Hôm nay,  

Đại Hội Đảng Tại Trung Quốc

09/10/200700:00:00(Xem: 11507)

...dân cúi đầu kiếm ăn và tìm cách nuốt dần sự bất mãn bằng thành tựu kinh tế...

Tuần tới, đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ triệu tập Đại hội toàn đảng khóa 17, một biến cố năm năm mới có một lần, để hoạch định đường lối và đề cử lãnh đạo tại các cấp trong năm năm sắp tới. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm nhiều những chiều hướng chính trong biến cố trọng đại của quốc gia này, qua cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây...

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ triệu tập Đại hội khoá 17 vào ngày 15 tới. Chúng tôi đề nghị là trong chương trình chuyên đề tuần này, ta cùng tìm hiểu về biến cố đó, với ảnh hưởng về chính sách kinh tế xã hội trong năm năm sắp tới tại Trung Quốc, và đặc biệt chú ý tới những gì mà Việt Nam cần quan tâm.

Vâng thưa ông, và người ta có thể quan tâm ngay từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ chót, sẽ triệu tập hôm nay để hoàn chỉnh mọi quyết định trước khi Đại hội chính thức khai mạc tại Bắc Kinh.

Hỏi: Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là cái gì khiến cho đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn tồn tại, và năm năm họp Đại hội một lần để vạch ra đường lối lãnh đạo cho quốc gia, khi mà thế giới đều biết, kể cả người dân và lãnh đạo Trung Quốc, rằng chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung trong thực tế"

Câu hỏi của ông hàm ý là vì sao mà một hệ thống chính trị dựa trên một ý thức hệ đã lỗi thời mà vẫn có khả năng lãnh đạo và còn tiếp tục lãnh đạo để cứ năm năm lại có đại hội vạch ra đường lối và tuyển chọn nhân sự lãnh đạo cho thời gian sắp tới" Tôi nghĩ rằng câu trả lời có thể nằm ngay trong nét văn hoá đặc thù của Trung Quốc - và của cả Việt Nam vì Việt Nam bị ảnh hưởng văn hoá rất mạnh của Trung Quốc mà lại ít nhìn ra, hoặc không dám công nhận - đó là sự sợ hãi.

Hỏi: Ông có thể giải thích cho rõ hơn không" Vì sao sự sợ hãi lại khiến đảng Cộng sản Trung Quốc lại tồn tại với hệ thống chính trị hiện nay"

Người dân Trung Quốc sợ nghèo và sợ loạn, là tình trạng họ đã thấy trong ba chục năm đầu tiên khi chế độ cộng sản nắm chính quyền tại Hoa lục, từ 1949 đến 1979. Lãnh đạo Trung Quốc thì sợ loạn và sợ mất hết đặc quyền rồi đặc lợi đã thu hoạch được từ ba chục năm nay. Vì nỗi sợ phổ biến ấy, người dân đã đành chấp nhận cho lãnh đạo duy trì quyền lực; còn lãnh đạo thì vẫn giữ chế độ chuyên chế nhưng sửa sai dần để tránh động loạn, và quan trọng nhất, chế độ ấy tồn tại nhờ sức trấn áp của quân đội và bộ máy công an.

Đấy là câu trả lời ngắn gọn về thực tế Trung Quốc và phần nào cũng phản ảnh tình trạng chung tại Việt Nam khi mà chẳng còn ai tin vào chủ nghĩa cộng sản nhưng đảng cộng sản vẫn lãnh đạo và nắm quyền. Nói cho nôm na và hơi phũ phàng thì một chế độ độc tài có thể tồn tại khi mà sự sợ hãi có thể khiến người ta cúi đầu rất lâu.

Nếu đi vào chi tiết, người ta có thể giải thích sự kiện trên ở nhiều yếu tố khác.

Hỏi: Nếu đã như vậy, xin ông giải thích luôn những yếu tố đó.

Thưa vâng và đấy cũng là một cách duyệt lại những thay đổi của hiện tượng cộng sản tại Trung Quốc. Vì loạn lạc và bất công trong thời ngoại xâm và nội chiến, người dân Hoa lục đi theo lý luận đấu tranh giai cấp của đảng Cộng sản. Sau đó, kể từ 1949, vì ước mơ hoà bình và phồn vinh, họ cúi đầu chấp nhận đường lối gọi là "xây dựng xã hội chủ nghĩa" của Mao Trạch Đông. Khi việc xây dựng dẫn tới khủng hoảng, trước và trong suốt 10 năm của Đại cách mạng văn hoá vô sản, từ 1966 tới 1976, họ ủng hộ việc cải cách của Đặng Tiểu Bình. Ba mươi năm sau, tức là ngày nay, họ cố ước mơ một hình thái xã hội hài hoà. Nỗi sợ hãi liên tục là chất keo sơn tinh thần đã giữ cho hệ thống này tồn tại suốt sáu chục năm vừa qua.

