Hôm nay,  

Mccain Và Chủ Thuyết Bush

9/13/200800:00:00(View: 17527)
Truyền thông Mỹ phải học thêm về đối ngoại của Hoa Kỳ...

Lần đầu "đơn đao phó hội", Thống đốc Sarah Palin của Alaska - ứng cử viên Phó Tống thống của liên danh McCain-Palin - đã chứng tỏ mình không tệ. Tức là thắng lớn.

Nhà báo Charlie Gibson của truyền hình ABC trực tiếp phỏng vấn bà tại Alaska và ABC câu khán giả bằng cách loan hình trong ba buổi qua ba ngày liên tiếp, sau nhiều đợt quảng cáo rầm rộ. Buổi thứ nhất là ngày Thứ Năm 11 vừa qua.

Tất nhiên, Sarah Palin và ban tranh cử McCain-Palin đã xem và biết toàn bộ cuộc phỏng vấn nên giờ này đã tìm cách "khai thác thành quả" và "giới hạn tổn thất" nếu có. Họ còn tinh ma bắn tin từ trước cho dư luận rằng họ rất run về kết quả vì đây là lần đầu Palin phải ứng khẩu trả lời nhà báo chứ không đọc một bài diễn văn đã soạn trước! Đừng tin họ! Đảng Cộng Hoà cố tình hạ thấp kỳ vọng của dư luận để Sarah có trớn bật rất mạnh khi xuất hiện và gây ngạc nhiên cho công chúng vì khả năng bất ngờ của mình.

Chúng ta cũng đừng tin vào báo chí thiên tả khi họ thổi vào lời tựa của bài tường thuật về cuộc phỏng vấn những lập trường họ gán cho Sarah trong tinh thần xuyên tạc. Tất cả chỉ là thủ thuật chính trị từ hai phe.

Dù sao, bên đảng Cộng Hoà hay Sarah đã... cố tình yếu thế khi để Charlie ngồi ghế rất cao, đeo mục kỉnh nghiêm khắc, lên giọng kẻ cả như một quan giám học khảo thí một nữ sinh. Và lòi ra sự thiếu chuẩn bị của chính ông ta!

Nếu không muốn bị đánh hoả mù và mua hớ, dư luận nên trực tiếp xem hết chương trình và đọc lại nguyên bản cuộc phỏng vấn thay vì chỉ tin vào lời tường thuật của hai phe. Nghĩa là phải có khả năng suy nghĩ độc lập! Giá trị của nền dân chủ tùy thuộc vào khả năng đó.

Một thí dụ, Sarah Palin tỏ ra xuất sắc trong câu trả lời về vai trò của Thượng đế trong chiến tranh khi nhảy khỏi cái bẫy của nhà báo kiêm chánh chủ khảo, mà nhắc tới lời tuyên bố của Lincoln. Sarah không là kẻ cuồng tín, cứ "vâng ý Cha" mà đem quân gây chiến khắp nơi như truyền thông gán ghép. Ta nên xem lại đoạn ấy để nhớ tới các Tổng thống Hoa Kỳ trong lịch sử: khi nước Mỹ phải lâm chiến, kể cả John Kennedy - nhưng không có Bill Clinton - họ đều cầu xin Thượng Đế phù hộ cho quân đội và quốc gia Hoa Kỳ. Sarah Palin cũng không nói khác khi tiễn đưa đoàn Vệ binh Quốc gia của Alaska qua phục vụ chiến trường Iraq.

Cách đặt câu hỏi của Charlie Gibson và cách tường thuật của truyền thông thiên tả, kể cả hai nhật báo New York Times và Washington Post, chưa nói gì đến những blog cực tả trong vây cánh của Barcak Obama, đều kể lại với sự thiên lệch.

Nhưng, xuất sắc nhất trong các bẫy giăng của Charlie Gibson là câu hỏi Sarah Palin về "chủ thuyết Bush" - mà tờ New York Times tường thuật lại theo kiểu hai mắt đổ dồn làm một, tức là thiên lệch. Câu hỏi ấy cho thấy quan chánh chủ khảo... không thuộc bài.

Xin nhắc lại đoạn vặn hỏi ấy ở đây, trước khi cho truyền thông dớ dẩn của Hoa Kỳ một bài học tất nhiên là miễn phí về chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

Hỏi: "Bà có đồng ý với 'chủ thuyết Bush' hay không"" Thí sinh hỏi lại: "Về lãnh vực gì""

Không giấu nổi vẻ sốt ruột của quan chánh chủ khảo trước sự ngây ngô của thí sinh, hoặc sự khờ khạo của một ứng cử viên đòi lên làm Phó Tổng thống, chỉ cách vị trí Tổng tư lệnh quân đội trong gang tấc, Charlie Gibson cho thí sinh một bài học về đối sách Hoa Kỳ: "về việc (Hoa Kỳ) chúng ta có quyền tiên hạ thủ hay không". Trước sự đơn giản ấu trĩ của nhà báo, Sarah bước nhẹ ra ngoài mà không trả lời thẳng vào vấn đề.

