Hôm nay,  

Đại Hội Đảng Tại Trung Quốc

09/10/200700:00:00(Xem: 11515)

...dân cúi đầu kiếm ăn và tìm cách nuốt dần sự bất mãn bằng thành tựu kinh tế...

Tuần tới, đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ triệu tập Đại hội toàn đảng khóa 17, một biến cố năm năm mới có một lần, để hoạch định đường lối và đề cử lãnh đạo tại các cấp trong năm năm sắp tới. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm nhiều những chiều hướng chính trong biến cố trọng đại của quốc gia này, qua cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây...

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ triệu tập Đại hội khoá 17 vào ngày 15 tới. Chúng tôi đề nghị là trong chương trình chuyên đề tuần này, ta cùng tìm hiểu về biến cố đó, với ảnh hưởng về chính sách kinh tế xã hội trong năm năm sắp tới tại Trung Quốc, và đặc biệt chú ý tới những gì mà Việt Nam cần quan tâm.

Vâng thưa ông, và người ta có thể quan tâm ngay từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ chót, sẽ triệu tập hôm nay để hoàn chỉnh mọi quyết định trước khi Đại hội chính thức khai mạc tại Bắc Kinh.

Hỏi: Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là cái gì khiến cho đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn tồn tại, và năm năm họp Đại hội một lần để vạch ra đường lối lãnh đạo cho quốc gia, khi mà thế giới đều biết, kể cả người dân và lãnh đạo Trung Quốc, rằng chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung trong thực tế"

Câu hỏi của ông hàm ý là vì sao mà một hệ thống chính trị dựa trên một ý thức hệ đã lỗi thời mà vẫn có khả năng lãnh đạo và còn tiếp tục lãnh đạo để cứ năm năm lại có đại hội vạch ra đường lối và tuyển chọn nhân sự lãnh đạo cho thời gian sắp tới" Tôi nghĩ rằng câu trả lời có thể nằm ngay trong nét văn hoá đặc thù của Trung Quốc - và của cả Việt Nam vì Việt Nam bị ảnh hưởng văn hoá rất mạnh của Trung Quốc mà lại ít nhìn ra, hoặc không dám công nhận - đó là sự sợ hãi.

Hỏi: Ông có thể giải thích cho rõ hơn không" Vì sao sự sợ hãi lại khiến đảng Cộng sản Trung Quốc lại tồn tại với hệ thống chính trị hiện nay"

Người dân Trung Quốc sợ nghèo và sợ loạn, là tình trạng họ đã thấy trong ba chục năm đầu tiên khi chế độ cộng sản nắm chính quyền tại Hoa lục, từ 1949 đến 1979. Lãnh đạo Trung Quốc thì sợ loạn và sợ mất hết đặc quyền rồi đặc lợi đã thu hoạch được từ ba chục năm nay. Vì nỗi sợ phổ biến ấy, người dân đã đành chấp nhận cho lãnh đạo duy trì quyền lực; còn lãnh đạo thì vẫn giữ chế độ chuyên chế nhưng sửa sai dần để tránh động loạn, và quan trọng nhất, chế độ ấy tồn tại nhờ sức trấn áp của quân đội và bộ máy công an.

Đấy là câu trả lời ngắn gọn về thực tế Trung Quốc và phần nào cũng phản ảnh tình trạng chung tại Việt Nam khi mà chẳng còn ai tin vào chủ nghĩa cộng sản nhưng đảng cộng sản vẫn lãnh đạo và nắm quyền. Nói cho nôm na và hơi phũ phàng thì một chế độ độc tài có thể tồn tại khi mà sự sợ hãi có thể khiến người ta cúi đầu rất lâu.

Nếu đi vào chi tiết, người ta có thể giải thích sự kiện trên ở nhiều yếu tố khác.

Hỏi: Nếu đã như vậy, xin ông giải thích luôn những yếu tố đó.

Thưa vâng và đấy cũng là một cách duyệt lại những thay đổi của hiện tượng cộng sản tại Trung Quốc. Vì loạn lạc và bất công trong thời ngoại xâm và nội chiến, người dân Hoa lục đi theo lý luận đấu tranh giai cấp của đảng Cộng sản. Sau đó, kể từ 1949, vì ước mơ hoà bình và phồn vinh, họ cúi đầu chấp nhận đường lối gọi là "xây dựng xã hội chủ nghĩa" của Mao Trạch Đông. Khi việc xây dựng dẫn tới khủng hoảng, trước và trong suốt 10 năm của Đại cách mạng văn hoá vô sản, từ 1966 tới 1976, họ ủng hộ việc cải cách của Đặng Tiểu Bình. Ba mươi năm sau, tức là ngày nay, họ cố ước mơ một hình thái xã hội hài hoà. Nỗi sợ hãi liên tục là chất keo sơn tinh thần đã giữ cho hệ thống này tồn tại suốt sáu chục năm vừa qua.

