Hôm nay,  

Vui Buồn Của Chuyện Đi Xin Tiền

1/15/201400:00:00(View: 6989)
Tôi tham gia công tác xã hội từ rất lâu, tính đến nay cũng đến ngót 50 năm rồi. Trong việc này, phần nhiều các bạn lại hay phân công cho tôi phải làm sao kiếm được phương tiện vật chất như tiền bạc, vật liệu hay xe cộ… cần thiết cho việc thực hiện công tác. Bởi lẽ loại công việc chúng tôi theo đuổi thì hầu hết là có tính chất tự nguyện, do các anh chị em sinh viên, học sinh còn đang đi học tham gia. Vì thế, mà phải tự túc xoay xở đi xin chỗ này chỗ nọ, làm sao cho có đủ phương tiện cần thiết cho nhu cầu công việc trước mắt cuả tập thể.

Phải nói ngay rằng cái chuyện “vác túi xách đi gõ cửa tứ phương” như vậy, thì thật là vất vả, đôi khi cay đắng, tủi nhục nữa. Nhưng mà, bù lại nhiều khi cũng gặp được những niềm vui thú và an uỉ, đó là nhờ sự hưởng ứng chân tình cuả những vị có tấm lòng rộng rãi, đại lượng. Nay nhân dịp cuối năm Mậu Tý 2008, tôi xin kể lai rai về một số chuyện vui có, buồn có cuả người đi xin tiền, mà bản thân mình đã trải qua lâu nay.

Khởi đầu, thì tôi cũng chỉ đi xin cho mấy dự án nho nhỏ thôi, đại khái tính ra cũng chỉ cần vài ba trăm mỹ kim, cụ thể như để mua sơn, mua vôi để giúp sơn quét lại một trường học nho nhỏ tại miền ngoại ô thành phố; hoặc kiếm ít gỗ để tu sửa lại vài cầu tiêu công cộng. Còn phần thực phẩm, thì thường đi xin cuả mấy bà bán hàng ngoài chợ. Phải nói là các bà tiểu thương này thật là xởi lởi dễ thương, các bà thương lũ trẻ sinh viên học sinh như con cháu vậy, nên chúng tôi rất phấn khởi đón nhận những sự giúp đỡ chân tình như thế.

Về thuốc men để cấp cho đồng bào trong các khu xóm lao động vào những chuyến đi khám bệnh, thì chúng tôi đi xin từ các dược phòng. Đặc biệt tôi vẫn nhớ Dược sĩ La Thành Nghệ có tiệm thuốc khá lớn tại đường Tự Do Saigon, thì ông rất rộng rãi cấp phát cho chúng tôi số thuốc thông dụng cần thiết. Và đôi khi ông còn cho thêm ít tiền nưã.

Đại khái ban đầu thì với quy mô nhỏ, chúng tôi chỉ làm một số dự án khiêm tốn mà thôi. Sau này, với Chương trình Phát triển Cộng đồng tại các Quận 6,7,8 Saigon kê từ năm 1965 trở đi, thì chúng tôi phải vận dụng tôí đa các mối giao tế quen biết (connections) trong các cơ quan chính quyền, cơ quan viện trợ Mỹ USAID, các tổ chức nhân đạo từ thiện ngoại quốc như CARE, CRS (Catholic Relief Service), ACS (Asian Christian Service), VNCS (Viet nam Christian Service) IVS (International Voluntary Service) v.v…, thì mới có thể kiếm được cho đủ số phương tiện cần thiết cho các hoạt động khá là phong phú đa dạng trong khuôn khổ cuả chương trính phát triển rộng lớn này.

