Hôm nay,  

Biểu tình nhìn từ sân trường Đại học Berkeley

12/12/201100:00:00(Xem: 11542)
Biểu tình nhìn từ sân trường Đại học Berkeley

buivanphu_20111210_bieutinh_h01_occupycal-large-contentSinh viên bãi khoá, biểu tình chống tăng học phí tại Sproul Plaza, Đại học Berkeley ngày 15-11-2011. (ảnh Bùi Văn Phú)













buivanphu_20111210_bieutinh_h02_rallyboatpeople-large-contentBiểu tình kêu gọi thế giới cứu giúp thuyền nhân vượt biển tại Sproul Plaza, Đại học Berkeley tháng 11-1979. (ảnh Bùi Văn Phú)









buivanphu_20111210_bieutinh_h03_thungo-large-contentThư ngỏ của 100 trí thức Mỹ gửi Hà Nội yêu cầu thả tù cải tạo và tôn trọng nhân quyền đăng trên các nhật báo lớn như New York Times, Los Angeles Times, San Francisco Chronicle ngày 30-5-1979. (ảnh Bùi Văn Phú)












buivanphu_20111210_bieutinh_h04_tranhtuong-large-contentTranh tường ở góc đường Haste và Telegraph ghi lại hình ảnh tranh đấu của sinh viên Đại học Berkeley trong thập niên 1960 và 70. (ảnh Bùi Văn Phú)


Bùi Văn Phú

Nhắc đến Berkeley nhiều người thường biết đây là một thành phố đại học, ở đó có trường U.C. Berkeley thành lập năm 1868 nổi tiếng với những khám phá của các giáo sư đoạt giải Nobel trong ban giảng huấn, nhiều nhất về khoa học tự nhiên từ thập niên 1960, sau còn thêm những giải Nobel về văn chương và kinh tế.
Dấu ấn của đại học này còn là cao trào sinh viên tranh đấu vì là nôi sinh của phong trào đòi tự do phát biểu quan điểm chính trị trong khuôn viên trường – Free Speech Movement (FSM). Theo sau là phong trào chống chiến tranh Việt Nam đã để lại những kí ức tương phản trong tâm thức người Mỹ cũng như người Việt.
Ngày mới từ trại tị nạn đến Berkeley định cư, nghe một người Mỹ nói ở đây có “Hồ Chí Minh Park” làm tôi tự hỏi Hoa Kỳ với cộng sản Bắc Việt đánh nhau như thế sao lại có một công viên vinh danh lãnh tụ Việt Nam trên đất nước này.
Hai tiếng “Việt Nam” được người Mỹ biết đến là qua cuộc chiến, sâu đậm nhất kể từ 1965 trở về sau. Trước đó, cuối thập niên 1950 Việt Nam còn xa lạ lắm. Tôi nhớ đọc được trong một tạp chí, khi nhắc đến “Vietnamese” có người Mỹ tưởng là người “Viennese” bên trời Âu.
Trong thế giới đối đầu lưỡng cực của cuộc chiến tranh lạnh thời bấy giờ, dân chúng nói chung ủng hộ chủ trương của Tổng thống John F. Kennedy tại Đông nam Á qua việc gửi cố vấn quân sự sang giúp chính quyền và quốc gia Việt Nam Cộng hoà mới được thành hình.
Tháng 3-1962, trong diễn văn tại lễ kỉ niệm 94 năm thành lập Đại học Berkeley, Tổng thống Kennedy nhấn mạnh: “Thế giới đang vươn lên này không hợp với trật tự thế giới cộng sản”. Ông nhắc đến những trí thức tốt nghiệp từ Đại học Berkeley giữ chức vụ quan trọng trong nội các đang góp phần vào việc hình thành chính sách của Hoa Kỳ: Bộ trưởng Quốc phòng (Robert McNamara), Ngoại giao (Dean Rusk), Chủ tịch Ủy ban Năng lượng Nguyên tử (Glenn Seaborg), Giám đốc CIA (John McCone).