Nhìn từ phía lãnh đạo, nỗi sợ hãi ấy không chỉ xuất phát từ phản ứng tâm lý của người dân mà thể hiện rõ ràng nhờ khả năng trấn áp mãnh liệt của quân đội và công an. Thí dụ dễ thấy nhất là vụ tàn sát tại quảng trường Thiên an môn hồi tháng Sáu năm 1989. Kể từ đó người dân cúi đầu kiếm ăn và tìm cách nuốt dần sự bất mãn bằng thành tựu kinh tế...

Ta không nên quên rằng suốt mấy ngàn năm, cũng chính là nỗi sợ hãi của dân chúng đã cho phép chế độ quân chủ tồn tại, bất chấp mọi tai ương do Hoàng đế và triều đình gây ra. Nếu nhớ lại lịch sử thì hiện tượng có một hoàng đế anh minh cai trị thật ra chỉ là hãn hữu, còn lại thì nạn gian thần hay nội thân ngoại thích làm loạn nước và làm dân chúng khổ sở vì chiến tranh hay sưu thuế lại là trường hợp phổ biến hơn.

Hỏi: Đó là trường hợp của các nước Cộng sản tại châu Á, chứ tại Liên bang Xô viết hay các nước Cộng sản Đông Âu, người dân cũng bị đàn áp và sợ hãi vậy mà các chế độ này vẫn thay đổi, vì sao lại như vậy"

Thưa ông tình hình có khác biệt vì lãnh đạo của Liên Xô không sợ hãi nặng như vậy nên mới tìm cách thay đổi như những nỗ lực cải cách của ông Gobachev và họ bị tuột tay khiến chế độ sụp đổ luôn dưới sức nặng của những chứng tật bẩm sinh trong chế độ. Tại Đông Âu, sau khi hệ thống Xô viết sụp đổ thì các nước đã được cởi ách thống trị và tự tìm lấy giải pháp khác cho mình. Cái khác ở đây là họ ít sợ hơn nên dám thử nghiệm giải pháp mới, có đúng có sai, có thành có bại, nhưng dù sao vẫn là một thay đổi căn bản.

Hỏi: Trở lại chuyện Đại hội đảng tại Trung Quốc, ông nhận xét thế nào về nét văn hoá ông gọi là sự sợ hãi phổ biến đó"

Nhìn về dài, thì từ đại hội 12 là đại hội xin tạm gọi là đổi từ "loạn" sang "trị" sau cuộc Đại văn cách - chữ loạn và trị trong ngoặc kép vì chỉ có ý nghĩa tương đối - ta thấy một nét chung là tuổi trung bình của cấp lãnh đạo, từ các Trung ương Ủy viên tới các Ủy viên trong Ban Bí thư, Bộ Chính trị và cả Thường vụ của Bộ Chính trị, đều trẻ hơn trước.

Thứ hai, các đảng viên đang hay sẽ bước vào giai tầng lãnh đạo đều ít nhiều là nạn nhân của cuộc Đại văn cách, kể cả Chủ tịch kiêm Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào. Vì vậy, họ rất sợ những tư tưởng cách mạng mà họ cho là phiêu lưu, kể cả trào lưu dân chủ hoá. Nhưng, cũng do kinh nghiệm bản thân và hoàn cảnh chung của đất nước, đa số thành phần sẽ lên lãnh đạo, gọi là thế hệ cách mạng thứ năm sau thế hệ Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo hiện nay, đều trưởng thành hay xuất thân từ nông thôn, từ các tỉnh nằm trong lục địa hơn là các tỉnh duyên hải miền Đông, nên ý thức khá rõ những sức ly tâm tiềm ẩn trong xã hội.

Hỏi: Thưa ông, những sức ly tâm ấy là gì và chúng sẽ ảnh hưởng ra sao tới chiều hướng của lãnh đạo sau này"

Đấy là sức ly tâm hay mầm phân hoá vì khoảng cách giàu nghèo bị đào sâu giữa các thành phần và các địa phương. Đấy là sức ly tâm vì khác biệt sắc tộc, giữa Hán tộc và các sắc dân thiểu số khác, nhất là ở vùng phiên trấn của Trung nguyên. Sau cùng, khác với thế hệ thực sự tham gia cách mạng, thành phần lãnh đạo ngày nay tiếp xúc với thế giới nhiều hơn, và có trình độ giáo dục chuyên môn tương đối cao hơn các thế hệ trước, nên cũng ý thức được nguy cơ tụt hậu của Trung Quốc so với thế giới bên ngoài.

