Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tsunami - Những cơn sóng ma

19/03/201100:00:00(Xem: 5790)

Tsunami - Những cơn sóng ma

Đinh Yên Thảo

Trận động đất 8.9 độ Richter chỉ khoảng 2 phút ngắn ngủi , kéo theo cơn sóng thần (tsunami) với trên trăm vụ hậu chấn có cường độ từ 5 đến 7 Richter, đã tạo ra một sự tàn phá to lớn tại Nhật hồi cuối tuần qua. Không kể những hậu quả khủng khiếp tại ngay cảng Sendai, sự ảnh hưởng lan rộng trên chiều dài hàng ngàn cây số và làm cả triệu gia đình Nhật lâm vào trình trạng mất điện nước, cũng như đưa Hoa Kỳ cùng 50 quốc gia khác vào tình trạng báo động ngay sau vụ động đất và sóng thần. Bài viết tổng hợp đôi nét về sóng thần theo góc cạnh khoa học, dựa vào các tài liệu từ Trung tâm Cảnh Báo về Sóng thần vùng Thái Bình Dương (Pacific Tsunami Warning Center-PTWC) và Nha Khảo Sát Địa Chất Hoa Kỳ (US Geological Survey-USGS).

1. Sóng thần là gì "

Hiện tượng mà chúng ta gọi là Sóng thần (Tsunami) là hiện tượng xuất hiện hàng loạt cơn sóng lớn có bước sóng và chu kỳ cực dài, hình thành bởi sự trượt sụt của các lớp địa tầng đại dương hay các cơn địa chấn và hoả sơn dưới lòng đại dương hoặc gần bờ biển gây nên. Khi sự dịch chuyển bất ngờ một khối lượng lớn nước biển, hoặc nếu lớp địa tầng đại dương bị trồi lên hay sụt xuống do địa chấn, các cơn lớn sóng thần sẽ được sinh ra từ trọng lực. Các cơn sóng lớn này di chuyển khỏi khu phát sinh và trở nên đặc biệt nguy hiểm và dữ dội khi đập vào bờ biển. Với con sóng chiều cao từ hàng chục đến hàng trăm mét lao vào đất liền với vận tốc rất cao, tạo nên sức công phá khủng khiếp, gây nên thiệt hại hay tử vong cho các khu vực bị đập vào trực tiếp . 

Đây là một hiện tượng mang tính chất vật lý học, khác với các hiện tượng thuỷ triều xảy ra từ ảnh hưởng của các chuyển động trong thái dương hệ. Bước sóng, chu kỳ, vận tốc hay năng lượng (sức tàn phá) ... của mỗi cơn sóng thần phụ thuộc vào tính chất cơ lý của hiện tượng phát sinh. Động đất càng mạnh thì sóng thần càng dài, chu kỳ lớn hơn. Biển càng sâu thì sóng thần càng di chuyển tốc độ nhanh và đi xa hơn, mà không mất bớt năng lượng (sức công phá) trên đường đi bao nhiêu.

2. Động đất tạo sóng thần như thế nào "

Cho đến naỵ hầu hết các cơn sóng thần nguy hiểm, có sức tàn phá khủng khiếp như tại Nhật vừa qua đều hình thành từ các cơn động đất có cường độ mạnh. Khi hai khối địa tầng di chuyển và tạo ra một sự trồi sụt , mở ra một vết nứt từ vài cây số đến hàng ngàn cây số. Chính từ sự sụt lở bất ngờ này đã đẩy hàng tỉ khối nước biển dâng cao và hạ xuống theo trọng lực như đã nói bên trên và bắt đầu lan ra mọi phía với một vận tốc lớn và hình thành nên sóng thần. Những cơn sóng thần này có thể di chuyển bằng vận tốc máy bay (có thể đến 800 cây số/giờ) và đi xa hàng ngàn cây số . Đó là lý do cơn sóng thần tại Nhật lần này do động đất với cường độ hơn 8.9 Richter đã không chỉ tàn phá cảng Sendai của Nhật, mà gây ảnh hưởng sang đến tận Hawaii và bờ Tây duyên hải nước Mỹ. Trận Sumatra hồi năm 2004 ảnh hưởng cả Châu Á và lan cả qua Somali nằm tại Đông Phi. Hay năm 1960, cơn sóng thần tại Chile do động đất chỉ với 8.3 Richter cũng đã di chuyển đến cả Hawaii, Nhật bản và một số nước khu vực Thái Bình Dương. Thông thường, khi một cơn động đất với cường độ trên 7.5 độ Richter xảy ra có thể gây ra sóng thần nguy hiểm. Những hiện tượng hoả sơn ngầm hay đất chùi, đá lở , dù ít hơn, đều có thể gây nên sóng thần với nguyên tắc chung tương tự như trên, cũng gây nên sự dịch chuyển bất ngờ các khối nước biển và tạo nên sóng thần. Tuy nhiên cơn sóng thần lớn nhất được ghi nhận lại chính do hiện tượng đá lở xảy ra năm 1958 tại Vịnh Lituya, Alaska . Ảnh hưởng bởi những cơn hậu chấn, khoảng 40 triệu mét khối đá bị sụt lở , đổ ào xuống đầu vịnh và tạo nên cơn sóng thần khủng khiếp khi nước đập vào bờ phía kia vùng vịnh, với cơn sóng thần có chiều cao khoảng 520 mét đập vào với vận tốc 160 cây số giờ.