Nhìn từ phía lãnh đạo, nỗi sợ hãi ấy không chỉ xuất phát từ phản ứng tâm lý của người dân mà thể hiện rõ ràng nhờ khả năng trấn áp mãnh liệt của quân đội và công an. Thí dụ dễ thấy nhất là vụ tàn sát tại quảng trường Thiên an môn hồi tháng Sáu năm 1989. Kể từ đó người dân cúi đầu kiếm ăn và tìm cách nuốt dần sự bất mãn bằng thành tựu kinh tế...

Ta không nên quên rằng suốt mấy ngàn năm, cũng chính là nỗi sợ hãi của dân chúng đã cho phép chế độ quân chủ tồn tại, bất chấp mọi tai ương do Hoàng đế và triều đình gây ra. Nếu nhớ lại lịch sử thì hiện tượng có một hoàng đế anh minh cai trị thật ra chỉ là hãn hữu, còn lại thì nạn gian thần hay nội thân ngoại thích làm loạn nước và làm dân chúng khổ sở vì chiến tranh hay sưu thuế lại là trường hợp phổ biến hơn.

Hỏi: Đó là trường hợp của các nước Cộng sản tại châu Á, chứ tại Liên bang Xô viết hay các nước Cộng sản Đông Âu, người dân cũng bị đàn áp và sợ hãi vậy mà các chế độ này vẫn thay đổi, vì sao lại như vậy"

Thưa ông tình hình có khác biệt vì lãnh đạo của Liên Xô không sợ hãi nặng như vậy nên mới tìm cách thay đổi như những nỗ lực cải cách của ông Gobachev và họ bị tuột tay khiến chế độ sụp đổ luôn dưới sức nặng của những chứng tật bẩm sinh trong chế độ. Tại Đông Âu, sau khi hệ thống Xô viết sụp đổ thì các nước đã được cởi ách thống trị và tự tìm lấy giải pháp khác cho mình. Cái khác ở đây là họ ít sợ hơn nên dám thử nghiệm giải pháp mới, có đúng có sai, có thành có bại, nhưng dù sao vẫn là một thay đổi căn bản.

Hỏi: Trở lại chuyện Đại hội đảng tại Trung Quốc, ông nhận xét thế nào về nét văn hoá ông gọi là sự sợ hãi phổ biến đó"

Nhìn về dài, thì từ đại hội 12 là đại hội xin tạm gọi là đổi từ "loạn" sang "trị" sau cuộc Đại văn cách - chữ loạn và trị trong ngoặc kép vì chỉ có ý nghĩa tương đối - ta thấy một nét chung là tuổi trung bình của cấp lãnh đạo, từ các Trung ương Ủy viên tới các Ủy viên trong Ban Bí thư, Bộ Chính trị và cả Thường vụ của Bộ Chính trị, đều trẻ hơn trước.

Thứ hai, các đảng viên đang hay sẽ bước vào giai tầng lãnh đạo đều ít nhiều là nạn nhân của cuộc Đại văn cách, kể cả Chủ tịch kiêm Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào. Vì vậy, họ rất sợ những tư tưởng cách mạng mà họ cho là phiêu lưu, kể cả trào lưu dân chủ hoá. Nhưng, cũng do kinh nghiệm bản thân và hoàn cảnh chung của đất nước, đa số thành phần sẽ lên lãnh đạo, gọi là thế hệ cách mạng thứ năm sau thế hệ Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo hiện nay, đều trưởng thành hay xuất thân từ nông thôn, từ các tỉnh nằm trong lục địa hơn là các tỉnh duyên hải miền Đông, nên ý thức khá rõ những sức ly tâm tiềm ẩn trong xã hội.

Hỏi: Thưa ông, những sức ly tâm ấy là gì và chúng sẽ ảnh hưởng ra sao tới chiều hướng của lãnh đạo sau này"

Đấy là sức ly tâm hay mầm phân hoá vì khoảng cách giàu nghèo bị đào sâu giữa các thành phần và các địa phương. Đấy là sức ly tâm vì khác biệt sắc tộc, giữa Hán tộc và các sắc dân thiểu số khác, nhất là ở vùng phiên trấn của Trung nguyên. Sau cùng, khác với thế hệ thực sự tham gia cách mạng, thành phần lãnh đạo ngày nay tiếp xúc với thế giới nhiều hơn, và có trình độ giáo dục chuyên môn tương đối cao hơn các thế hệ trước, nên cũng ý thức được nguy cơ tụt hậu của Trung Quốc so với thế giới bên ngoài.