Vì ý thức được những mầm dị biệt ấy, họ cố xây dựng một xã hội hài hoà, là khẩu hiệu chính thức của lãnh đạo từ Đại hội 16, và phát triển xã hội trên một cơ sở khoa học hơn, là điều sẽ trở thành khẩu hiệu của Đại hội 17 sau này. Và vừa trấn an người dân về miếng ăn, tức là duy trì tinh thần lý tài có lợi cho đảng, họ vừa khích lệ lòng ái quốc hay tự ái dân tộc bằng cách biểu dương sức mạnh hay sức nặng của Trung Quốc đối với thế giới.

Hỏi: Có một vấn đề mà các nhà lý luận hoặc dân chúng nói chung vẫn tò mò muốn hiểu, kể cả ở Việt Nam. Thưa ông, hình thái phát triển kinh tế thị trường dưới một chế độ chuyên chế hay toàn trị có dẫn tới mâu thuẫn là sự hình thành của một giai cấp tư sản có quyền lợi đối nghịch với đảng không"

 Đây là ước mơ hão huyền của các nước dân chủ hay của Tây phương, theo lý luận đượm mùi Mác-xít từ vô thức, rằng kinh tế phát triển sẽ sản sinh ra một giai tầng xã hội có quyền lợi đối nghịch với thành phần đảng viên. Thực tế là tại Trung Quốc, và theo thống kê chính thức của chính quyền, thì hơn một phần ba giới tư doanh, là chủ doanh nghiệp tư nhân, lại là đảng viên đảng Cộng sản. Và 35% những người giàu nhất Trung Quốc, các tỷ phú hay triệu phú bằng đô la, cũng lại là đảng viên!

Trong cuộc thi đua làm giàu này thì thành phần ta gọi là "tư bản đỏ" vẫn chiếm ưu thế vì có chỗ tựa là chế độ chính trị hiện hành với bộ máy trấn áp của đảng. Vì vậy mà trong kinh doanh, yếu tố thành bại vẫn là có quan hệ hay không với bộ máy đảng và nhà nước. Và cũng vì vậy mà tham nhũng mới trở thành một thuộc tính của chế độ.

Nếu có áp lực thay đổi thì tôi thiển nghĩ rằng nó xuất phát từ nông thôn, từ thành phần nông dân bị lãng quên, tụt hậu và bị cướp đất. Thế hệ lãnh đạo hiện hành ý thức được mối nguy đó nên trong năm năm qua đã cố gắng tái phân lợi tức để san sẻ nhiều hơn cho các địa phương nghèo túng ít tiếp cận với kinh tế thế giới, và cũng chịu khó giải trừ nạn tham nhũng hơn thời Giang Trạch Dân lãnh đạo.

Hỏi: Xin hỏi ông luôn về nỗ lực giải trừ tham nhũng ấy tại Trung Quốc vì tai ương tham nhũng cũng là một vấn đề gây bức xúc cho mọi người tại Việt Nam.

Suốt giai đoạn phát triển kinh tế xã hội theo kiểu lý tài của Đặng Tiểu Bình và nhất là của Giang Trạch Dân, quyền lực đảng tại Trung ương bị tan loãng dần vì thế lực kinh tế rất mạnh của các đảng bộ tại địa phương. Thế lực ấy dẫn tới tham nhũng ngay trong đảng bộ địa phương mà trung ương không giải trừ được.

Đã thế, trong vụ diệt trừ tham nhũng, có hai việc bị lồng làm một. Thứ nhất là quyền lực trung ương bị các địa phương chi phối, thứ hai là thế hệ lãnh đạo thứ tư Hồ Cẩm Đào hay Ôn Gia Bảo, đều gặp trở lực từ thành phần lãnh đạo do Giang Trạch Dân nâng đỡ hay là cài ở lại. Biểu hiện của mâu thuẫn ấy là tranh chấp quyền lực giữa những người như ông Hồ Cẩm Đào hay do ông ta cất nhắc từ lâu, đa số là các đảng viên xuất thân từ Đoàn Thanh niên Cộng sản, gọi là "đoàn phái", với thành phần của Giang Trạch Dân, xuất thân từ Thượng Hải, được gọi là "cánh Thượng Hải". Mãi tới năm ngoái, Hồ Cẩm Đào mới loại trừ được Bí thư Thượng Hải là Trần Lương Vũ về tội tham nhũng để đưa ông Tập Cận Bình vào đó, và nhân vật này có nhiều triển vọng sẽ trở thành thế hệ lãnh đạo nối tiếp Hồ Cẩm Đào sau Đại hội 18 vào năm 2012 này.