Chương trình Quận 8 khá là quy mô. Nhờ có anh kỹ sư Võ Long Triều liên hệ vơí Tướng Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó làm Thủ Tướng Chính phủ mà anh chị em chúng tôi được cấp một ngân khỏan 10 triệu đồng để làm quỹ điều hành sơ khởi. Còn vật liệu xây dựng như ciment, sắt và tôle, thì do USAID cung cấp khá đầy đủ. Sau này vào năm 1966-69, thì được cấp thêm 20 triệu đồng nưã, ngân khỏan này cũng được trích từ ngân sách quốc gia. Tuy là một chương trình hoạt động tự nguyện, nhưng chúng tôi được Bộ Thanh niện và Toà Đô chánh là hai cơ quan được Tướng Kỳ trao phó trách nhiệm đứng ra bảo trợ, nên được sự yểm trợ và thiện cảm cuả Bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng, Bộ trưởng và cuả Bác sĩ Văn văn Cuả, Đô trưởng Saigon. Ít lâu sau, thì chính kỹ sư Võ Long Triều lại thay thế bác sĩ Hồng để lên làm Bộ trưởng Thanh niên; do vậy mà chương trình quận 8 được yểm trợ mạnh mẽ hơn từ phiá Bộ Thanh niên.

Nhưng tiếc thay, thời gian này lại quá ngắn, vì kỹ sư Triều chỉ giữ chức vụ Bộ trưởng có chừng 7-8 tháng trong năm 1966 thôi. Và hơn nữa, sau khi Bác sĩ Cuả cũng lại rời chức vụ Đô trưởng, vì bị tai nạn trong vụ trực thăng bắn lầm ở Chợ lớn hồi giữa năm Mậu thân 1968, thì chương trình chúng tôi cũng không còn được sự yểm trợ từ phiá Toà Đô chánh như trước đó. Cũng may, vì đã hoạt động được trên 3 năm kể từ 1965, nên chương trình vẫn giữ được cảm tình và sự yểm trợ cuả nhiều giới chức cấp thấp hơn trong chính quyền, và đặc biệt là cuả cơ quan Usaid. Nhờ vậy mà chúng tôi vẫn có thể tiếp tục công việc phát triển, nhất là phải lo việc tái thiết cho khoảng 8000 căn nhà bị tàn phá dịp Tết Mậu thân 1968. Cho đến năm 1971, thì chúng tôi được lệnh phải chấm dứt hoạt động. Các chi tiết về mối liên hệ cuả chương trình quận 6,7,8 Saigon, kể từ 1965 đến 1971, với chính quyền Việt nam Cộng hoà, cũng như với Usaid và các cơ quan từ thiện xã hội ngoại quốc khác nưã…, thì tôi xin sẽ được trình bày đầy đủ hơn trong một dịp khác. Vì lý do bài này chỉ tập chú vào các chuyện vận đông xin phương tiện vật chất cho các dự án hoạt động xã hội nhân đạo mà thôi.

Sau cái vụ chương trình quận 8 này, thì chúng tôi vẫn còn nhiều sinh hoạt xã hôị nho nhỏ khác, kể cả sau năm 1975 dưới chế độ cộng sản. Nói chung, thì lúc nào trong xã hội cũng có nhu cầu tương trợ những bà con nạn nhân cuả thiên tai bão lụt, hoả hoạn hay bệnh tật nghèo túng, v.v…Và chúng tôi ráng cố gắng thể hiện tình liên đới xã hội qua những việc làm cụ thể, thiết thực nhằm đáp ứng kịp thời, tại chỗ cho những người đang bị lâm vào hoàn cảnh ngặt nghèo, bi đát.

Đáng ghi nhớ nhất là chuyện giúp đỡ nạn nhân chiến cuộc ở miền Trung sau vụ Muà Hè Đỏ Lửa năm 1972. Lúc đó thì tôi đang làm việc cho Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới (World Council of Churches = WCC), nên đã vận động xin được tổ chức này yểm trợ một ngân khoản khá lớn, lên tới cả triệu dollar để dành cho công cuộc cưú trợ này.WCC giao cho Cơ quan Xã hội Tin lành Á châu(ACS) quản trị ngân sách này.


