Hôm nay,  

Việc Làm Lời Nói Trăm Phần Khác Xa

17/12/201300:00:00(Xem: 5160)
Hồi đầu thế kỷ XX, học giả Phạm Quỳnh chủ trương tạp chí Nam Phong, với mục tiêu chuyên về nghiên cứu và phổ biến văn chương,học thuật tư tưởng cuả cả Đông phương lẫn Tây phương. Tờ báo đã gây một tiếng vang lớn trong khắp nước, và được sự hưởng ứng cuả nhiều tầng lớp thức giả từ cả ba miền Trung, Nam, Bắc. Nhưng sau mười mấy năm, thì vị Chủ bút họ Phạm này lại vào kinh đô Huế tham gia Nội các cuả Nhà vua Bảo Đại, giữ chức Thượng thư Bộ Học (= Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục), nên đã khiến cho tờ báo phải đóng cửa, trước sự ngỡ ngàng nuối tiếc cuả bao nhiêu độc giả.

Nhân dịp này nhà thơ Tú Mỡ, môt cây bút trào phúng nổi danh trong Nhóm Tự Lực Văn Đoàn, đã viết một bài thơ đăng trên báo Phong Hoá, chỉ trích sâu cay học giả họ Phạm vì ham thích đi làm quan, mà bỏ bê sự nghiệp văn học. Nhân tiện cũng xin ghi thêm Tú Mỡ là bút hiệu cua cụ Hồ trọng Hiếu, nhạc phụ cuả nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Tác giả mượn lời “hồn ma tờ báo Nam Phong vừa chết yểu “để trách mắng Phạm quân, xin trích mấy câu tiêu biểu như sau:

Bạc tình lang, bạc tình lang
Ngươi đã dùng ta để làm thang vào triều.
Tưởng thi thố những điều ích nước
Xứng với danh giáo dục quốc dân
Nào ngờ chỉ cốt vinh thân
Việc làm lời nói trăm phần khác xa!...


Câu thơ cuối cùng trên đây được dùng làm tiêu đề cho bài viết này, chủ ý nhằm phản ánh tình trạng hiện nay tại Việt nam dưới chế độ cộng sản. Như ta đã biết, người cộng sản một khi đã nắm giữ được chính quyền rồi, thì họ tìm mọi thủ đoạn để mà giữ độc quyền chính trị, kinh tế, và cả về mặt văn hoá tư tưởng nữa, theo đúng sách lược “Độc tài, chuyên chế toàn trị” ( totalitarian dictatorship). Họ cấm không cho tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tôn giáo… là những nhân quyền căn bản cuả con người. Hiện nay, có đến 6-700 tờ báo, tạp chí, thì tất cả đều là do đảng cộng sản điều khiển, thao túng. Mà không hề có một tờ báo nào cuả tư nhân, độc lập được phép lưu hành. Các đài truyền thanh, truyền hình cũng vậy, tất cả đều là cuả nhà nước cộng sản hết.

Vào năm 1980-81, bà con thường rỉ tai nhau câu chuyện khôi hài như sau: Xưởng quốc doanh vưà mới chế tạo được một chiếc xe hơi thật là hiện đại. Nhưng khi cho chạy thử, thì chỉ di chuyển được có mấy thước là xe ngừng lại luôn. Kỹ sư phải nhờ các chuyên gia Liên Xô, Tiệp Khắc… cố vấn xem xét giùm, và tất cả đều không tìm ra nguyên do cuả sự ngừng chuyển động này cuả cái xe vưà mới xuất xưởng. Rút cục, thì phải nhờ đến một kỹ sư người Nhật. Ông này kiểm tra một lúc, rồi nói ngay: “ Xe được chế tạo rất đúng cách, không có gì sai sót về kỹ thuật cả. Chỉ có mỗi một sơ xuất nho nhỏ thôi, đó là: Toàn bộ năng lượng cuả cái máy, thì đều đổ dồn vào cái còi xe hết, cho nên xe không còn năng lượng để mà đi được nữa !”

Cũng vì thế, mà dân gian mới hay nói: “Nói vậy, mà không phải vậy đâu!” “Nói không phải vậy, mà là vậy đó!” Ngay từ hồi năm 1946-47, cũng đã có những câu như “Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi!”, “Nói dối như VẸM” (VM = Việt minh). Người dân sau năm 1975 thì lại còn hay chế diễu, gọi “Xã Hội Chủ Nghiã XHCN là Xạo Hết Chỗ Nói, Xiết Họng Công Nông…”Năm này qua năm khác, báo chí và đài phát thanh, truyền hình thì chỉ có mỗi một việc là dối trá, lưà gạt người dân bằng những thông tin bị bóp méo, những luận điệu xuyên tạc. Các văn nô hành động như kẻ đâm thuê chém mướn, mặc tình bẻ cong ngòi bút để tô hồng, chuốt ngọc bốc thơm cho giới lãnh đạo cuả đảng và nhà nước. Và rồi còn mạt sát, bêu riếu thậm tệ bất cứ ai có ý kiến hay hành vi khác với chủ trương sắt máu, tàn bạo cuả đảng cộng sản.

