Hôm nay,  

Vì Sao Tôi Chấp Nhận Gian Nan

5/10/201200:00:00(View: 17366)
(LTS: Tác giả Ngô Mai Hương là phu nhân của Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân, nhà hoạt động dân chủ bất bạo động vừa bị nhà nước CSVN bắt ngày 17/4/2012 khi tới phi trường Tân Sơn Nhất và sẽ bị khởi tố vì “khủng bố.” TS Quân cũng vừa được 6 Dân Biểu Mỹ ký tên chung, kêu gọi CSVN trả tự do tức khắc cho Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân vì chủ trương hoạt động bất bạo động chứ không có gì bạo lực. Việt Báo trân trọng cảm ơn tác giả Ngô Mai Hương đã chia sẻ những cảm xúc trong bài tùy bút sau.)

Buổi sáng trời mưa bụi, tôi rời khỏi nhà một mình, tôi đi lại con đường tôi và anh Quân vẫn dẫn mẹ tôi đi bộ mỗi sáng. Trí còn ngủ, chắc Khoa cũng vậy, các con chưa biết bố bị bắt rồi. Tôi nhìn lên bầu trời đầy mây xám, tôi nhớ những cánh hoa sao cô đơn, quay tròn trên con đường dẫn vào ngôi trường Trưng Vương.

Tôi nhớ 37 năm về trước, sau ngày 30/4 tôi trở về lại nhà, bố tôi đã đi mất. Những đám khói từ đống quần áo lính ai đốt ngoài ngõ còn âm ỉ cháy, và cái hình ảnh người lính nằm chết bên vệ đường cứ vương vất mãi trong trí óc tôi. Tôi đã trốn vào một góc tối và khóc một mình. Sau này khi đã ra hải ngoại, có đêm tôi đã nằm mơ thấy lại cảnh ấy. Và lạ lùng trong giấc mơ tôi lại thấy bố tôi về. Bố tôi quàng vai tôi và nói: “Đừng khóc con, bố không sao đâu”. Thực sự tôi đang cần được nghe một câu nói tương tự. Tôi đang cần nghe chồng tôi nói câu đó, như anh đã nói với tôi nhiều lần trước khi đi: “Đừng sợ, đừng lo, anh không sao đâu”. Anh đâu biết rằng đêm qua cái cảm giác lo sợ lại tràn đến quật tôi ngã. Tôi cảm thấy đau toàn thân, tôi cuộn tròn trong bóng đêm cố nghĩ đến những điều anh đã dặn: “Nếu lỡ có gì xảy ra cho anh, nếu anh bị bắt, phải xa gia đình một thời gian, thì H phải coi đó là sự xa cách của không gian, của khoảng cách, anh vẫn luôn ở cạnh bên H”.

Thu Hương, cô em gái anh Quân lại gọi cho tôi và khóc. Thu Hương lo sợ cho anh và nghĩ dại. Không biết Thu Hương có trách tôi là đã không ngăn cản anh Quân không? Tôi làm sao giải thích cho Thu Hương hiểu được lòng tôi. Khi mình thương ai, mình muốn người đó làm được điều họ mong ước.

Mấy lần tôi cản anh, anh đã nói với tôi: “Anh sống đủ rồi, cho anh được đóng góp chính mình cho sự đổi thay của đất nước”. Mà đâu phải chỉ mình anh, còn những anh em khác nữa, và còn biết bao nhiêu người đang chịu tù đày trong nước. Còn chính tôi thì sao? Tôi có thật sự muốn đóng góp phần của mình không? Khi nhìn thấy người lính nằm chết bên vệ đường, tôi chỉ mới 15 tuổi. Lúc đó, tôi không làm được gì cả cho anh, nhưng bây giờ tôi có thể. Dù đóng góp ấy nhỏ bé so với những hy sinh của họ.

Mỗi buổi sáng, khi tôi đang loay hoay nấu ăn sáng cho mẹ tôi, thế nào cũng nghe anh Quân nói mấy câu: “Giờ này hai vợ chồng mình chắc đã đi bộ hết cánh đồng, rồi ghé qua nhà bác Ba, bác Bảy gì đó…”

Hoặc anh nói về cái cư xá sinh viên dành cho học sinh nghèo; mà anh dự định thực hiện khi đất nước có dân chủ. Những ước mơ của anh về cuộc sống tương lai của hai vợ chồng ở Long Xuyên, Rạch Giá… Những nơi tôi chưa từng sống qua, ngoại trừ một tháng ngồi tù vượt biên tại trại tù Tà Niên, Rạch Sỏi.

