịu trả cũng không thể là “mọi giá”, mà có giới hạn. Đưa đến cuộc tẩu tán năm 75. Đó là bài học lớn nhất cho các vị lãnh đạo chính trị Mỹ: sức mạnh quân sự của Mỹ không phải là vô giới hạn, và Mỹ không thể trả “mọi giá” cho mọi cuộc can thiệp quân sự trên thế giới.

Bài học đó đưa đến tình trạng các chính khách Dân Chủ từ quan điểm thế thiên hành đạo đã chuyển qua thái độ rụt rè, gần như khiếp nhược, yếu đuối trong các vấn đề an ninh quốc gia.

Toàn thể nhân viên Tòa Đại Sứ Mỹ tại Tehran bị sinh viên quá khích Iran bắt nhốt làm con tin trong hơn 400 ngày trong khi TT Carter ôm đầu gãi tai không biết phải làm gì. Nam Tư phân hoá đánh giết nhau tơi bời, TT Clinton chống mắt nhìn cho đến khi áp lực Âu Châu quá mạnh thì đành can thiệp bằng cách cho máy bay tấn công và thả bom từ 9 từng mây xanh để tránh thiệt hại. Vừa bị quân khủng bố đánh một trận, chết chưa tới hai chục quân nhân tại Mogadishu là TT Clinton đã ra lệnh bỏ của chạy lấy người. Tại Rwanda, chiến tranh bộ tộc khiến cả triệu dân vô tội bị thảm sát. TT Clinton ngó lơ, để rồi cả chục năm sau, sau khi yên ổn hoà bình được tái lập, thì mới... xin lỗi dân Rwanda vì đã không giúp họ.

TT Obama thì lo cuốn dù ra khỏi Iraq và Afghanistan bất chấp hậu quả. Tại Libya, trước áp lực mạnh của đồng minh Anh – Pháp, ông đành ra lệnh máy bay tấn công theo kiểu Clinton, rồi chấp nhận “lãnh đạo từ phiá sau”. Tại Syria, ông hùng hổ vạch lằn ranh đỏ, hăm dọa TT Assad sẽ phải trả giá rất đắt, nhưng đến khi TT Assad vượt qua lằn ranh thì lủi thủi núp sau lưng TT Putin, chạy về Mỹ.

Chẳng phải các tổng thống không, mà toàn thể đảng Dân Chủ cũng đã trở thành đảng chủ hòa tối đa, với những ứng viên tổng thống nổi tiếng thích bồ câu như Robert Kennedy, Eugene McCarthy, George McGovern, Edmund Muskie,...

Trong các cuộc tranh cử họ đều là những tiếng nói chống việc Mỹ tham chiến tại VN, thậm chí cũng là những tiếng nói đả kích các chính quyền Miền Nam VN mạnh nhất, và thoá mạ quân lực VNCH tệ hại nhất. Ngoại Trưởng John Kerry đã nổi tiếng với cuộc điều trần trước quốc hội khi ông lớn tiếng bôi bác lính miền Nam chỉ giỏi ăn cắp gà và hãm hiếp phụ nữ.

Nói chung, chính sách can thiệp của Mỹ cũng trở nên thận trọng hơn. TT Bush khi còn tranh cử với PTT Al Gore, đã khẳng định Mỹ cần có chính sách đối ngoại khiêm tốn hơn và tuyệt đối tránh lo chuyện dựng nước dùm thiên hạ. Định mệnh trớ trêu đưa đến vụ 9/11 ép ông phải thay đổi toàn diện cái nhìn đó, đánh Afghanistan và Iraq, rồi tốn không biết bao nhiều tiền bạc, công sức để lo xây dựng lại hai nước này. Cuối cùng cũng vẫn thất bại. Đánh nhau thì khó ai giỏi bằng Mỹ, dựng nước thì khó ai dở bằng Mỹ. Cộng Hoà hay Dân Chủ chẳng khác gì nhau.

Chiến tranh VN cũng thay đổi cả cái nhìn của các chính khách Mỹ trong chính sách di dân. Bình thường thì đảng Dân Chủ luôn luôn chủ trương mở rộng cánh cửa nhân đạo đón nhận dân khắp thế giới đến đất tự do, nhưng đó đã không phải là cách các chính khách Dân Chủ đón nhận người tỵ nạn Việt khi chiến tranh chấm dứt.

PTT Biden là người cầm đầu cuộc vận động không cho dân Việt vào tỵ nạn tại Mỹ. Đương kim Thống Đốc Cali Jerry Brown hồi đó đã là Thống Đốc Cali, cũng là tiếng nói lớn công kích việc nhận dân tỵ nạn và đòi chính quyền Liên Bang không được vứt (dump) dân tỵ nạn Việt vào tiểu bang của ông. Thậm chí, ông đã tìm cách ngăn cản không cho các chuyến bay chở dân tỵ nạn được đáp xuống phi trường quân sự Travis Air Force Base, gần thủ đô Sacramento, bất chấp lệnh của TT Ford.

Dân Việt tỵ nạn không thể quên những chuyện này. Việc nhiều người tỵ nạn ủng hộ các ông Biden, Kerry, và Brown là quyết định cá nhân của mỗi người. Chúng ta qua đây tỵ nạn chính là để mỗi người có được cái quyền muốn nghĩ sao thì nghĩ, muốn làm gì thì làm, chỉ cần đừng giết nhau hay nhục mạ nhau khi khác ý là được.

Tính sổ cuối cùng, việc can thiệp vào VN đúng là một biến cố đổi đời cho nước Mỹ, có thể còn quan trọng hơn cả việc Mỹ can dự vào hai cuộc thế chiến. Hai cuộc chiến đó, nhờ Mỹ can thiệp, đã thay đổi bản đồ thế giới trong khi việc can dự vào cuộc chiến tại VN cuối cùng chỉ xóa được làn ranh tạm thời phân chia bắc – nam VN. Không ai chối cãi được chuyện này.

Nhưng đối với xã hội, văn hoá, chính trị Mỹ, hai cuộc thế chiến hầu như chẳng thay đổi gì, chẳng có hậu quả gì lớn lao. Trong khi cuộc chiến VN đã thay đổi hoàn toàn nước Mỹ, thay đổi đến tận gốc rễ. Mỹ đã cuốn gói chạy khỏi VN là điều tủi nhục. Nhưng bù lại, cuộc chiến đó cũng đã giúp thay đổi xã hội Mỹ, với dân da đen được tôn trọng hơn, mở cửa cho một người da đen vào Tòa Bạch Ốc, với phụ nữ được bình đẳng hơn giúp bà Hillary đi đến ngưỡng cửa Tòa Bạch Ốc, với xã hội trở nên phóng khoáng hơn mở đầu cho việc chấp nhận phá thai và hôn nhân đồng tính dễ hơn.

Đó là chiều hướng tốt đẹp hơn hay xấu hơn, là chuyện các sử gia và xã hội học sẽ còn thảo luận dài dài. Chúng ta chỉ cần lo ăn mừng kỷ niệm 238 năm lập quốc của quê hương thứ hai, rồi suy gẫm về chuyện đất nước Việt ta đã đóng góp như thế nào vào việc xây dựng đất nước này. (06-07-14)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.