Hôm nay,  

Ông Phan Diễn Đã Đồng Y Với Tiến Sỹ Nguyễn Thanh Giang

09/11/201100:00:00(Xem: 8228)

Ông Phan Diễn Đã Đồng Y Với Tiến Sỹ Nguyễn Thanh Giang

CCB Ngọc Thế Phương

Dưới đây là trích đoạn bài viết Ông Phan Diễn, Nguyên thường trực Ban Bí Thư Đảng: Nhận thức của tôi về vị trí của kinh tế Nhà nước đã khác!” của tác giả Hoàng Phương Loan đăng trên nhiều trang web:

“Theo Tuần Việt Nam, bàn về đổi mới tư duy để có thể tái cấu trúc nền kinh tế, nguyên Thường trực Ban Bí thư Phan Diễn cho hay, nhận thức của chính ông về kinh tế nhà nước đã khác so với hơn 1 năm trước.

Ông cho hay, đầu năm 2010, thảo luận về vị trí của kinh tế Nhà nước, ông cho rằng, nói kinh tế nhà nước là chủ đạo vẫn đúng. Bởi lẽ chúng ta cần một lực lượng trong tay nhà nước, giúp nhà nước thực hiện các ý đồ, định hướng nền kinh tế, làm những việc mà các thành phần kinh tế khác không làm được.

Thế nhưng, qua những chuyến đi khảo sát ở các nước, "nhận thức của tôi (Phan Diễn - pv) về vị trí của kinh tế Nhà nước đã khác".

"Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế rất quan trọng nhưng kinh tế Nhà nước thì chưa chắc", nguyên Thường trực Ban Bí thư nói.

Hàn Quốc là bài học thực tế tạo nên bước chuyển nhận thức ấy.

Đánh giá cao vài trò của Chính phủ trong việc định hướng phát triển kinh tế, đề ra nhiều chủ trương, chính sách, nhưng Hàn Quốc thực hiện được những ý định không phải dựa vào lực lượng kinh tế quốc doanh mà chính là vào lực lượng tư nhân.

Ngay cả tư nhân, nhà nước cũng không quá o bế đối với lĩnh vực cần ưu đãi, và cũng không nên nuông chiều, ưu đãi quá lâu. Hàn Quốc đã từng trả giá khi o bế các cheabol.

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng "Gốc gác của vấn đề là nhiều tư duy không ổn mà ta ít nhắc tới.

Tư duy của vị trí nhà nước trong nền kinh tế thị trường của ta còn khác nhau và chưa rõ, kể cả nhà nước trung ương và nhà nước địa phương. Ở các nước, chính quyền chủ yếu lo quản lý hành chính nhà nước, không ai đi làm kinh tế cả.

Thực tế, nền kinh tế VN đang phải trả giá cho những bất cập trong phân vai giữa nhà nước và tư nhân trong kinh tế.

Theo Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp, khu vực này hiện đang sở hữu 70% tổng tài sản cố định của nền kinh tế, chi phối 20% vốn đầu tư của toàn xã hội, 60% tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại, 50% vốn đầu tư nhà nước và 70% nguồn vốn ODA.

Được bảo hộ lớn và ưu đãi nhiều, thế nhưng, khu vực này chỉ tạo ra 25% doanh thu, 37% lợi nhuận trước thuế và 20% giá trị sản xuất công nghiệp”.

* Cách đây 15 năm, trong bài “Thế nào là định hướng đúng” ghi ngày 1 tháng 5 năm 1996, tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang đã viết:

“Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang là các bầu sữa tong teo của của nhân dân bị vắt ra đau đớn để nuôi béo một bọn người vừa bất tài, vừa vô trách nhiệm, vừa phi nhân bản.

Vậy mà, sao Văn kiện Đại hội Đảng vẫn chỉ thị phải "tập trung các nguồn lực để phát triển kinh tế nhà nước" và gán ghép cho nó cái chỉ tiêu chiếm tỷ trọng 60% GDP"

Liệu có làm thế nào trong dăm năm tới đạt được chỉ tiêu đó không" Hay là, nó chỉ đạt được tỷ trọng đó khi GDP phải teo lại"

Liệu có ai thích cái cơ chế đó chỉ vì còn muốn lợi dụng nó để biến một số phần tử trong "giai cấp mình" thành những tên tư bản đỏ - những tên tư bản được đề bạt, được chỉ định, được bao cấp, được bảo vệ bằng chuyên chính vô sản" Chính những tên này không chỉ bóc lột dã man hơn mà còn đục ruỗng nền kinh tế tàn tệ hơn bất cứ loại tư sản nào!