Vì ý thức được những mầm dị biệt ấy, họ cố xây dựng một xã hội hài hoà, là khẩu hiệu chính thức của lãnh đạo từ Đại hội 16, và phát triển xã hội trên một cơ sở khoa học hơn, là điều sẽ trở thành khẩu hiệu của Đại hội 17 sau này. Và vừa trấn an người dân về miếng ăn, tức là duy trì tinh thần lý tài có lợi cho đảng, họ vừa khích lệ lòng ái quốc hay tự ái dân tộc bằng cách biểu dương sức mạnh hay sức nặng của Trung Quốc đối với thế giới.

Hỏi: Có một vấn đề mà các nhà lý luận hoặc dân chúng nói chung vẫn tò mò muốn hiểu, kể cả ở Việt Nam. Thưa ông, hình thái phát triển kinh tế thị trường dưới một chế độ chuyên chế hay toàn trị có dẫn tới mâu thuẫn là sự hình thành của một giai cấp tư sản có quyền lợi đối nghịch với đảng không"

 Đây là ước mơ hão huyền của các nước dân chủ hay của Tây phương, theo lý luận đượm mùi Mác-xít từ vô thức, rằng kinh tế phát triển sẽ sản sinh ra một giai tầng xã hội có quyền lợi đối nghịch với thành phần đảng viên. Thực tế là tại Trung Quốc, và theo thống kê chính thức của chính quyền, thì hơn một phần ba giới tư doanh, là chủ doanh nghiệp tư nhân, lại là đảng viên đảng Cộng sản. Và 35% những người giàu nhất Trung Quốc, các tỷ phú hay triệu phú bằng đô la, cũng lại là đảng viên!

Trong cuộc thi đua làm giàu này thì thành phần ta gọi là "tư bản đỏ" vẫn chiếm ưu thế vì có chỗ tựa là chế độ chính trị hiện hành với bộ máy trấn áp của đảng. Vì vậy mà trong kinh doanh, yếu tố thành bại vẫn là có quan hệ hay không với bộ máy đảng và nhà nước. Và cũng vì vậy mà tham nhũng mới trở thành một thuộc tính của chế độ.

Nếu có áp lực thay đổi thì tôi thiển nghĩ rằng nó xuất phát từ nông thôn, từ thành phần nông dân bị lãng quên, tụt hậu và bị cướp đất. Thế hệ lãnh đạo hiện hành ý thức được mối nguy đó nên trong năm năm qua đã cố gắng tái phân lợi tức để san sẻ nhiều hơn cho các địa phương nghèo túng ít tiếp cận với kinh tế thế giới, và cũng chịu khó giải trừ nạn tham nhũng hơn thời Giang Trạch Dân lãnh đạo.

Hỏi: Xin hỏi ông luôn về nỗ lực giải trừ tham nhũng ấy tại Trung Quốc vì tai ương tham nhũng cũng là một vấn đề gây bức xúc cho mọi người tại Việt Nam.

Suốt giai đoạn phát triển kinh tế xã hội theo kiểu lý tài của Đặng Tiểu Bình và nhất là của Giang Trạch Dân, quyền lực đảng tại Trung ương bị tan loãng dần vì thế lực kinh tế rất mạnh của các đảng bộ tại địa phương. Thế lực ấy dẫn tới tham nhũng ngay trong đảng bộ địa phương mà trung ương không giải trừ được.

Đã thế, trong vụ diệt trừ tham nhũng, có hai việc bị lồng làm một. Thứ nhất là quyền lực trung ương bị các địa phương chi phối, thứ hai là thế hệ lãnh đạo thứ tư Hồ Cẩm Đào hay Ôn Gia Bảo, đều gặp trở lực từ thành phần lãnh đạo do Giang Trạch Dân nâng đỡ hay là cài ở lại. Biểu hiện của mâu thuẫn ấy là tranh chấp quyền lực giữa những người như ông Hồ Cẩm Đào hay do ông ta cất nhắc từ lâu, đa số là các đảng viên xuất thân từ Đoàn Thanh niên Cộng sản, gọi là "đoàn phái", với thành phần của Giang Trạch Dân, xuất thân từ Thượng Hải, được gọi là "cánh Thượng Hải". Mãi tới năm ngoái, Hồ Cẩm Đào mới loại trừ được Bí thư Thượng Hải là Trần Lương Vũ về tội tham nhũng để đưa ông Tập Cận Bình vào đó, và nhân vật này có nhiều triển vọng sẽ trở thành thế hệ lãnh đạo nối tiếp Hồ Cẩm Đào sau Đại hội 18 vào năm 2012 này.

