Hôm nay,  

Sương Bụi Tro Tàn Mrauk U

22/02/201400:00:00(Xem: 7018)
Sương ở Mrauk U dầy nhưng không thành mây. Cũng không phải mây sà thấp để hóa màn sương trắng. Sương ở miền cực tây sơn cùng thủy tận của đất Miến vẫn là sương. Khi nắng lên, sương tan vào đâu. Trời vẫn xanh.

Có những nơi mây xuống thấp thành sương trắng lung lay, như Dharamsala. Nơi đó mây từ rặng Hy Mã đổ về, gió nóng từ miền nam thốc lên nhào mây như nhào bột. Mây bị vây hãm trong bốn bề núi cao, dùng dằng trong thung lũng rồi lẩn quanh vào trời mây. Mây ở Pa-an như sợi chỉ, trời thòng xuống đậu trên ngọn cây trong thửa vườn bồ đề bát ngát.

Trời ở Mrauk U không mây. Sương và trời không mắc mớ gì nhau. Mặt trời nơi đây lên muộn. Bảy giờ sương vẫn sà thấp như chiếc võng. Chiếc võng trắng phau nằm thẳng băng móc một đầu lên ngôi chùa Htuk Kant Thein 443 năm tuổi hình cái chuông úp lên nền đất vuông. Cả ngôi chùa đen sững, đen bóng, không duyên dáng như những ngôi tháp ở Bagan. Cả khối đen nặng nề lầm lũi nổi lên trong màn sương trắng. Khối đen không lạnh lùng, không làm dáng, không những đường nét hoa văn. Như một người kiên quyết chấp nhận định mệnh, khối đen bất chấp ngoại cảnh trắng tinh đang chờn vờn vồ vập xung quanh. Cách vài chục thước là ngôi chùa Sitthaung 80.000 tượng Phật gần 500 năm tuổi. Cũng một khối đen khổng lồ với những ô vuông xung quanh như pháo đài. Cách hai mươi thước là Andaw Thein 416 tuổi, nơi thờ xá lợi Phật. Cả ba ngôi chùa đều đen. Xung quanh có ô vuông nhỏ lấy ánh sáng soi mờ các tôn tượng thiết trí dọc theo bốn dãy hành lang bên trong. Đứng ngoài nhìn vào không khác gì những lổ châu mai.

Khi nắng lên, sương như bị hút vào các lổ châu mai. Trời trong vắt không mây. Những khối đen, không lầm lì cũng không ung dung, nổi trên màu đất đỏ. Nhưng sương trời đi biệt chứ khói bếp nhà ai vẫn ngùn ngụt cuộn lên trời. Mùi than củi lấn hết bầu khí ban mai, nếu không nghe ra mùi khét cứ tưởng sương sớm còn lẩn vẩn. Sương trời như tấm phông rút biệt để bày ra bộ mặt trần gian nơi vùng đất cây cỏ te tua.

Những phụ nữ từ con đường đất bụi, đội ống nhôm đi lấy nước, chen ra linh động trên nền đất, in hình lên những bức tường đen im lìm. Rồi những phụ nữ đội những bó củi mót trong rừng, lầm lũi đi trên đường mòn ra chợ. Nơi vùng đất xa ngắt này, hai thứ quý giá nhất là nước và củi.

Những chấm người nhỏ bé di động không tạo được sự sống nhưng ít ra, khiến ta nghĩ nên đây còn có người. Cuộc sống nhọc nhằn quá. Những bếp than bếp củi, những ống nhôm đựng nước, những bó củi gầy guộc, tất cả đội trên đầu những phụ nữ bé nhỏ, kéo dép lê trên những con đường đất nhỏ. Những ngôi chùa lầm lầm im lặng Những con người lầm lũi bước.
resized-mrauk-u
Sương mù Mrauk U.

Mrauk U, ngày đầu đã cho tôi cái cảm tưởng là một nơi không phiền não không hạnh phúc, không khóc không cười. Một chút hoang sơ buồn thiu, gần gần với man dại nơi những đôi môi rộng ngoắc lên ở hai đầu mép. Đôi mắt người to đen thản nhiên nhưng không lạnh lùng. Tôi – những ngôi chùa đá đen – không than trách không cảm thán gì thời gian, cứ như chuyện thế gian chuyện trời chuyện đất cuộc sống là như thế.