Chủ trương của Mỹ trong thập niên 1960 là ngăn chặn làn sóng cộng sản. Nam Việt Nam được coi như tuyến đầu ở Đông nam Á để chắn giữ Trung Hoa đỏ. Tây Âu là tiền đồn phòng thủ ngăn chặn Liên Xô ở châu Âu.
Lịch sử cận đại cho thấy Hoa Kỳ thành công ở Đông Âu, nhưng thất bại ở Đông Á. Đầu thập niên 1990 cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara đã thừa nhận cuộc chiến Việt Nam là một “sai lầm khủng khiếp”.
Trong những năm đầu của quan hệ Mỹ và Việt Nam Cộng hoà đã có đại diện miền Nam đến diễn thuyết ở Đại học Berkeley. Mùa hè 1963 bà Ngô Đình Nhu đến để giải thích chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đang bị dư luận và truyền thông Mỹ tố cáo đàn áp tôn giáo. Trong khi giáo sư Robert Scalapino, chủ nhiệm khoa chính trị học, giới thiệu Madame Nhu với sinh viên trong thao trường, bên ngoài có biểu tình phản đối và sinh viên đã xung đột với cảnh sát sau buổi nói chuyện.
Khi đó tại miền Nam phong trào sinh viên chống chính phủ cũng bùng lên tại các đại học từ Sài Gòn ra Huế. Theo năm tháng và tùy vào tình hình chính trị, sinh viên có những mục tiêu khác nhau: chống độc tài, quân phiệt; đòi tự trị đại học, tự do báo chí, chấm dứt chiến tranh, cải thiện chế độ lao tù; đòi quyền dân tộc tự quyết, thống nhất đất nước; chống tham nhũng v.v… Sinh viên kéo nhau từ trường văn khoa, nông lâm súc qua Dinh Thủ tướng, đến Hạ viện; từ trường luật kéo đến công trường Quách Thị Trang tức bùng binh Bến Thành, từ sân cỏ trước Bộ Tổng tham mưu qua Công trường Dân Chủ, từ nhà thờ Tân Sa Châu lên Đại học Vạn Hạnh.
Sinh viên miền Nam đã đi tiên phong ở Đông Á trong việc phát động biểu tình, kêu gọi xuống đường chống chính phủ.
Sau nhiều năm hoạt động bên ngoài khuôn viên đại học, FSM do Mario Savio lãnh đạo chính thức được phát động từ sân trường Đại học Berkeley vào mùa thu 1964 bằng tranh đấu quyết liệt qua nhiều cuộc biểu tình, bãi khoá và chiếm đóng Sproul Plaza. Ban quản trị đại học đã phải thay đổi chính sách để sinh viên cũng như giáo sư được tự do phát biểu quan điểm mà không sợ bị đuổi học hay mất chức. Phim tài liệu “Berkeley in the 60s” (Mark Kitchell, 1990) ghi lại đầy đủ những hoạt động của phong trào sinh viên tranh đấu ở Berkeley từ 1964 đến 74.
Sự thành công của FSM kéo theo phong trào chống chiến tranh Việt Nam. Thời gian đó sinh viên thường xuyên biểu tình, đem cờ xanh đỏ của Mặt trận Giải phóng miền Nam xuống đường phản đối sự can dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đòi rút quân, chấm dứt chiến tranh, trả lại quyền định đoạt tương lai chính trị cho dân Việt.