Phải chăng chính vì vậy mà người ta ngụy tạo ra đủ thứ: kinh tế dân sự, kinh tế đoàn thể, kinh tế đảng, kinh tế lực lượng vũ trang... nhằm khuấy đục cả xã hội lên để nuôi béo những con cò"”

* Bốn năm sau, trong bài “Về vấn đề vai trò của doanh nghiệp nhà nước” ghi ngày 20 tháng 4 năm 2000, ông lại phân tích chi tiết thêm:

“Toàn bộ số DNNN hiện sử dụng 80% lượng vốn xã hộị. Hầu hết các khoản viện trợ phát triển, giải ngân qua các bộ, đều được phân bổ cho các DNNN do trung ương quản lý. Tuy nhiên, một tỷ lệ lớn các DNNN có quy mô lớn và trung bình đến nay vẫn tiếp tục làm ăn thua lỗ. Ngay cả trước khi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng khu vực tác động đến Việt Nam, ước tính chỉ không đầy 40% số DNNN làm ăn có lãị. Hai trăm doanh nghiệp lớn nhất được ưu tiên chiếm dụng tới 60% tổng số vốn nhà nước thì cũng đồng thời “ưu tiên” gánh 40% tổng số nợ. Dùng phương pháp phân loại qua tỷ số giữa lợi nhuận và nợ thì các doanh nghiệp loại “yếu kém nhất” đang ôm món nợ 20 nghìn tỷ đồng, đối với các doanh nghiệp loại ”hoạt động không hiệu quả” con số nghiệt ngã đó là 43 nghìn tỷ đồng, tính đến cuối năm 1997. Nhóm các DNNN “yếu kém nhất”, trong quá trình kinh doanh và phát triển đã tạo ra được cho mình số nợ trung bình cao gấp hai lần giá trị vốn nhà nước đã chu cấp. Trong đó, 50 doanh nghiệp đặc biệt có số nợ cao gấp nhiều lần giá trị vốn nhà nước. Do hầu hết các doanh nghiệp đều bị thua lỗ triền miên nên khả năng trả được nợ hết sức mờ mịt, nếu không muốn nói trắng ra là: không thể có!

Món nợ do các DNNN tạo ra khủng khiếp đến nỗi làm cho báo cáo của Chính phủ trước kỳ họp thứ sáu của Quốc hội phải nghẹn ngào thốt lên: “Không thể tiếp tục dùng ngân sách nhà nước, tiền đóng thuế của dân để nuôi dưỡng các DNNN đã trở thành gánh nặng của nền kinh tế!”. Cách đây dăm năm, trong một bản góp ý vào Báo cáo Chính trị của Ðại hội VIII, tôi không nén nổi lòng mình, cũng đã từng thẳng thắn cảnh báo: “Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang là các bầu sữa tong teo của nhân dân bị vắt ra đau đớn để nuôi béo một bọn người vừa bất tài, vừa vô trách nhiệm, vừa phi nhân bản”.

Lẽ ra tôi phải viết “hầu hết DNNN”, nhưng lúc ấy lòng dũng cảm của tôi chỉ dừng ở mức dám dùng một tính từ chỉ số lượng hoàn toàn bất định: “nhiều”. Bây giờ thì bên cạnh câu ấy, tôi còn muốn minh hoạ thêm bằng một biếm hoạ chua xót mà ở giữa là một cái bồ sứt cạp thủng đáy; phía trên là mồ hôi, nước mắt, xương máu nhân dân đang được mạnh tay đổ vào; phía dưới, ngoác ra hàng loạt cái mồm khốn nạn chen nhau nhồm nhoàm nhai nuốt.

Cũng như chủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trước đây, chủ trương ưu tiên củng cố, xây dựng các doanh nghiệp nhà nước hiện nay đang tạo ra nhiều nghịch lý, nhiều phản giá trị cả trong kinh tế lẫn xã hội.