Có thể nói từ 1965 tới 1975, thì qua chương trình phát triển quận 6,7,8 Saigon và qua WCC, tôi đã được chứng kiến và dự phần vào việc “đi vận động vật liệu, tiền bạc” cho nhiều dự án cứu trợ, tái thiết cũng như về xã hội giáo dục…, tại các điạ phương gặp tai nạn do chiến tranh trực tiếp hay gián tiếp gây ra. Nói chung, thì mấy chương trình có quy mô lớn như thế đã gặp nhiều thuận lợi khi chúng tôi đi vận động xin ngân khoản hay vật liệu cho công tác xây dựng hay cứu trợ nhân đạo. Do vậy mà gặp vui nhiều hơn là buồn. Có nhiều cái vui ngộ nghĩnh, cụ thể như chuyện chúng tôi xin được cơ quan CARE giúp cho các ngư phủ đánh cá ở mạn Bình Đông Rạch Cát mỗi gia đình một máy đuôi tôm, vì ghe cuả họ bị bắn chìm dịp Tết Mậu Thân, làm mất cả ghe cả máy nổ. Sau một thời gian, thì chúng tôi được bà con ngư phủ đem cho hai con cá khá lớn, mỗi con dễ đến 2-3 kilô. Họ nói là dành cho chúng tôi một con, còn con kia thì nhờ chuyển đến biếu cho ông Giám đốc cơ quan CARE. Và tôi có phone cho ông Giám đốc về việc này, nhưng ông lại tặng lại cho chúng tôi. Thành ra chỉ có một việc làm môi giới xin máy đuôi tôm, mà chúng tôi được bà con cho đến 2 con cá thật là tươi và lớn nưã. Dịp đó anh chị em chúng tôi được ăn một bưã cơm với mấy món cá thật là hậu hĩnh.

Sau năm 1975, thì phải đợi mãi đến năm 1986 trở đi với chủ trương “Đổi Mới”, một số sinh hoạt từ thiện xã hội với quy mô nho nhỏ cuả tư nhân mới có thể tái xuất hiện được. Điển hình là chuyện đoàn y tế gồm các bác sĩ, nha sĩ và y tá tự nguyện từ Saigon lên tận Phước Long, gấn chân núi Bà rá, để chăm sóc sức khỏe cho anh chị em tại trại cai nghiền ma tuý Phú văn. Ngoài việc khám bệnh, chúng tôi còn cấp phát thuốc men, thực phẩm và quần aó cho các trại viên nữa. Sau này vì đường xá đi lại khó khăn trở ngại, nên đoàn y tế này phải chuyển đến giúp bà con người sắc tộc nghèo khó tại khu vực Túc Trưng Định Quán La Ngà trên quốc lộ 20 từ Dầu Giây đi Đà lạt.

Rất nhiều quý vị hảo tâm đã cho tiền bạc, thuốc men và quần áo cho chúng tôi đi làm việc từ thiện nhân đạo này. Cụ thể là Linh mục Nguyễn Quang Lãm tức nhà báo Thiên Hổ chủ bút báo Xây Dựng trước kia, Ni sư Như Châu tại Chuà Huê Lâm khu bình bung Cây Gõ Chợ lớn, Cụ Chánh Năm nguyên Phó Tỉnh Trưởng Bùi chu, lúc vaò Nam thì ở khu Lăng Cha Cả Tân bình, Nữ Tu Quỳnh Dao thuộc Dòng Phan Sinh, Linh mục Thomas Trần văn Dụ, gốc ở Huế, v.v… Chúng tôi chỉ vận động kín đáo trong vòng thân mật quen biết thôi, chứ không thể công khai mở rộng ra với công chúng như hồi trước năm 1975. Đặc biệt vào năm 1988 trở đi, với việc các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu tới Việt nam để tìm cơ hội buôn bán làm ăn, thì chúng tôi cũng được một vài người ngoại quốc giúp đỡ, cụ thể như ông Clive Fairfield từ Singapore, ông Mike Morrow từ Hongkong đều có một vài lần hỗ trợ chút ít tiền bạc, để mua thuốc men cho đoàn y tế có phương tiện chăm sóc cho bà con người sắc tộc ở khu vực nói trên.