Hỏi: Như vậy, việc giải trừ tham nhũng có khi chỉ là bình phong che giấu sự tranh đoạt quyền lực phe phái bên trong Bộ Chính trị mà thôi"

Thưa đó chỉ là một phần mà mình không thể không thấy. Tuy nhiên, và đây là điều sẽ ảnh hưởng tới Đại hội 17, là lãnh đạo đảng tại Bắc Kinh đang cố gắng tập trung lại quyền lực so với các địa phương. Cụ thể trong nỗ lực giải trừ tham nhũng là cách đây một tháng họ đã lập ra một cơ quan ngang bộ, trong Quốc vụ viện, tức là Hội đồng Chính phủ, để ngăn ngừa tham nhũng. Cơ quan này có tên là Cục phòng chống tham nhũng quốc gia, do một nữ đảng viên đang là Phó Ủy viên Trung ương về Thanh tra và Kỷ luật đảng điều khiển. Nó có nhiệm vụ báo cáo thẳng lên Chính phủ mà khỏi bị các đảng bộ địa phương chi phối.

Hỏi: Chúng ta sẽ còn nhiều dịp trở lại kết quả làm việc của Đại hội đảng tại Trung Quốc, nhưng, điều mà thính giả muốn rõ là Việt Nam có thể học được gì từ những xoay chuyển tại quốc gia láng giềng đang có quá nhiều ảnh hưởng tới Việt Nam"

Nói chung thì sau Đại hội 17 này, nếu có dị biệt về quan điểm trong tầng lớp lãnh đạo Trung Quốc thì cũng chỉ là dị biệt nhỏ, có thể là tranh chấp và thỏa hiệp giữa thành phần lãnh đạo xuất thân từ Đoàn thanh niên, gọi là "đoàn phái", với thành phần con ông cháu cha, họ gọi là "Thái tử đảng", là con cháu của các lão đồng chí hay công thần thời xưa. Các công thần hay lão đồng chí này thật ra đều từng là nạn nhân của Mao Trạch Đông và con cháu họ cũng vậy, nên nói chung cũng có tinh thần bảo thủ để bảo vệ thành quả của cá nhân và gia đình sau mấy chục năm khốn khổ. Nếu có dị biệt với "Đoàn phái" thì cũng chỉ trong cách áp dụng hầu vẫn bảo toàn được quyền lực của đảng, tức là của cả hai phe.

Hỏi: Từ hiện tượng đó tại Trung Quốc qua chuyện Việt Nam thì ta có thấy khác biệt gì không"

Thưa là có một khác biệt rất lớn. Thứ nhất, tiến trình thanh lọc và lãnh đạo của Trung Quốc dù sao cũng minh bạch hơn Việt Nam. Vì vậy mà, thứ hai, sự chọn lựa và cả tranh luận về chọn lựa dù sao cũng thông thoáng và may ra thì hợp lý hơn Việt Nam.

Việt Nam thì có một hệ thống lãnh đạo giả hiệu. Chủ tịch nước và cả Thủ tướng cũng khó vượt quyền Bộ trưởng Công an, đấy là một sự giả hiệu. Mà Tổng bí thư đảng cũng chẳng có quyền hạn bằng các Thái thượng hoàng là cấp lãnh đạo cũ đã già yếu bệnh tật. Quyền lực thật bị tản mát trong hệ thống lãnh đạo giả đó vì nhiều quyết định trọng đại về kinh tế hay kinh doanh có khi lại lọt vào tay thân tộc hay thậm chí tỳ thiếp hay gia nô của các vị Thái tượng hoàng già nua lú lẫn. Tham nhũng vì vậy mới càng khó diệt và sự sợ hãi nói chung của xã hội khiến tinh thần dân chủ khó gieo mầm, cho tới khi dân chúng nông thôn sẽ nổi loạn vì bị bóc lột bởi một hệ thống tham ô được định chế hoá mà đảng vẫn không bị trách nhiệm vì chế độ lãnh đạo giả hiệu này.

Hỏi: Nhiều người có thể không đồng ý với nhận định của ông vì tại Việt Nam cũng đã nổi lên cuộc đấu tranh của các thành phần trung niên sinh trưởng trong chế độ cộng sản. Chúng ta có thể trở lại vấn đề này trong các chương trình kế tiếp. Xin trân trọng cám ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.