Thật vậy, DNNN không chỉ là những cái bồ thủng đáy để người ta rót của cải, tiền bạc của nhân dân, của nhà nước vào những cái mồm tham nhũng đủ mọi cấp, đủ mọi loại, mà còn là những cái bồ sứt cạp để người ta đổ tung toé một cách vô tội vạ những khoản “tiền chùa” to lớn, tạo nên tình trạng lãng phí rất đau lòng. Con số nợ tổng cộng của các DNNN năm 1999 là 200.000 tỷ đồng chắc còn nhỏ hơn nhiều so với các khoản lãng phí gây ra từ cái cớ xây dựng sự nghiệp vai trò chủ đạo cho DNNN.

Giải thích thế nào về tình trạng đất nước thì nhỏ, giao thương quốc tế chưa phát triển mấy mà phải quy hoạch xây dựng tới 114 cảng lớn" Chỉ riêng từ Sài Gòn đến Cần Giờ có mấy km đường sông thôi mà bầy ra đến 20 cảng! Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế) đến Quảng Ngãi, cách nhau chưa đầy 150 km mà nào Chân Mây, Tiên Sa, Dung Quất. Lại còn đang tính thêm Kỳ Hà! Lại toan cái nào cũng cần vươn lên tầm quốc tế!

Trên cái chấm nhỏ tý ty ở bản đồ, trong phạm vi 10 km2 của huyện Kiên Lương- Hà Tiên người ta đếm được 4 nhà máy xi-măng. Tiềm năng đá vôi Hà Tiên không lớn lắm. Riêng đối với Nhà máy Xi- măng Hà Tiên 2 thôi, đá vôi ở đây cũng chỉ đủ cung cấp trong vòng 30 năm nữạ Trước mắt, do có tới 4 nhà máy nên xi-măng sản xuất ra ế ẩm vì cung đã vượt cầu nhiều lần.

Việc xây dựng tràn lan nhà máy xi-măng lò đứng rất lạc hậu của Trung Quốc đang và sẽ còn để lại không biết bao nhiêu hậu quả khôn lường về nợ tài chính và tác hại ô nhiễm môi trường! Nguồn nguyên liệu đá vôi trong nước, đặc biệt là ở miền Bắc, khá đồi dào, nhưng người ta lại đi nhập quá nhiều clanh-ke về nghiền thành xi-măng, trong khi các loại xi- măng sản xuất bằng nguyên liệu trong nước đang bị ứ đọng!

“Sự nghiệp bách hoa tề phóng” của hàng loạt nhà máy đường ở các tỉnh cũng gây nên tấn bi hài kịch khóc dở mếu dở. Có nhà máy xây xong mà không ra đời được. Có nhà máy chỉ sống thoi thóp một thời gian rất ngắn. Nông dân nhiều nơi được tuyên truyền, khích lệ để hôm trước phá rừng trồng mía, hôm sau chặt mía bỏ thối ngoài đồng. Tổng số vốn đầu tư cho 44 nhà máy đường lên tới gần 10.000 tỷ đồng. Trong đó, già hai phần ba vay của nước ngoàị Niên vụ 1998-1999, 41 nhà máy đường trong cả nước chỉ chạy 64% công suất thiết kế đã sản xuất được 552.500 tấn đường. Niên vụ 1999-2000, cả 44 nhà máy vào cuộc, với tổng công suất 78 200 tấn mía cây sẽ có nguy cơ sản xuất 950.000 tấn đường. Như vậy sẽ có ít nhất 200.000 tấn đường dư thừạ Trong nước tiêu dùng không hết thì xuất khẩụ Vậy là tốt quá rồi còn gì! Khốn nỗi, giá thành sản phẩm của các DNNN của ta hầu như bao giờ cũng rất cao, cho nên, nếu đem xuất khẩu hết lượng đường dư thừa ấy thì nhà nước phải bù lỗ 20 - 50 triệu ! Dẫn chứng này nhỏ nhưng biểu hiện khá sinh động tính “ưu việt” và tính vô chính phủ của DNNN.

......Cần xác định lại thế nào là vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước" Ðâu phải muốn đóng được vai trò chủ đạo thì phải và chỉ cần chiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông đồng thời chi phối cưỡng bức các thành phần kinh tế khác thông qua việc tăng cường quyền lực tài chính và chính trị.