Lý do là chủ thuyết Bush không đơn giản như cách Charlie Gibson nhìn!

Vì vậy mới có bài học miễn phí sau đây về "Bush doctrine".

Trước hết, khi an ninh của Hoa Kỳ bị đe dọa, các vị tổng thống Mỹ trong lịch sử đều đã có lúc phải lấy quyết định đánh phủ đầu. George W. Bush không là người đầu tiên! Đó là phản ứng dễ hiểu - và có thể đáng ghét của một siêu cường - nhưng không là độc quyền của Bush hay nét chính trong "chủ thuyết Bush". Chúng ta phải nhớ lại một chút về từng diễn biến đã qua.

Khi ra tranh cử năm 2000, Thống đốc George W. Bush của Texas có quan niệm khác về chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Ông công kích đối phương là Phó Tổng thống Al Gore, về lập trường đối ngoại của Chính quyền Clinton-Gore ở nhiều điểm và giới thiệu chủ trương của mình: 1) dứt khoát bảo vệ quyền lợi chiến lược của Hoa Kỳ; 2) phát huy kinh tế thị trường và tự do ngoại thương trên thế giới; 3) nhưng không kiêu căng áp đặt giá trị của nền dân chủ Hoa Kỳ trên các nước khác; 4) không đem quân đi "xây dựng quốc gia" cho các nước khác (như Clinton đã và đang làm khi đó tại Kosovo); và 5) nếu có phải ra quân thì định rọ mục tiêu và cung cấp phương tiện đầy đủ, khi hoàn tất mục tiêu là rút quân về sàng sớm càng hay.

Nếu có thể gọi đó là "chủ thuyết Bush" thì không sai, nhưng là chủ thuyết thời 1999-2000, cho tới ngày ông Bush thắng cử và nhậm chức vào năm 2001.

Nếu chịu khó tìm hiểu, Charlie Gibson có thể thấy rằng Chủ thuyết Bush 2000 kết hợp hai chủ trương cổ điển - và có khi mâu thuẫn - của đảng Cộng hoà là thực tiễn về đối ngoại, nhưng lồng trong đối sách của Mỹ một giá trị tinh thần, yếu tố "chính nghĩa" của việc can thiệp. Bush khiêm cung hơn về yếu tố "chính nghĩa" và thực tiễn hơn về vai trò độc bá của Hoa Kỳ vào lúc đó, khi Hoa Kỳ không có đối thủ. Năm đó, Liên bang Nga chưa ra khỏi khủng hoảng và Trung Quốc chưa thành cường quốc quân sự.

Nhưng ngay sau khi nhậm chức vào tháng Giêng năm 2001, Chủ thuyết của Bush đã có thay đổi!

Tháng Tư năm 2001, Trung Quốc gây hấn, hất một phi cơ trinh sát Mỹ xuống đảo Hải Nam và bắt giữ phi hành đoàn, trong khi Vladimir Putin trở thành lãnh tụ mới của Liên bang Nga. Bush tỏ vẻ cứng rắn hơn thời tranh cử, quyết định sẽ hủy bỏ thỏa ước ABM ký kết với Nga gần ba chục năm trước và chấp hành điều mà Thượng viện Hoa Kỳ chủ trương - dưới thời Clinton - là không ký kết Nghị định thư Kyoto về việc kiểm soát khí thải. Lúc đó, Chủ thuyết Bush đã có mầm "đơn phương quyết định" của một siêu cường độc nhất làm bá chủ thế giới.

Mà không ai, kể cả đối lập Dân Chủ có vẻ phiền hà vì về chuyện đó: Thượng viện Mỹ bác bỏ Nghị định thư Kyoto từ trước với đa số cực tuyệt đối là tỷ lệ 95-0, khiến Clinton khỏi cần và không dám xin Quồc hội phê chuẩn! Sau này, việc Bush bị đả kích oan về chuyện Kyoto là sự lật lọng của đối lập và bất lương của truyền thông.

Thế rồi vụ khủng bố 9-11 bùng nổ, ngày 11 tháng Chín năm 2001, khiến siêu cường Hoa Kỳ hết là độc bá!

Ngay sau đó, Bush tuyên bố sẽ truy lùng và tiêu diệt khủng bố tới cùng, và đề ra một nguyên tắc sẽ trở thành cối lõi của "Chủ thuyết Bush": "bạn thù phân minh". Những chế độ nào mà tiếp tục dung túng hoặc yểm trợ khủng bố đều là kẻ thù của Mỹ! Ngoại trưởng Colin Powell minh diễn Chủ thuyết đó cho Pakistan, đồng minh của chế độ Taliban trên chiến trường Afghanistan. Thứ trưởng Ngoại giao Richard Armitage còn "Bush" hơn nữa khi ra tối hậu thư cho Tổng thống Pervez Musharraf: Pakistan có thể trở lại thời đồ đá nếu yểm trợ Taliban và dung túng khủng bố al-Qaeda. (Sau này, cả hai ông Powell và Armitage đều xoay chiều, là chuyện về sau!)

