Hôm nay,  

Tsunami - Những cơn sóng ma

19/03/201100:00:00(Xem: 7743)

Tsunami - Những cơn sóng ma

Đinh Yên Thảo

Trận động đất 8.9 độ Richter chỉ khoảng 2 phút ngắn ngủi , kéo theo cơn sóng thần (tsunami) với trên trăm vụ hậu chấn có cường độ từ 5 đến 7 Richter, đã tạo ra một sự tàn phá to lớn tại Nhật hồi cuối tuần qua. Không kể những hậu quả khủng khiếp tại ngay cảng Sendai, sự ảnh hưởng lan rộng trên chiều dài hàng ngàn cây số và làm cả triệu gia đình Nhật lâm vào trình trạng mất điện nước, cũng như đưa Hoa Kỳ cùng 50 quốc gia khác vào tình trạng báo động ngay sau vụ động đất và sóng thần. Bài viết tổng hợp đôi nét về sóng thần theo góc cạnh khoa học, dựa vào các tài liệu từ Trung tâm Cảnh Báo về Sóng thần vùng Thái Bình Dương (Pacific Tsunami Warning Center-PTWC) và Nha Khảo Sát Địa Chất Hoa Kỳ (US Geological Survey-USGS).

1. Sóng thần là gì "

Hiện tượng mà chúng ta gọi là Sóng thần (Tsunami) là hiện tượng xuất hiện hàng loạt cơn sóng lớn có bước sóng và chu kỳ cực dài, hình thành bởi sự trượt sụt của các lớp địa tầng đại dương hay các cơn địa chấn và hoả sơn dưới lòng đại dương hoặc gần bờ biển gây nên. Khi sự dịch chuyển bất ngờ một khối lượng lớn nước biển, hoặc nếu lớp địa tầng đại dương bị trồi lên hay sụt xuống do địa chấn, các cơn lớn sóng thần sẽ được sinh ra từ trọng lực. Các cơn sóng lớn này di chuyển khỏi khu phát sinh và trở nên đặc biệt nguy hiểm và dữ dội khi đập vào bờ biển. Với con sóng chiều cao từ hàng chục đến hàng trăm mét lao vào đất liền với vận tốc rất cao, tạo nên sức công phá khủng khiếp, gây nên thiệt hại hay tử vong cho các khu vực bị đập vào trực tiếp . 

Đây là một hiện tượng mang tính chất vật lý học, khác với các hiện tượng thuỷ triều xảy ra từ ảnh hưởng của các chuyển động trong thái dương hệ. Bước sóng, chu kỳ, vận tốc hay năng lượng (sức tàn phá) ... của mỗi cơn sóng thần phụ thuộc vào tính chất cơ lý của hiện tượng phát sinh. Động đất càng mạnh thì sóng thần càng dài, chu kỳ lớn hơn. Biển càng sâu thì sóng thần càng di chuyển tốc độ nhanh và đi xa hơn, mà không mất bớt năng lượng (sức công phá) trên đường đi bao nhiêu.

2. Động đất tạo sóng thần như thế nào "

Cho đến naỵ hầu hết các cơn sóng thần nguy hiểm, có sức tàn phá khủng khiếp như tại Nhật vừa qua đều hình thành từ các cơn động đất có cường độ mạnh. Khi hai khối địa tầng di chuyển và tạo ra một sự trồi sụt , mở ra một vết nứt từ vài cây số đến hàng ngàn cây số. Chính từ sự sụt lở bất ngờ này đã đẩy hàng tỉ khối nước biển dâng cao và hạ xuống theo trọng lực như đã nói bên trên và bắt đầu lan ra mọi phía với một vận tốc lớn và hình thành nên sóng thần. Những cơn sóng thần này có thể di chuyển bằng vận tốc máy bay (có thể đến 800 cây số/giờ) và đi xa hàng ngàn cây số . Đó là lý do cơn sóng thần tại Nhật lần này do động đất với cường độ hơn 8.9 Richter đã không chỉ tàn phá cảng Sendai của Nhật, mà gây ảnh hưởng sang đến tận Hawaii và bờ Tây duyên hải nước Mỹ. Trận Sumatra hồi năm 2004 ảnh hưởng cả Châu Á và lan cả qua Somali nằm tại Đông Phi. Hay năm 1960, cơn sóng thần tại Chile do động đất chỉ với 8.3 Richter cũng đã di chuyển đến cả Hawaii, Nhật bản và một số nước khu vực Thái Bình Dương. Thông thường, khi một cơn động đất với cường độ trên 7.5 độ Richter xảy ra có thể gây ra sóng thần nguy hiểm. Những hiện tượng hoả sơn ngầm hay đất chùi, đá lở , dù ít hơn, đều có thể gây nên sóng thần với nguyên tắc chung tương tự như trên, cũng gây nên sự dịch chuyển bất ngờ các khối nước biển và tạo nên sóng thần. Tuy nhiên cơn sóng thần lớn nhất được ghi nhận lại chính do hiện tượng đá lở xảy ra năm 1958 tại Vịnh Lituya, Alaska . Ảnh hưởng bởi những cơn hậu chấn, khoảng 40 triệu mét khối đá bị sụt lở , đổ ào xuống đầu vịnh và tạo nên cơn sóng thần khủng khiếp khi nước đập vào bờ phía kia vùng vịnh, với cơn sóng thần có chiều cao khoảng 520 mét đập vào với vận tốc 160 cây số giờ.