Muốn đóng vai trò chủ đạo, muốn chỉ đạo được, muốn chi phối được về thực chất thì không thể lạm dụng mệnh lệnh hành chính mà phải thông qua sự thuyết phục bởi tính hiệu quả. Hiệu quả của các hoạt động sản xuất và kinh doanh của các thành phần kinh tế nhà nước phải đủ sức cạnh tranh và cạnh tranh thắng cuộc đối với các thành phần kinh tế khác. Chừng nào kinh tế nhà nước tạo ra những hiệu quả cao hơn các thành phần kinh tế khác, thì khi đó nó mới chi phối được nền kinh tế quốc gia và mới xứng đáng vai trò chủ đạọ”

* Tháng 3 năm 2008, khi phân tích nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam, tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang lại viết:

“Nét đặc sắc của nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam là do Nhà nước đã đổ những khoản đầu tư bất hợp lý vào các tập đoàn kinh tế, xí nghiệp quốc doanh khổng lồ đến mức bại hoại cả nền kinh tế.

Kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng tỏ rõ nhiều ưu thế vượt trội. Trong năm 2005 tỷ lệ vốn / lao động của các doanh nghiệp nhà nước cao gấp 3 lần so với các doanh nghiệp dân doanh, nhưng doanh số trung bình do một công nhân tạo ra ở DNNN lại chỉ đạt cỡ 44% so với khu vưc dân doanh. Tỷ trọng sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước liên tục sụt giảm so với khu vực dân doanh và FDI.. Khu vực nhà nước hầu như không tạo thêm được việc làm mới. Bên cạnh dó, trừ một số ngoại lệ, các DNNN hầu như không xuất khẩu các sản phẩm chế tạo. Đến nay, kinh tế ngoài quốc doanh đang tạo ra 90% việc làm trong khu vực công nghiệp và gần 70% sản lượng công nghiệp.

Vậy mà, tài sản nhà nước của nhân dân vẫn cứ được đổ vô tội vạ vào các DNNN kém hiệu năng để không chỉ gây nên những khoản nợ không trả được đến hàng trăm nghìn tỷ đồng mà còn tạo điều kiện để họ chi thả cửa, rất hào phóng cho những dự án nhảm nhí. Nhờ tham nhũng bôi trơn, hàng loạt dự án hoành tráng được rầm rộ thông qua từ xã lên huyện, qua tỉnh đến trung ương ngay cả khi chưa đủ hồ sơ kỹ thuật. Nói chung có lập hội đồng chuẩn định đấy, nhưng tất cả đều được phù phép thành các hội đồng chuột”.

* Ngày 15 tháng 11 năm 2009, nhân bàn về vụ Vinashin, trong bài “Doanh nghiệp nhà nước - đại họa”, thêm một lần nữa ông lại nói rõ nguồn cơn: 

“Nguồn gốc tội lỗi không phải chỉ ở chỗ tổng giám đốc Phạm Thanh Bình đã lạm dụng quyền chức, không phải chỉ ở chỗ thủ tường Nguyễn Tấn Dũng thấy Tập đoàn làm ăn thua lỗ mà vẫn ra sức đổ của vào mà là do đường lối chủ trương của Đảng: Sống chết cũng phải “ Định hướng XHCN ”, đói khổ kiệt quệ cũng phải cho kinh tế quốc doanh làm chủ đạo!”.

*

Vậy là sau 15 năm gian nan thuyết phục một cách rất kiên trì, ngày nay những ý kiến sáng suốt, đầy tâm huyết của tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang mới được một số cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng như nguyên “Phó TBT” Phan Diễn công khai biểu đồng tình.

Không biết rồi đây lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ có công khai thừa nhận sai lầm khi đã đối xử quá tệ hại với ông (gần chục lần bắt bớ tra vấn, gần chục lần khám nhà, đưa ra phường đấu tố, bỏ tù ) và bồi thường danh dự thỏa đáng cho những người hết sức đáng nể trọng như tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang.

Hà Nội 6 tháng 11 năm 2011

CCB Ngọc Thế Phương

Mobi: 0986 051 950

Số nhà 5 hẻm 162/130/24 phố Khương Trung - quận Thanh Xuân

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.