Cụ thể như trường hợp cuả học giả Đào Duy Anh, hồi năm 1979-80, trong một dịp gặp cụ tại nhà cụ Nguyễn Hiến Lê ở Saigon, thì tôi đã đích thân được cụ Đào cho biết như sau: “Ông ạ, chúng tôi ở ngoài Bắc thì bị hành hạ đến là khổ sở vì cái bọn “cường hào học thuật”. Đây là lần đầu tiên, tôi được nghe đến cái danh từ này; chứ trước đó thì chỉ có nghe nói đến chữ “cường hào điạ chủ, cường hào ác bá” ở nông thôn mà thôi. Vì thế, tôi mới xin cụ nói rõ cho đó là những ai mà bị coi là cường hào học thuật. Cụ Đào trả lời ngay, không một chút ngập ngừng do dự: “Đó là các ông Văn Tân, Văn Tạo là Viện trưởng Viện Sử học và Viện Văn học ấy”..!

Còn học giả Nguyễn Hiến Lê, thì cụ thường hay tâm sự với tôi trong nhiều dịp tôi đến viếng thăm cụ tại nhà ở đường Kỳ Đồng cũng gần với nhà tôi ở đường Trương Minh Giảng. Cụ Nguyễn nói: “Tôi thật lấy làm tiếc cho những người còn trẻ có khả năng, kinh nghiệm như ông, mà không hề có được chỗ dụng võ, để thi thố sở học cuả mình hầu làm việc giúp dân, giúp nước trong lúc này. Tôi được nghe bà con, bạn hữu thân thiết từ ngoài Bắc vào cho biết là giới lãnh đạo chóp bu trong đảng cộng sản, thì bọn họ cũng xâu xé, mâu thuẫn với nhau, nên chẳng còn giữ được kỷ cương phép nước, chẳng còn có chuyện trên thuận dưới hoà để mà đồng lòng chung với nhau trong công việc phục vụ đất nước gì nưã cả! Rõ ràng là chúng ta không còn có thể trông cậy gì nơi những người lãnh đạo vô tư cách, vô đạo đức như thế đó được nưã …”


Thế đấy, suốt ngày họ cứ ra rả tuyên truyền là yêu nước, lo lắng chăm sóc cho hạnh phúc cuả nhân dân, với những chương trình, kế hoạch hành động thế này, thế nọ. Nhưng mà thực chất thì họ chỉ tìm mọi cách để giữ vững cái điạ vị độc tôn, độc quyền, các thứ đặc lợi riêng cho cái đảng mafia cuả họ mà thôi. Tôi xin quý bạn nghĩ xem, khi mình thật tâm yêu mến người nào, thì có bao giờ bạn lại đi lưà gạt, dối trá đối với người đó không? Vì làm như vậy tức là đã xúc phạm đến nhân phẩm cuả người mình yêu quý, mà còn tự làm hạ danh dự, phẩm giá cuả chính bản thân mình nữa. Người cộng sản họ luôn tự xưng mình là “Đầy tớ cuả Nhân dân”. Họ còn nêu khẩu hiệu nghe rất kêu vang rổn rảng như là: “Trung với Nước, Hiếu với Dân”. Nhưng trong hành động cụ thể suốt từ mấy chục năm qua, rõ ràng là họ đã hành hạ, áp bức, bóc lột bao nhiêu triệu người dân lương thiện một cách cực kỳ ác hiểm, thâm độc, tàn tệ và bất nhân, bất nghiã. Có thể nói trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, chưa bao giờ trên đất nước ta mà lại có một chế độ tàn bạo, dối trá, xaỏ quyệt như chế độ cộng sản hiện nay.Giới lãnh đạo thì không còn biết thế nào là liêm sỉ, họ chưa hề tỏ ra biết xấu hổ, biết ngượng ngập vì những hành vi sai trái, những lỗi lầm tày đình cuả mình. Cụ thể như vụ tàn sát dã man mấy ngàn thường dân vô tội tại Huế, hồi Tết Mậu Thân năm 1968. Cho đến nay sau hơn 40 năm, mà họ vẫn còn tiếp tục ngoan cố chối cãi, không hề nhận trách nhiệm về cái tội ác khủng khiếp ghê rợn như thế !