Năm năm dạy học tại Rạch Giá là khoảng thời gian in đậm nhất trong lòng anh. Khi chúng tôi mới cưới nhau, anh thường kể cho tôi nghe chuyện về thời gian đó, về học trò của anh.

Anh Quân không phải là người làm chính trị, và anh sẽ không bao giờ trở thành một người làm chính trị. Anh chỉ là một thầy giáo, một người thầy rất thương học trò. Anh rất ngại ngùng khi được khen tặng, và ngại nhất là phải đeo vòng hoa. Lần đón anh về năm 2007, nhiều người quí mến anh, đi đón, tặng hoa, đeo vòng hoa lên cổ cho anh là anh lại tìm cách tháo xuống ngay; tôi đứng bên cạnh cứ sợ anh làm buồn lòng họ. Vậy mà, anh đã làm tôi ngạc nhiên hôm anh dắt tôi đi dự buổi tiệc họp mặt của trường Kiên Thành. Hôm đó, các thầy cô giáo ai nấy đều được tặng một vòng hoa lan tím đeo trên cổ. Thoạt đầu, nhiều học trò các khoá sau, không nhận ra anh nên anh không có một vòng hoa nào cả. Anh gọi một anh học trò đến gần và nói: “Em cho thầy xin một vòng hoa, thầy là một thầy giáo”. Trước đôi mắt ngạc nhiên của tôi anh bảo: “ Học trò làm cho mình, không vì bất cứ lý do gì mà mình không đeo, lát nữa sau tiệc họ cũng vất hết, mà tội cho tấm lòng của học trò”.

Mặc dù luôn trấn an tôi, nhưng tôi thấy cung cách của anh giống như anh đang chuẩn bị cho một chuyến đi hơi lâu. Anh dặn dò tôi đủ thứ điều, người mà anh lo lắng quan tâm nhất lại chính là tôi. Thật ra, anh biết tánh hai cháu rất giống bố, với cái cứng cỏi và gan lì, cả ba bố con hay làm mẹ buồn; nhất là những gan lỳ và dại dột của những năm tuổi teen của các cháu. Lập gia đình với anh Quân, ngay từ lúc ban đầu chúng tôi đã gặp nhiều sóng gió. Tôi là một “daddys girl” rất thương bố. Ngày sắp rời VN, sắp gặp lại ông; tôi tự hứa với lòng rằng tôi sẽ không bao giờ cãi bố tôi, sẽ làm tất cả theo nguyện vọng của ông. Vậy mà rồi tôi thất hứa khi nhận lời cầu hôn của anh Quân. Bố mẹ tôi không bằng lòng anh, vì sợ lấy anh, tôi sẽ khổ, và cũng vì anh đến cùng lúc với một người khác có tương lai hơn. Những ngày ấy, chẳng biết tại sao Chicago trời cứ đầy mưa gió và sấm sét. Ngày nhận bó hoa đầu tiên anh tặng, là lúc San Francisco bị động đất lớn, tôi không thể nào liên lạc được với anh vì đường dây điện thoại bị gián đoạn. Rồi tiếp theo là những ngày buồn bã, đầy sóng gió trong gia đình do chuyện của chúng tôi. Sau này tôi có ghi lại trong một bài thơ viết tặng anh:


Vì em lỡ cãi mẹ lấy anh
Có bầu trời đầy sao chứng giám
Có chiều mưa và những ngày u ám
Nên đất trời biết mình yêu nhau.

Như đã nói ở trên, anh Quân là một thầy giáo và anh là một ông thầy rất nghiêm khắc. Khi về làm vợ anh cũng là lúc tôi chập chững bước vào đời. Những khó khăn trong công việc ở sở, khi đem chia sẻ với anh, lúc nào anh cũng ân cần, nhưng nghiêm trang bảo tôi: “Những khó khăn đó H phải tự vượt qua, nếu không H cũng sẽ gặp ở nơi khác”. Tánh anh không chiều chuộng, anh quí trọng những con người vượt khó, nên chờ đợi điều đó ngay cả đối vợ con mình. Có nhiều đêm tôi đã thầm oán trách anh và chỉ mong sao được chạy về với mẹ mình. Cho đến khi tôi trở thành một nhân viên danh dự của sở, cho đến khi tôi đứng vững trên đôi chân của mình tôi mới hiểu được bài học của anh đã cho tôi.

