Hôm nay,  

Một Nội Các Đa Dạng Dưới Thời Obama?

24/11/200800:00:00(Xem: 10217)

Một Nội Các Đa Dạng Dưới Thời Obama"

Minh Thu
Hoa Kỳ là quốc gia đặc biệt khác với hầu hết các nước trên thế giới ở việc tổ chức cuộc bầu cử tổng thống khá sớm trước khi nhiệm kỳ chấm dứt. Các cuộc bầu cử tổng thống đều diễn ra vào ngày thứ Ba đầu tiên trong tháng 11, nhưng người thắng cuộc phải chờ đến đúng ngày 20 tháng Giêng của năm sau mới được chính thức nhậm chức.
Thông thường tại đa số các nước khác, người được thắng cử sẽ lên nắm quyền chỉ vài ngày sau đó, và do đó thường được gọi là tân tổng thống. Ngược lại ở Hoa Kỳ, trong khoảng thời gian dài xấp xỉ 75 ngày (sau khi kết quả bầu cử và ngày 20 tháng Giêng) quốc gia này trải qua một thời kỳ chuyển tiếp với hai vị nguyên thủ quốc gia. Một người là đương kim tổng thống (TT Bush hiện nay), nắm giữ toàn quyền quyết định tối hậu từ đây cho đến ngày ra đi vào 20 tháng Giêng. Nhưng người thứ hai cũng có quyền quan trọng, đó là đã được đa số cử tri trong nước trao phó quyền lãnh đạo (như ông Barack Obama), và do đó đã được gọi là tổng thống tân-cử (President-elect), tức là người vừa mới đắc cử để được làm tổng thống, nhưng phải chờ đợi một thời gian.
Truyền thống và luật lệ chuyển giao quyền hành ở Hoa Kỳ cũng rất kỹ lưỡng để giúp cho việc điều hành đất nước luôn được vững bền nhưng đồng thời cũng tôn trọng tinh thần dân chủ và lá phiếu của người dân. Do đó, tuy vị tổng thống đương nhiệm vẫn còn giữ toàn quyền, ông vẫn luôn cho vị tổng thống tân-cử biết rõ tất cả những chi tiết về những quyết định trọng đại mà ông có thể chọn lựa, để tránh gây ngạc nhiên bất ngờ cho người lên kế nhiệm. Ngay cả những tin tức tối mật và quan trọng nhất cũng được báo cáo lên cho vị tổng thống tân-cử, xuyên qua các buổi báo cáo hàng ngày của ông trùm cơ quan tình báo CIA về những diễn biến mới nhất, tương tự những buổi báo cáo cho vị tổng thống đương nhiệm.
Thông thường, nếu như vị tổng thống tân-cử là người cùng đảng với vị tổng thống đương nhiệm, thì sự chuyển tiếp quyền hành cũng dễ dàng và êm thắm, nhất là trong nhiều trường hợp, vị tổng thống tân-cử cũng thường là vị phó tổng thống đương nhiệm, và do đó không xa lạ gì với khung cảnh và cơ cấu của chính quyền mà họ sắp đảm nhiệm. Trong trường hợp vị tổng thống tân-cử là người thuộc đảng đối lập thì sự chuyển tiếp có phần tế nhị và rắc rối hơn, nhất là trong trường hợp kết quả bầu cử được coi như là một sự chối bỏ về đường lối của vị tổng thống đương nhiệm, chẳng hạn như trong kỳ bầu cử lần này.
Trong thời gian chuyển tiếp, Quốc Hội cũng thường ít có dịp hay khả năng thông qua những đạo luật mới và do đó, vị tổng thống đương nhiệm có thêm nhiều quyền hành qua việc ban hành các sắc lệnh để ấn định những điều lệ hay quy định có tính cưỡng hành trên nhiều lãnh vực không thua gì các đạo luật. Dĩ nhiên, trong nhiệm kỳ sau, vị tân tổng thống hay tân quốc hội cũng có quyền thông qua những đạo luật mới để đảo ngược lại các sắc lệnh cũ, nhưng thường là sẽ gặp trở ngại và mất nhiều thời gian mới đạt được. Ngược lại, vị tân tổng thống cũng có quyền ban hành những sắc lệnh mới để đảo ngược lại những quy định cũ, nhất là trên những hồ sơ mà sự khác biệt về ý thức hệ giữa hai đảng có phần khá rõ rệt.