Tôi cũng phải kể thêm về nhừng chuyện buồn nữa trong việc đi ngửa tay xin bá tánh giúp đỡ công tác xã hội này, thì mới mô tả đày đủ các mặt tích cực và tiêu cực cuả sự việc.Cụ thể như khi gặp trường hợp người không thông cảm với chuyện xã hội mình làm, hoặc gặp người hay đa nghi cứ sợ bị mình đi lưà bịp thế này thế nọ, thì dù có lựa lời van xin nhỏ nhẹ, khiêm tốn đến đâu đi nữa, cũng vô ích mà thôi. Mà có khi lại còn bị ‘đuổi khéo”, bị nói cho đến tẽn tò ngượng ngập nưã. Nhưng mà, biết làm sao khác được? Chúng tôi quan niệm rằng mình cứ làm việc đàng hoàng, đứng đắn ngay thẳng, thì cũng không nên chấp nhất cái chuyện “lẻ tẻ vặt vãnh” như thế. Mình ra công sức, thì cũng cần người có cuả phụ giúp tiếp tế thêm về phương tiện tài chánh, vật liệu cho nữa, như vậy mới có thể hoàn thành công việc tốt đẹp được.

Vì đây là việc chung có ích lợi cho đa số bà con kém may mắn, thì cũng chẳng nên quản ngại có sự hiểu lầm hay thiếu thông cảm cuả một số ít người khó tính như thế. Bọn tôi hay bảo nhau là phải áp dụng cái chiến thuật “phải hạ mình xuống để chinh phục được thiện cảm cuả người khác”, như đề tựa cuả cuốn sách tiếng Anh mà các học sinh bậc trung học chúng tôi được học ngày trước, đó là: “She stoops to conquer” (Nàng cúi mình xuống để chinh phục). Làm công tác xã hội, thì phải nhẫn nhục, chiụ đựng những lời gièm pha, hạch sách, kể cả phỉ báng cuả công chúng; đó là điều không thể né tránh hết thảy được.

Sau nhiều năm miệt mài lăn lộn với đủ các thứ chuyện “ăn cơm nhà mà đi vác ngà voi” như thế đó, thì tôi vẫn thấy là về căn bản chúng tôi nhận được sự thông cảm khích lệ cuả rất nhiều giới trong xã hội đối với loại công tác xây dựng cụ thể, thiết thực để giúp đồng bào cuả mình. So ra, thì rõ rệt là dù phải vất vả, nhẫn nhục mà ngưả tay xin sự bố thí cuả bá tánh, chúng tôi vẫn gặp được nhiều thuận lợi, vui mừng phấn khởi hơn là sư buồn phiền vì bị khinh chê, rẻ rúng cuả một thiểu số người không thông cảm, vẫn còn nghi hoặc đối với mình. Vì thế cho nên chúng tôi vẫn giữ được tinh thần lạc quan, phấn khởi để mà tiếp tục con đường phục vụ nhân quần xã hội cuả mình, bất kể mọi chông gai trở ngại.

Bài viết đến đây kể đã khá dài rồi, mà vẫn còn nhiều chi tiết cụ thể, ngộ nghĩnh khác nữa cần phải ghi ra. Nhất là về giai đọan gần đây ở trên đất Mỹ, nơi tôi đến định cư từ năm 1996 cho đến hiện nay. Nhưng người viết thấy cũng nên hạn chế bớt lại, để xin có dịp trình bày thêm cho đầy đủ hơn vào một dịp khác nữa vậy./

California, Tiết Đông Chí năm Mậu Tý 2008

Đoàn Thanh Liêm

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.