Năm 2007, anh ở tù chung với một em trai ở Tây Ninh. Em đã 22 tuổi mà không biết đọc. Khi trại giam đưa bản cáo trạng cho em ký, em mới thú nhận với anh là em mù chữ. Vậy là anh gỡ vôi trên tường làm phấn để dạy em học mỗi đêm trên bản luận tội của em. Có lúc em lười biếng, muốn trốn học, em làm bộ đọc thuộc làu làu câu: Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam… trên đầu trang giấy và xin được nghỉ sớm. Em tưởng là em có thể qua mắt được ông thầy của em; em đâu biết rằng ngày xưa thầy cũng đã từng ở ngôi thứ ba - nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò. Thầy chỉ cần bịt tay vào một vài chữ, rồi bắt em đọc chữ kế tiếp là cậu học trò ngớ mặt ra ngay, thế là em lại phải ngồi ngay ngắn lại để học.

Tánh anh Quân gan lì nhưng nhiều tình cảm. Một lần nghe một em bé Mỹ lai hát vọng cổ cũng làm anh ràn rụa nước mắt. Anh quan tâm nhiều đến giáo dục, đến lớp người trẻ. Những ngày ngồi tù ở Nguyễn Văn Cừ, nhìn những quản giáo trẻ đi lại ngoài hành lang, anh bảo với tôi là anh thấy rất thương họ. Anh ngồi tù bên trong nhưng thân phận của họ cũng chẳng khác gì anh. Anh mong những việc anh làm có thể phần nào đóng góp vào sự đổi thay của đất nước để chính những người công an này thấy được một cuộc sống tốt hơn cho chính bản thân họ và cho đồng bào họ.

Trước năm 2007, anh về VN để kiếm người phụ anh làm phần mềm dịch tự động từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Trong dịp này, anh đã dẫn cô bé gái, con học trò cũ của anh từ Rạch Giá lên Sài Gòn đi theo anh khắp nơi. Anh bảo: “Cháu 16 tuổi mà trông như một cô bé lọ lem, đen đủi, ốm yếu. Hễ mở miệng ra là lại nói về bác Hồ, anh dẫn cháu đi cho cháu làm quen với các anh chị sinh viên trên Sài Gòn, cho cháu nhìn thấy một thế giới khác”. Chính những tình cảm dạt dào của anh, chính con người rất thầy giáo trong anh, đã làm cho tôi có thể chấp nhận mọi gian nan để anh được làm tròn những điều anh mong ước.

Có người bảo rằng con người là sinh vật cô đơn nhất trên hành tinh này. Tôi đang một mình nhưng tôi không cô đơn, tôi biết tôi sẽ còn buồn, sẽ còn lo, nhưng tôi sẽ vượt qua được tất cả. Có lần anh Quân bảo tôi, ở trong tù có những lúc anh đã tìm cách nói chuyện với tôi, anh tin là thần giao cách cảm sẽ giúp anh làm được điều đó, và nhiều đêm anh đã dặn tôi từ rất xa là tôi hãy yên lòng, hãy an tâm.

Tôi không biết lúc này, anh có nghe được tôi nói hay không, nhưng tôi muốn đọc một text message mà Khoa gởi về cho mẹ. Anh về lại Sacto thăm con trước ngày đi, anh đã nói thật với con về chuyến đi của mình. Khoa kể lại cho mẹ nghe rằng: hai bố con đi ăn phở, rồi vì mãi dặn dò con, gọi phở ra mà anh chẳng ăn miếng nào. Tôi thầm đọc cho anh nghe những điều Khoa viết. Tôi muốn anh biết rằng con đã lớn, đã trưởng thành. Khoa viết những điều này cho mẹ sau hai ngày anh rời Mỹ: “Hi mom, I just wanted to say that I really respect and love both you and dad. I know that dad being away scares you, but you should know that I will always be there for you and try my hardest to make sure you have a comfortable life. I want our family to fulfill our dreams and live happily anh I know dad wanted too. Please, dont be afraid, I love you”.

Không biết bố đã nói gì với Khoa về ước mơ của bố, nhưng một lát nữa đây khi về đến nhà tôi sẽ phải báo tin cho các con tôi là công an Việt Nam đã giữ bố. Chắc Khoa, Trí sẽ buồn nhưng các cháu sẽ hiểu. Và nếu các cháu chia sẻ được những khó khăn với bố mẹ trong lúc này, các cháu cũng biết được những giá trị về trách nhiệm của bố mẹ đối với quê hương, đối với cội nguồn của mình.

Ngô Mai Hương

Reader's Comment
5/11/201215:14:56
Guest
Xin được ngỏ lời cảm phục cả hai vợ chồng, những người đã sống, và chấp nhận hy sinh cho lý tưởng của mình.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.