Qua năm sau, 2002, Bush mới thêm vào Chủ thuyết đối ngoại của mình một lời răn đe khác khi nói đến "trục tội ác"và nêu đích danh ba nước, Iraq, Iran và Bắc Hàn vì kế hoạch chế tạo và có khi phổ biến võ khí tàn sát cho các chế độ hung đồ hay các lực lượng khủng bố. Hoa Kỳ không thể để các xứ ấy cung cấp võ khí cho quân khủng bố nên có thể có quyết định "phòng thủ tích cực". Đó là nguyên ủy của nguyên tắc đánh phủ đầu, được minh định vào năm 2003.

Chủ thuyết Bush có thêm yếu tố "tiên hạ thủ", là lý luận đưa ra sau vụ Iraq. Charlie Gibson quên hết các trọng điểm trong Chủ thuyết Bush thời 2000, 2001 và sau vụ 9-11. Vậy mà cũng đòi vặn hỏi Sarah Palin!

Mà đánh phủ đầu không là chủ trương chỉ đạo của Bush trong đường lối đối ngoại.

Sau khi chiến dịch Iraq bùng nổ, tháng Năm năm 2003, Cố vấn An ninh Quốc gia của Bush là Condoleezza Rice mập mờ nhắc lại điều ấy khi trả lời báo chí về lời yêu cầu của Tổng thống Nam Hàn: ông Lỗ Mộng Huyễn đề nghị Hoa Kỳ nên đặt Bắc Hàn ra ngoài danh mục các quốc gia hung đồ có thể bị Mỹ tấn công. Bà Rice ởm ờ trà lời: "với Bắc Hàn, Hoa Kỳ tự chuẩn bị sẵn mọi tình huống, hầu chế độ này biết cách hành xử chứ không thể bắt bí thiên hạ được!" Cuối năm 2003, trong một bài viết cho tờ Foreign Affairs, Ngoại trưởng Powell ghi thêm rằng chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ không thể chỉ định nghĩa ở quyết định đánh phủ đầu. Nó chỉ áp dụng cho loại lực lượng phi quốc gia như các nhóm khủng bố.

Nghĩa là Chủ thuyết Bush có sự biến hoá, và xoay ra nhiều mặt sáng tối khác nhau, chứ không thu gọn vào chuyện duy nhất là hung hăng đánh phủ đầu bất cứ quốc gia nào đe dọa an ninh hay quyền lợi Mỹ. Sarah Palin không trả lời thẳng vào đó mới chứng tỏ sự thận trọng của một chuẩn Phó Tổng thống.

Nhưng chưa hết!

Trong khi chiến dịch Iraq chưa ngã ngũ, Tổng thống Bush nêu thêm một mục tiêu khác là góp phần xây dựng dân chủ tại Trung Đông. Nghĩa là trở lại lý tưởng đạo đức ban đầu cùa chánh sách đối ngoại Hoa Kỳ mà thật ra không khác lý tưởng được các Tổng thống Woodrow Wilson, Franklin Rossevelt và John Kennedy đề ra tử xưa. Trong bài diễn văn nhậm chức cho nhiệm kỳ hai, vào tháng Giêng năm 2005, Bush mở rộng lý tưởng dân chủ tại Trung Đông sang lý tưởng "tự do trên toàn cầu" và sau đó còn nhắc nhở sự sai lầm của Hoa Kỳ trong quá khứ là hy sinh tự do của nước khác (Đông Âu) để thỏa hiệp với các chế độ độc tài trong thời Chiến tranh lạnh!

Ông Bush có theo đuổi được ngần ấy mục tiêu hay không, lịch sử sẽ phán xét. Những mục tiêu ấy có mâu thuẫn với nhau hay không, các nhà quan sát hay bình luận phải phán xét. Nhưng, nếu muốn phán xét và dùng đó làm thước đo cho việc phê phán liên danh McCain-Palin thì cũng phải nêu ra cho rõ 1) sự thay đổi về chủ trương của lãnh đạo Hoa Kỳ trước và sau một thách đố mang ý nghĩa lịch sử, và 2) tính chất khả thi của các chủ trương có thể là mâu thuẫn đó.

Charlie Gibson đã coi thường người khách phỏng vấn và lòi ra sự nông cạn của mình, một sự nông cạn tiêu biểu của truyền thông Mỹ. Chẳng những nông cạn mà còn trịch thượng! Nhưng, nhờ đó, Sarah Palin lại có cơ hội học hỏi, và liên danh McCain-Palin có cơ hội mài dũa chương trình hành động của mình.

Chúng ta có thể thấy điều ấy trong cuộc tranh luận giữa hai ứng cử viên Phó Tổng thống Joe Biden và Sarah Palin vào tháng tới. Nhắc lại "Chủ thuyết Bush" qua các thời kỳ cũng là cách giúp cho chúng ta chấm điểm cuộc tranh luận này một cách chính xác và khách quan hơn.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.