Chẳng hạn như các cựu tổng thống Reagan và Bush Bố, vì là người của đảng Cộng Hoà, nên luôn ủng hộ lập trường bảo thủ, và đã ký những sắc lệnh giới hạn gắt gao việc viện trợ cho những chương trình nhân đạo hay những quốc gia không đặt nặng việc chống phá thai. Nhưng khi đến phiên ông Clinton lên nắm quyền, tuân theo lập trường cấp tiến của đảng Dân Chủ ủng hộ quyền của phụ nữ trong quyết định phá thai, thì ông liền ký ngay những sắc lệnh tháo gỡ những đòi hỏi gắt gao này. Đến 8 năm sau, khi TT Bush lên nắm quyền, thì ông cũng đã nhanh chóng ký những sắc lệnh áp đặt lại các đòi hỏi theo tinh thần bảo thủ như trước. Do đó, không ai ngạc nhiên khi biết rằng trong những ngày đầu vừa nhậm chức sắp tới, ông Obama cũng sẽ ký những sắc lệnh khác để phủ quyết lại những quy định cũ, tương tự như trường hợp của ông Clinton đã làm trước đó.
Một trong những điều khác mà người ta trông đợi xem ông Obama có làm giống như cựu TT Clinton hay không là việc lập ra một nội các đa dạng, quy tụ nhiều thành phần thiểu số. Trong cuộc vận động tranh cử năm 1992, ông Clinton đã thường nói đùa rằng nếu như cử tri Hoa Kỳ bỏ phiếu tín nhiệm ông thì coi như là họ chỉ bỏ tiền có 1 mà mua được 2, ám chỉ là 2 lãnh tụ tài giỏi, tức là thêm vợ ông, Hillary Rodham Clinton. Nhưng ông cũng đồng thời long trọng hứa hẹn rằng nếu đắc cử, ông sẽ bổ nhiệm một nội các "trông giống như Hoa Kỳ". Câu nói đùa của ông có thể khiến nhiều người không ưa và tìm cách chống đối, xuyên qua việc họ đã thành công đánh bại được kế hoạch bảo hiểm y tế phổ thông cho mọi người dân trong nước do bà Clinton đề xướng.
Tuy nhiên, lời hứa thứ hai của ông Clinton đã được thực hiện tốt đẹp, đem lại nhiều uy tín cho Hoa Kỳ trên trường quốc tế, cũng như giúp đẩy mạnh cơ hội thăng tiến cho khối dân thiểu số tại Hoa Kỳ. Lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, nội các dưới thời ông Clinton gồm rất nhiều phụ nữ và những sắc dân gốc thiểu số được nắm những chức vụ then chốt. Đến phiên TT Bush lên nắm quyền vào năm 2001 thì ông cũng tiếp nối con đường này, bổ nhiệm nhiều phụ nữ và dân thiểu số vào các chức vụ quan trọng, trong số đó phải kể đến hai nhân vật da đen nắm giữ hai chức vụ quan trọng là Cố vấn An ninh Quốc gia và Ngoại Trưởng. Dĩ nhiên, sẽ có nhiều người tranh cãi rằng những nhân vật thiểu số nằm trong nội các dưới thời TT Bush thật ra chỉ là có tính cách phiến diện chứ không có thực quyền, vì quyền hành thực sự trong nội các này, nhất là trong 4 năm đầu, được coi như nằm dưới quyền kiểm soát của hai nhân vật da trắng lão làng là PTT Dick Cheney và Tổng trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld.