Nơi tụ họp trước khi xuống đường là mảnh đất ở góc đường Hillegass và Derby được thành phố Berkeley qui hoạch làm công viên từ năm 1971. Theo cổng thông tin của thành phố, khi cuộc chiến ở Việt Nam lên cao độ và làn sóng phản chiến lan rộng, những nhà hoạt động cộng đồng gọi nơi này là “Hồ Chí Minh Park”.
Thời đó, một thủ lãnh sinh viên Sài Gòn là Đoàn Văn Toại đã đến Berkeley diễn thuyết về phong trào đấu tranh của sinh viên miền Nam với những mục đích không khác với sinh viên Mỹ. Năm 1980 có dịp gặp anh ở Đại học Berkeley và được nghe kể rằng khi đi diễn thuyết, đến nhà trọ sinh viên thấy treo hình ông Hồ Chí Minh, cờ Mặt trận mới biết ông Hồ được coi trọng và sinh viên có nhiều cảm tình với Mặt trận.
Sau khi Hoa Kỳ rút hết quân vào năm 1973 và với chiến thắng của miền Bắc Việt Nam vào năm 1975, sân trường không còn biểu tình chống chiến tranh nữa.
Nhưng cảm tình dành cho Hà Nội và Mặt trận sau ngày 30-4-1975 dần bị phai mờ vì những nhà tù cải tạo và đàn áp được nhiều nhân chứng kể lại, như Đoàn Văn Toại với tác phẩm Vietnamese Gulag. Nhiều trí thức không còn ủng hộ Hà Nội. Tháng 5-1979, cả trăm người đã kí tên vào một thư ngỏ do ca sĩ Joan Baez khởi xướng đăng trên các báo lớn ở Mỹ kêu gọi Hà Nội thả tù cải tạo, chấm dứt đàn áp trí thức, văn nghệ sĩ.
Sân trường thỉnh thoảng vẫn có sinh hoạt liên quan đến Việt Nam như chiếu phim “Chiến thắng năm Mão”, “79 mùa xuân của Bác Hồ”, “Hearts and Minds” (Peter Davis, 1974), “Vietnam: an American Journey” (Robert Richter, 1979) hay diễn thuyết của Don Luce, John Spragen - người đã dịch tác phẩm Đại thắng mùa Xuân của Tướng Văn Tiến Dũng sang Anh ngữ - sau những chuyến đi Việt Nam; của Joan Baez về nhân quyền và người tị nạn Đông Dương, của các giáo sư Hoàng Tụy, Nguyễn Văn Hiệu đến từ Việt Nam nói về toán học và khoa học. Các buổi chiếu phim Việt bị người tị nạn phá nên phải ngừng. Các diễn giả thường bị chất vấn về tình trạng nhân quyền và những đàn áp ở Việt Nam.
Đầu năm 1979 Hội Sinh viên Việt Nam (VSA) tại Đại học Berkeley chính thức ra đời nên khuôn viên trường có nhiều sinh hoạt văn hoá, xã hội, thể thao, hội thảo nhân quyền.
Cùng năm 1979 thành phố Berkeley bầu chọn thị trưởng mới là Eugene Gus Newport, một người cực tả - được cư dân Berkeley cho là rất tiến bộ - và đã chọn ngày May Day 1-5 để nhận chức. Trong thời gian lãnh đạo thành phố ông đi thăm Cuba dù Hoa Kỳ cấm vận. Dịp kỉ niệm 5 năm chiến thắng của Bắc Việt ông gửi thư chúc mừng đến Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Nhưng với hình ảnh Việt Nam hậu chiến ngày càng xấu đi về nhân quyền, thiếu tự do nên cảm tình cư dân cũng giảm đi nhiều. Tháng 5-1982, nơi đã xuất phát biểu tình chống chiến tranh được đặt tên nhưng những nhà hoạt động không thể giữ tên “Hồ Chí Minh Park” như họ thường gọi trước đó. Thành phố chính thức đặt tên cho công viên này là “Willard Park” để vinh danh Frances Willard (1839-1898) một nhà giáo dục và là người tranh đấu cho quyền bầu cử của phụ nữ Mỹ.
Cũng cần nói thêm, ở Berkeley có một công viên khác mang tên Peoples Park mà có người lầm tưởng là “Hồ Chí Minh Park” vì gần công viên này, nơi góc đường Haste và Telegraph có tranh tường vẽ lại hoạt động của FSM, của phong trào phản chiến với cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam trên đó.
Peoples Park – Công viên Nhân dân - nằm gần đại học hơn, rất nổi tiếng vì nhà trường nhiều lần muốn dùng làm nơi đậu xe hay xây kí túc xá nhưng luôn gặp sự phản đối rất mạnh của những nhà hoạt động cộng đồng. Nơi đây xảy ra nhiều xung đột giữa dân với cảnh sát và vệ binh quốc gia từ thập niên 1960 kéo dài đến 1990.
Công viên này đúng là biểu hiệu sức mạnh của cư dân Berkeley, thành phố đã từng được gọi là “People”s Repbulic of Berkeley” - Cộng hoà Nhân dân Berkeley.
Gọi vui thế thôi. Berkeley tuy theo khuynh hướng cực tả nhưng không cộng sản chút nào vì cộng sản thì làm gì có biểu tình hay tự do phát biểu. Mọi chính quyền Mỹ đều bị chống đối nơi sân trường Berkeley vì quan điểm chung ở đây là không muốn Hoa Kỳ trở thành sen đầm thế giới. Nhưng cũng ở đó bạn sẽ thấy bàn sinh hoạt của sinh viên theo đảng Dân chủ lẫn Cộng hoà, của Iran và Iraq, thấy Do Thái bên cạnh Palestines.
Ở đây chủ nghĩa Marx chẳng hấp dẫn được nhiều người. Đầu tháng trước có hội thảo quốc tế về Marx trong Evans Hall, thu hút hơn 50 người. Vài tuần trước ngoài Sproul Plaza có biểu tình chống tăng học phí, chống cắt giảm ngân sách giáo dục, thu thuế bất công. Buổi tối chia nhóm thảo luận chỉ 10 người theo nhóm xã hội chủ nghĩa International Socialist Organization. Còn lại vài trăm theo “Occupy Cal”.
Thời còn đi học, một sinh viên ban tiến sĩ mới từ Trung Quốc qua du học thấy biểu tình nơi thường có nơi sân trường, anh nói với tôi biểu tình nhiều thế là loạn mất. Tôi bảo không loạn đâu vì đó là phản ánh của một nước Mỹ tự do.
Gần đây lãnh đạo trong nước và các nhà ngoại giao Việt Nam nói muốn nâng quan hệ với Hoa Kỳ lên tầm chiến lược. Với vị trí địa lý của Việt Nam, khi nào người dân Việt được tự do biểu tình, phát biểu chính kiến, lựa chọn lãnh đạo khi đó quan hệ với Hoa Kỳ sẽ ở tầm chiến lược.
Cứ nhìn vào quan hệ của Hoa Kỳ và các nước láng giềng với Việt Nam, trừ Trung Quốc, là biết.
© 2011 Buivanphu.wordpress.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.