Còn về tình trạng tham nhũng, thối nát cuả cán bộ các cấp, thì đã quá mức báo động, đến độ hết thuốc chưã rồi. Cụ thể là tổ chức Minh bạch quốc tế (Transparency International) gần đây đã xếp Việt nam vào vị trí áp chót trong số các quốc gia trên thế giới. Và đó là điều xỉ nhục trước công luận thế giới đối với toàn thể dân tộc vốn có 4000 năm văn hiến. Mới đây, dư luận công chúng tại nước Nhật lại còn coi nhân viên công chức cuả chính quyền Hanoi là một thứ “giòi bọ”; thật là một điều ô nhục đến tận đáy vực sâu rồi!

Nay nhân dịp cuối năm, người viết muốn được làm một sự đánh giá tổng kết tình hình cuả đất nước trong năm Mậu Tý 2008 này. Nói thật ngắn gọn, thì phải ghi rằng nếu mà cứ tiếp tục với cái sự ngoan cố, xảo trá lươn lẹo cùng cực cuả giới lãnh đạo nhu từ bấy lâu nay cuả đảng cộng sản, thì đất nước ta không thể nào mà còn có được một tương lai tốt đẹp, sáng suả cho chính thế hệ chúng ta và cho con cháu chúng ta nưã đâu.

Bức tranh bi thảm, đen tối này là một thực tế rất đau lòng, chứ không phải là do sự hốt hoảng bi quan vô căn cứ, hoặc do sự kỳ thị ân oán, hiềm thù đố kỵ khắt khe quá đáng đối với người cộng sản mà tô vẽ ra đâu. Đã quá 60 năm rồi, kể từ ngày đảng cộng sản đem du nhập từ Liên Xô, Trung Cộng vào Việt nam cái mô hình chế độ “độc tài chuyên chính vô sản, dựa trên bạo lực sắt máu, trên sư hận thù giai cấp”, thì đất nước và dân tộc ta mỗi ngày một thêm tàn lụi, hiu hắt, tiêu điều đi, và đã xuống cấp về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, cũng như tụt hậu cả về các mặt văn hoá, học thuật tư tưởng và nhất là suy đồi lụn bại về đạo đức luân thường mãi mãi đi mà thôi.

Vì thế, tuyệt đối và dứt khoát là ta không còn có thể trông mong gì nơi hàng ngũ lãnh đạo cộng sản là họ sẽ đổi mới, sưả sai, chỉnh đốn lại đường lối chính sách, hầu có thể dẫn đưa dân tộc ta đến sự thịnh vượng, phú cường và đem lại sự tự do thoải mái trong tình yêu thương đùm bọc nhân ái giữa đồng bào chúng ta với nhau được nưã đâu.

Người xưa có câu: “Một sự bất tín, vạn sự không tin”. Mà từ mấy chục năm nay, người cộng sản đã gây ra bao nhiêu điều bất tín, bất nghiã đối với dân tộc ta rồi, thì liệu làm sao mà ngày nay chúng ta lại còn có thể tiếp tục tin tưởng để trao phó vận mệnh đất nước vào tay họ maĩ maĩ được nưã. Nói theo người Mỹ, thì ta có thể phát biểu thật rõ ràng, chính xác với mấy lời lẽ đanh thép như sau đối với chế độ cộng sản, đó là: “Enough is enough” = Sự tàn bạo tệ hại cuả các người như thế đã là hết mức, đã là quá đủ lắm rồi!

Cho nên đến nước này, thì cũng giống như Boris Eltsin, vị cưụ Tổng Thống nước Nga, chúng ta chỉ còn có một phương cách duy nhất, đó là “Phải thay thế toàn bộ cái chế độ thối nát, dối trá, bất nhân bất nghiã cuả cái đảng cộng sản này đi mà thôi”. Cụ thể là chúng ta phải đồng lòng hợp lực với nhau mà ra sức “đập cho tan tành cái sự ô nhục đó đi” ( như lời kêu gọi cuả văn hào Voltaire cuả nước Pháp đã trên 250 năm trước: Écrasez cet infâme !)

Đây là một điều khẳng định, chung cuộc và dứt khoát cuả toàn thể nhân dân Việt nam chúng ta lúc này vào năm 2009 vậy.

That’s it! Definitively and Decisively./

California, Ngày Ông Táo về chầu Trời cuối năm Mậu Tý.

Đoàn Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.