Hỏi: Như vậy, việc giải trừ tham nhũng có khi chỉ là bình phong che giấu sự tranh đoạt quyền lực phe phái bên trong Bộ Chính trị mà thôi"

Thưa đó chỉ là một phần mà mình không thể không thấy. Tuy nhiên, và đây là điều sẽ ảnh hưởng tới Đại hội 17, là lãnh đạo đảng tại Bắc Kinh đang cố gắng tập trung lại quyền lực so với các địa phương. Cụ thể trong nỗ lực giải trừ tham nhũng là cách đây một tháng họ đã lập ra một cơ quan ngang bộ, trong Quốc vụ viện, tức là Hội đồng Chính phủ, để ngăn ngừa tham nhũng. Cơ quan này có tên là Cục phòng chống tham nhũng quốc gia, do một nữ đảng viên đang là Phó Ủy viên Trung ương về Thanh tra và Kỷ luật đảng điều khiển. Nó có nhiệm vụ báo cáo thẳng lên Chính phủ mà khỏi bị các đảng bộ địa phương chi phối.

Hỏi: Chúng ta sẽ còn nhiều dịp trở lại kết quả làm việc của Đại hội đảng tại Trung Quốc, nhưng, điều mà thính giả muốn rõ là Việt Nam có thể học được gì từ những xoay chuyển tại quốc gia láng giềng đang có quá nhiều ảnh hưởng tới Việt Nam"

Nói chung thì sau Đại hội 17 này, nếu có dị biệt về quan điểm trong tầng lớp lãnh đạo Trung Quốc thì cũng chỉ là dị biệt nhỏ, có thể là tranh chấp và thỏa hiệp giữa thành phần lãnh đạo xuất thân từ Đoàn thanh niên, gọi là "đoàn phái", với thành phần con ông cháu cha, họ gọi là "Thái tử đảng", là con cháu của các lão đồng chí hay công thần thời xưa. Các công thần hay lão đồng chí này thật ra đều từng là nạn nhân của Mao Trạch Đông và con cháu họ cũng vậy, nên nói chung cũng có tinh thần bảo thủ để bảo vệ thành quả của cá nhân và gia đình sau mấy chục năm khốn khổ. Nếu có dị biệt với "Đoàn phái" thì cũng chỉ trong cách áp dụng hầu vẫn bảo toàn được quyền lực của đảng, tức là của cả hai phe.

Hỏi: Từ hiện tượng đó tại Trung Quốc qua chuyện Việt Nam thì ta có thấy khác biệt gì không"

Thưa là có một khác biệt rất lớn. Thứ nhất, tiến trình thanh lọc và lãnh đạo của Trung Quốc dù sao cũng minh bạch hơn Việt Nam. Vì vậy mà, thứ hai, sự chọn lựa và cả tranh luận về chọn lựa dù sao cũng thông thoáng và may ra thì hợp lý hơn Việt Nam.

Việt Nam thì có một hệ thống lãnh đạo giả hiệu. Chủ tịch nước và cả Thủ tướng cũng khó vượt quyền Bộ trưởng Công an, đấy là một sự giả hiệu. Mà Tổng bí thư đảng cũng chẳng có quyền hạn bằng các Thái thượng hoàng là cấp lãnh đạo cũ đã già yếu bệnh tật. Quyền lực thật bị tản mát trong hệ thống lãnh đạo giả đó vì nhiều quyết định trọng đại về kinh tế hay kinh doanh có khi lại lọt vào tay thân tộc hay thậm chí tỳ thiếp hay gia nô của các vị Thái tượng hoàng già nua lú lẫn. Tham nhũng vì vậy mới càng khó diệt và sự sợ hãi nói chung của xã hội khiến tinh thần dân chủ khó gieo mầm, cho tới khi dân chúng nông thôn sẽ nổi loạn vì bị bóc lột bởi một hệ thống tham ô được định chế hoá mà đảng vẫn không bị trách nhiệm vì chế độ lãnh đạo giả hiệu này.

Hỏi: Nhiều người có thể không đồng ý với nhận định của ông vì tại Việt Nam cũng đã nổi lên cuộc đấu tranh của các thành phần trung niên sinh trưởng trong chế độ cộng sản. Chúng ta có thể trở lại vấn đề này trong các chương trình kế tiếp. Xin trân trọng cám ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.