Dĩ nhiên, lần này thì sự thay đổi có phần chấn động to lớn hơn nhiều, bởi lý do đơn giản là cái nội các cầm quyền sắp tới không phải chỉ có những thành phần thuộc nhóm thiểu số mà còn được điều hành bởi người đứng đầu có quyền hành tuyệt đối lại là một người thiểu số gốc da đen. Do đó, tự bản chất, ngay cả nếu như cái chính quyền Obama không có đa dạng với nhiều thành phần nữ giới và dân thiểu số, thì chính nó cũng sẽ mang ảnh hưởng to lớn nhất của dân gốc thiểu số bởi vì tất cả thành viên trong nội các đều "cúc cung" phục vụ tuỳ theo ý thích của vị tổng thống. Câu nói phổ thông của mọi tổng trưởng trong nội các cũng như của bất cứ nhân viên nào trong Toà Bạch Ốc là họ luôn luôn phục tùng cho người sếp lớn, gọi là "serving at the pleasure of the president".  
Trong lúc vận động tranh cử, ông Obama thường đưa ra lời hứa rằng ông muốn đại diện cho mọi người dân của nước Mỹ, chứ không phải của những người thuộc phe mầu xanh (cấp tiến) hoặc mầu đỏ (bảo thủ). Sự ủng hộ rộng rãi giành cho ông trong nhiều tầng lớp quần chúng đã đem lại cái kết quả thắng lợi to lớn trong ngày 4 tháng 11. Do đó, việc ông Obama sẽ bổ nhiệm một nội các với nhiều thành phần đa dạng gồm phụ nữ và dân gốc thiểu số cũng không có gì là ngạc nhiên, nếu không muốn nói là một điều tất yếu mà nhiều người có thể chờ đợi. Tuy vậy, nhiều chính trị gia kỳ cựu gốc da đen cho rằng ông Obama không nên chịu áp lực để bổ nhiệm một nội các theo sự đòi hỏi hay trông đợi này. Theo họ, thì ông nên lựa chọn những nhân vật có tài ba và khả năng xuất sắc nhất để đảm nhiệm những chức vụ quan trọng, thay vì chú trọng đến việc phải lựa chọn nhân vật theo tỉ lệ để thoả mãn mong ước của nhiều khối cử tri.
Đây là một vấn đề khá tế nhị. Ông Obama đã tranh cử với chiêu bài phá bỏ những suy nghĩ lỗi thời đẩy đưa đến những chia rẽ sâu xa trong xã hội, và kết quả thắng cử vẻ vang cũng đã chứng minh sự ủng hộ rộng lớn của người dân tin tưởng vào lập luận này. Nhưng không ai chối cãi được việc ông thắng cử cũng là nhờ sự ủng hộ nồng nhiệt và hăng say của khối cử tri da đen, nhất là trong kỳ bầu cử sơ bộ, cũng như đã trở thành biểu tượng hi vọng và mơ ước một đời của khối dân này. Giờ đây nếu ông chỉ có quanh mình một lô các phụ tá da trắng thì có thể khiến cho người da đen dễ thất vọng.
Ngay cả trong khối dân da đen cũng đã có những suy nghĩ trái ngược trong đề tài này. Ông Mike Espy, một chính trị gia ôn hoà -- một người da đen đầu tiên đắc cử chức vụ dân biểu liên bang tại Mississipi, và sau này được bổ nhiệm làm Tổng trưởng Bộ Nông Nghiệp dưới thời TT Clinton -- thì cho rằng ông Obama sẽ không gặp áp lực (để bổ nhiệm một nội các đa dạng, gồm nhiều người gốc da đen) vì chính ông đã làm nên lịch sử đó. Theo ông Espy thì ông Obama nên chú trọng vào khả năng, và hãy mang đến những người tài giỏi nhất.
Nhưng bà Lani Guinier thì thuộc khuynh hướng cho rằng sự đa dạng trong nội các là một điều cần thiết. Bà Guinier là phụ nữ da đen đầu tiên được trở thành giáo sư thực thụ (tenured professor) của trường Đại học Luật của Harvard, được coi như là một người theo khuynh hướng cực tả. Dưới thời TT Clinton, bà đã được lựa chọn làm tổng giám đốc đặc trách nhân quyền trong Bộ Tư Pháp nhưng sự bổ nhiệm bị chống đối vì những quan điểm cực tả của bà. Bà Guinier cho rằng sự đa dạng tự nó đã là một câu trả lời cho muôn vàn khó khăn mà quốc gia này đang phải đối phó. Tuy vậy, bà cũng không hài lòng về cái tình trạng đa dạng này nếu như nó chỉ là hình thức, kiểu như trường hợp của bà Condoleezza Rice trong nội các của TT Bush, chỉ làm người mẫu để loè mắt thiên hạ (window dressing).
Donna Brazile, một phụ nữ da đen đầu tiên được trao quyền điều hành một chiến dịch vận động tranh cử tổng thống (của ông Al Gore vào năm 2000) cũng đồng ý với quan điểm rằng sự đa dạng sẽ làm vừa lòng nhiều người, tuy nhiên, cuối cùng thì yếu tố khả năng vẫn là điều quan trọng nhất để quyết định sự lựa chọn những nhân vật quan trọng trong nội các.
Ông Rodney Slater, một người gốc thiểu số được TT Clinton bổ nhiệm làm Tổng trưởng Bộ Giao Thông, cho rằng những quyết định có tính cách lịch sử của các vị tổng thống như Clinton và Bush 43 đã dọn đường cho sự thành công của ông Obama. Bởi vì, những khuôn mặt dân gốc thiểu số được bổ nhiệm vào nội các đã dần dần khiến cho người dân da trắng bắt đầu làm quen và cảm thấy thoải mái với viễn tượng của một người da đen có thể lên làm nguyên thủ quốc gia. Hơn nữa, những vụ bổ nhiệm này cũng đã tạo ra một con đường dấn thân của nhiều tài năng thuộc gốc thiểu số và nhờ đó mà ngày nay ông Obama có thể dễ dàng lựa chọn để tìm ra những người để bổ nhiệm vào nội các tương lai. Tuy vậy, ông Slater cũng đồng ý rằng ông Obama phải luôn chú trọng đến việc lựa chọn những người tài giỏi và xứng đáng nhất.
Theo ông Slater, thì sự đa dạng có thể rắc rối hơn nhiều, chứ không chỉ giới hạn ở việc lựa chọn những thành phần thuộc những mầu da, giới tính hay văn hoá khác nhau. Ông đưa ra thí dụ của việc ông Obama đã lựa chọn bà Jennifer Granholm, nữ thống đốc của tiểu bang Michigan, đứng cạnh ông trong buổi họp báo quan trọng tuần trước để bàn về những vấn đề khó khăn về kinh tế. Dĩ nhiên, ai cũng thấy rõ là bà Granholm là một người da trắng, nhưng bà cũng đại diện cho một tiểu bang đông dân đang gặp khó khăn rất nhiều về kinh tế, đặc biệt là trong kỹ nghệ sản xuất xe hơi.
Ông Slater kết luận rằng hình ảnh đó cho thấy là ông Obama muốn nói với mọi người rằng cái nền kinh tế sản xuất đó rất quan trọng đối với ông. Và dù có đa dạng hay không thì nhiều phần là đa số dân chúng sẽ sẵn sàng ủng hộ ông Obama trong sự lựa chọn này.   
Minh Thu

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.