3.. Khi nào và bao lâu lại xảy ra sóng thần"

Sóng thần là thảm hoạ có thể hình thành ở bất cứ đại dương nào, biển sâu bên trong hay các vùng sông nước lớn trên thế giới. Mỗi một khu vực có những chu kỳ và đặc tính riêng của từng cơn sóng thần lớn nhỏ khác nhau. Tuy nhiên hầu hết các cơn sóng thần lại xảy ra tại Thái Bình Dương và các vùng biển phụ cận với lý do là Thái Bình Dương bao phủ 1 phần 3 diện tích địa cầu và nằm trên "Vòng đai lửa" (Ring of fire), nằm ngoài khơi các vùng Kamchatka, Nhật bản, Kuril Islands, Alaska và Nam Mỹ, nơi chiếm đến 90% các vụ động đất.

Dù không thường xuyên xảy ra, nhưng những cơn sóng thần nguy hiểm cũng được hình thành từ Đại Tây Dương , Ấn Độ Dương và vùng Địa Trung Hải . Chỉ trong vòng hai thập niên vừa qua, đã có các cơn sóng thần lớn có thể nhắc đến như tại Nicaragua (1992), Indonesia (1992, 1994, 1996,2004), Nhật Bản (1993), Philippines (1994), Mexico (1995), Peru (1996, 2001), Papua-New Guinea (1998), Thổ Nhĩ Kỳ (1999), Vanuatu (1999) . Cơn sóng thần Indian Ocean tsunami hồi năm 2004 tại Indonesia bị coi là có mức sát hại khủng khiếp nhất, khi sự công phá tương đương với 23,000 quả bom nguyên tử đã thả xuống Hiroshima, theo tính toán của USGS. Cơn sóng thần này đã sát hại khoảng trên 230,000 người. Cơn sóng thần tại Nhật vừa qua thiệt hại nhân mạng ước tính ban đầu do Nhật đưa ra có thể hơn mức 10,000 người, nhưng nguy hiểm hơn là các nguy cơ rò rỉ các lò phóng xạ hạch tâm, có thể gây những ảnh hưởng to lớn cho hiện nay và lâu dài lên gấp bội.

4. Sóng thần, những cơn sóng ma

Về nguyên tắc, sóng thần rất khó được phát hiện dù với phương tiện và kỹ thuật cao, như các tai hoạ thiên nhiên khác. Ngay trên mặt biển, đôi khi các ngư dân cũng chẳng thể nào ngờ được có một cơn sóng thần đang di chuyển phía dưới mặt nước. Lý do là tại các biển sâu, sóng thần với với một biên độ thường chỉ khoảng 1 mét và đỉnh sóng lại cách nhau hàng trăm cây số , lại di chuyển quá nhanh nên không gây ra dấu hiệu nguy hiểm rõ ràng nào trên đường chúng đang di chuyển vào đất liền. Các trạm hải dương hay khí tượng học trên biển không phát hiện ra. Như cơn sóng thần Sanriku tại Nhật năm 1896, các ngư dân cách bờ biển khoảng 20 cây số không hề biết sự di chuyển của cơn sóng thần khủng khiếp đang đập vào bờ và gây ra cái chết cho khoảng 28 ngàn người.

Và cũng với lý do tương tự là biên độ thấp, chu kỳ dài, các cơn sóng thần cũng chẳng thể nào được phát hiện từ không trung hay các vệ tinh. Nhìn từ bầu trời thì các cơn sóng thần đang còn giữa biển không khác các con sóng thường bao nhiêu. Các trung tâm cảnh báo sóng thần hiện nay theo dõi, phân tích các dữ liệu thu thập từ các hiện tượng động đất hay sự chùi sụt lớp địa tầng đại dương, hoả sơn trong vùng để dự báo hay tiên đoán về các nguy cơ xảy ra sóng thần, hơn là phát hiện chính xác về sóng thần. Cho đến nay, khả năng con người vẫn chưa dự báo và ngăn chận hết các cơn cuồng nộ thiên nhiên.

Đinh Yên Thảo

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.