3.. Khi nào và bao lâu lại xảy ra sóng thần"

Sóng thần là thảm hoạ có thể hình thành ở bất cứ đại dương nào, biển sâu bên trong hay các vùng sông nước lớn trên thế giới. Mỗi một khu vực có những chu kỳ và đặc tính riêng của từng cơn sóng thần lớn nhỏ khác nhau. Tuy nhiên hầu hết các cơn sóng thần lại xảy ra tại Thái Bình Dương và các vùng biển phụ cận với lý do là Thái Bình Dương bao phủ 1 phần 3 diện tích địa cầu và nằm trên "Vòng đai lửa" (Ring of fire), nằm ngoài khơi các vùng Kamchatka, Nhật bản, Kuril Islands, Alaska và Nam Mỹ, nơi chiếm đến 90% các vụ động đất.

Dù không thường xuyên xảy ra, nhưng những cơn sóng thần nguy hiểm cũng được hình thành từ Đại Tây Dương , Ấn Độ Dương và vùng Địa Trung Hải . Chỉ trong vòng hai thập niên vừa qua, đã có các cơn sóng thần lớn có thể nhắc đến như tại Nicaragua (1992), Indonesia (1992, 1994, 1996,2004), Nhật Bản (1993), Philippines (1994), Mexico (1995), Peru (1996, 2001), Papua-New Guinea (1998), Thổ Nhĩ Kỳ (1999), Vanuatu (1999) . Cơn sóng thần Indian Ocean tsunami hồi năm 2004 tại Indonesia bị coi là có mức sát hại khủng khiếp nhất, khi sự công phá tương đương với 23,000 quả bom nguyên tử đã thả xuống Hiroshima, theo tính toán của USGS. Cơn sóng thần này đã sát hại khoảng trên 230,000 người. Cơn sóng thần tại Nhật vừa qua thiệt hại nhân mạng ước tính ban đầu do Nhật đưa ra có thể hơn mức 10,000 người, nhưng nguy hiểm hơn là các nguy cơ rò rỉ các lò phóng xạ hạch tâm, có thể gây những ảnh hưởng to lớn cho hiện nay và lâu dài lên gấp bội.

4. Sóng thần, những cơn sóng ma

Về nguyên tắc, sóng thần rất khó được phát hiện dù với phương tiện và kỹ thuật cao, như các tai hoạ thiên nhiên khác. Ngay trên mặt biển, đôi khi các ngư dân cũng chẳng thể nào ngờ được có một cơn sóng thần đang di chuyển phía dưới mặt nước. Lý do là tại các biển sâu, sóng thần với với một biên độ thường chỉ khoảng 1 mét và đỉnh sóng lại cách nhau hàng trăm cây số , lại di chuyển quá nhanh nên không gây ra dấu hiệu nguy hiểm rõ ràng nào trên đường chúng đang di chuyển vào đất liền. Các trạm hải dương hay khí tượng học trên biển không phát hiện ra. Như cơn sóng thần Sanriku tại Nhật năm 1896, các ngư dân cách bờ biển khoảng 20 cây số không hề biết sự di chuyển của cơn sóng thần khủng khiếp đang đập vào bờ và gây ra cái chết cho khoảng 28 ngàn người.

Và cũng với lý do tương tự là biên độ thấp, chu kỳ dài, các cơn sóng thần cũng chẳng thể nào được phát hiện từ không trung hay các vệ tinh. Nhìn từ bầu trời thì các cơn sóng thần đang còn giữa biển không khác các con sóng thường bao nhiêu. Các trung tâm cảnh báo sóng thần hiện nay theo dõi, phân tích các dữ liệu thu thập từ các hiện tượng động đất hay sự chùi sụt lớp địa tầng đại dương, hoả sơn trong vùng để dự báo hay tiên đoán về các nguy cơ xảy ra sóng thần, hơn là phát hiện chính xác về sóng thần. Cho đến nay, khả năng con người vẫn chưa dự báo và ngăn chận hết các cơn cuồng nộ thiên nhiên.

Đinh Yên Thảo

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.