Sau một tuần trốn chỗ sơn cùng, tôi tưởng sẽ rời Mrauk U suông sẻ. Nhưng không, chiếc tàu hướng về nam mắc cạn trong sáng sớm. Sương dầy quá nên thuyền trưởng không thấy đường, chạy thẳng lên bờ. Đứng ngắm sương khói lảng vảng trên mặt nước, nhớ hai câu thơ của Thôi Hiệu qua bản dịch tài hoa của Tản Đà. Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

*

Arakan hay Rakhine, vùng đất cực tây của Miến Điện dọc theo vịnh Bengal. Có vẻ như chỗ đó còn nhiều dấu vết của thần thoại Ấn Độ, những người Arakan dữ dằn bốn ngàn năm trước. Rồi máu lửa trong hai năm 2012 và 2013 vì xung đột chủng tộc. Ba lần xin giấy vào không được. Lần thứ tư, tôi đến được thủ phủ của Rakhine là thành phố Sittwe. Mùng 4 tết Giáp Ngọ. 2014.

Dự tính đi khắp Miến Điện sau gần năm năm mới gọi là thành.

Sittwe nhỏ và buồn. Bờ biển Bengal buổi chiều hiu quạnh, bờ cát đen than chạy vài trăm thước mới tới mép nước. Vài chiếc xe đạp thồ chạy bâng quơ. Tôi ngồi trên thềm biển, cũng trở đầu ngó bâng quơ.

Sittwe không có gì để ở lại lâu. Hôm sau bắt tàu chợ ngược sông Kalenda lên Mrauk U. Chiếc tàu cũ kỹ như những chiếc tàu chợ khác khắp Miến Điện, cũng người đội thúng bán bưng nằm ngồi la liệt trên sàn. Tìm một chỗ ngồi khuất gió, ngắm hàng trăm con hải âu trắng soải cánh bay tà tà quanh tàu cả tiếng đồng hồ từ khi tàu tách bến.

Mrauk U như vùng đất thần thoại, chỉ cách Sittwe hơn nằm giờ tàu thủy. Nơi đây có ngôi chùa 80.000 tượng Phật. Có ngôi chùa 90.000 tượng Phật. Và điểm hành hương nổi tiếng nhất là chùa Mahamuni, nơi Đức Phật dừng chân và người dân Arakan xin tạc tượng ngài bằng vóc dáng người thật.

Tôi đến Mrauk U như người đi trong chiêm bao đến vùng đất thần thoại không ngập tràn ánh sáng mà bao phủ trong màn sương cổ tích. Dòng sông yên ả, không dữ dội tuôn tràn như Irrawaddy mùa nước lớn. Hai bờ thinh lặng, những con cò trắng lẻ loi ngó quanh quất. Cả một sông cảnh yên bình.


Thành phố, hay vùng đất mà chính quyền Miến chắc cũng muốn quên, từng là kinh đô của hai vương triều phồn thịnh, giờ chìm trong bụi mờ. Một chiếc xe đạp đi qua cũng cuộn lên những lốc tròn ngột ngạt. Những ngôi nhà chìm trong bụi. Tấm trải giường trong nhà khách rẻ tiền phớt lớp bụi mờ. Mọi con đường đều cong và lồi đá. Một vùng đất đang tàn lụi trong cô liêu nằm sát biên giới Bangladesh. Nơi vua Mahataing Chandra thành lập vương quốc Vesali năm 327. Cả hoàng thành giờ chỉ còn một dãy gạch thấp hơn bờ ruộng. Nhưng cũng tại phía bắc của vương thành này hơn hai ngàn năm trăm năm trước, Phật Thích Ca đã dừng chân trên núi Thalagerg. Pho tượng Thích Ca bằng vàng lừng danh ở Mandalay được tạc vào thời Đức Phật tại ngôi làng Shinkyawmunei cách núi Thalagerg chừng hai mươi cây số. Đến thế kỷ 18 tượng bị một ông vua cướp mang về Mandalay. Người Arakan cam chịu thua cuộc, tạc một tôn tượng khác nhỏ hơn để tôn trí nơi Đức Phật dừng chân. Ngôi chùa này chỉ cách Mrauk U 50 cây số nhưng không đông đúc như chùa Mahamuni ở Mandalay.

Tôi bắt bọn để mướn xe jeep và đi đò lên Chin, tiểu bang thứ 14, điểm cuối cùng cho trọn lộ trình Miến Điện toàn tập. Một ông giáo sồn sồn người Thụy Sĩ dạy tiếng Pháp và Đức nhưng rất ghét người Đức. Miến Điện là nước thứ 85 ông ta đến nhưng càng đi càng thấy người Đức khó chịu, khinh người, rặt đầu óc phát-xít. Một ông già người Úc làm quản lý một nhà hàng lâu đời nhất Sydney. Ông già cực kỳ vui tính, nhà khách không có nước lạnh giữa trời 15 độ C thì ba ngày tắm một lần cũng không chết. Một chàng tuổi trẻ người Ba Lan mới xong đại học, làm hướng dẫn viên du lịch cho người Ba Lan qua Trung Quốc nhờ chàng biết tiếng Tàu. Người Tàu chỉ giỏi sao chép, coi chữ viết của họ cũng biết vì sao, cứ copy cho đúng hình thù sự vật rồi làm chữ viết, chùa thì cái nào cũng mái cong cong có rồng chầu. Tại cái chữ viết của họ khiến người Tàu sáng tạo không nổi. Ý kiến ngồ ngộ của chàng Ba Lan khiến con đường dồng sốc lên bang Chin ngắn bớt. Rồi bỏ xe, mướn đò đi ngược sông Lay Mro như dài bất tận.

Chúng tôi đến mấy ngôi làng người Chin, căn nhà sàn nào cũng te tua mái lá vách tre. Họ trồng một ít đậu phộng, dưa hấu, vài cây xoài và me tơi tả trong bụi. Ghé hai ngôi trường tiểu học phát kẹo và bong bóng. Nơi đây phụ nữ lớn tuổi còn xăm mặt. Một bà cụ 73 tuổi bị một cái cây chọc vào mắt muốn lòi tròng, gặp “đám Tây” cụ xin thuốc nhỏ mắt nhưng không ai đem theo. Chúng tôi đi là rà mấy hàng quán trong làng, đến cái “siêu thị” thứ ba thì tìm được một chai thuốc nhỏ mắt Miến Điện to gần bằng chai bia lùn. Ông giáo Thụy Sĩ, từng làm cho Chữ Thập Đỏ Quốc tế ở châu Phi bốn năm, nói: Cũng chịu thôi. Ừ, người Việt gọi là phước chủ may thầy.

Người ở Mrauk U làm thuê làm mướn (nhưng tuyệt không đào tường khoét vách) đủ đường để sống. Người Chin sống cạnh sông. Sinh kế của họ là nuôi heo mọi, lặn xuống lòng sông lượm đá và vào rừng chặt tre để đổi lấy gạo tiền với người Mrauk U văn minh. Bang Chin, giáp cả Bangadesh và Ấn Độ, lọt thỏm giữa núi rừng. Những ngôi làng chỉ nghe tiếng lá, và từng bầy con nít lấm lem chạy tung bụi mờ.

Nơi đây là vùng đất để thủ. Thế đất dựa vào núi, những ngọn đồi thấp, như con thú rừng ngồi xổm trông ra vịnh Bangal. Những người Rohinya vô thừa nhận sống lẩn lút trong rừng gần biên giới Bangladesh. Cả những ngôi chùa cũng xây theo kiến trúc phòng thủ, tường đá dầy kiên cố đủ sức chịu đựng súng thần công. Cung điện ngày xưa giờ toàn gạch vụn. Nhưng trong một mảnh đất nhỏ của di tích kinh thành Vesali còn sót lại, có ba cây sứ già, thật già, gốc to vài thước, những chiếc cành toe ra như những lọn tóc thắt bím không có một lá cây nào. Cả ba thân cây đều khô khốc, trắng bệch và rúm ró tưởng chừng không còn chút sự sống. Nhưng trên những đọt cao lại ẩn hiện vài bông sứ trắng nhỏ bằng bông cau.

Có vẻ như người Arakan ở Mrauk U, những ngôi chùa ở Mrauk U, những con đường bụi ở Mrauk U, và những thân hình bé nhỏ đội nước đi giữa trời Mrauk U chưa hoàn toàn khánh kiệt, như những bông sứ trắng trổ từ thân cây già.

Vẫn ra hoa cho tròn phận sự.
Dù đã mỏi mệt lắm rồi.


Tôi không hiểu sao mình lại đến chốn này. Mấy năm liền tưởng nhớ một vùng đất trong tâm tưởng. Đi coi lại cái đã mất chứ không tìm lại dĩ vãng (làm chi). Cứ như nhìn một ngôi sao lớn trên bầu trời gần sáng, một vầng trăng khuyết thượng tuần tháng Giêng, những ngọn đồi khô lấm bụi vàng, rồi khí trời đất đá thở ra, tất cả trộn vào nhau, nhào nặn từ càn khôn hàng thiên niên kỷ trước, khi tôi đến, chạm vào thì tất cả vỡ tan thành tro bụi. Những hạt bụi ấy mang biết bao dòng sinh mệnh buồn vui, trở về không.

Trên sườn núi Thalagerg vắng tanh, tôi ngồi ngắm màu vàng sẫm của hoàng hôn phủ xuống những ruộng đồng khô khốc gốc rạ. Đã đến nơi sơn cùng thủy tận. Đã khắp cùng đất nước hình ngọn lửa. Thả nhẹ lần cuối chút tro than của mẹ nơi Đức Phật dừng chân ngày nào. Bụi đã trở về với đất. Mùa xuân không còn nữa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.