Hôm nay,  

Cải Tổ Tài Chánh: Nghĩ Gì?

03/08/201000:00:00(Xem: 8351)

Cải Tổ Tài Chánh: Nghĩ Gì"
Vũ Linh

Nạn nhân kế là giới trung lưu, sẽ khó vay tiền mua nhà, mua xe...

Trung tuần Tháng Bẩy, TT Obama long trọng ký luật cải tổ tài chánh vừa được lưỡng viện thông qua. Đây là bộ luật tài chánh lớn nhất từ hơn 70 năm nay.
Những người ủng hộ TT Obama và truyền thông của “lề phải” đã mau mắn phủ phục tung hô rằng đây là biến cố lịch sử, lại một phép mầu của Đấng Tiên Tri sẽ bảo đảm thế giới được an toàn và người dân thấp cổ bé họng sẽ được bảo bọc kỹ càng trong vài thiên niên kỷ nữa. Những người chống TT Obama coi đây là một mẻ lưới nữa của Nhà Nước để kiểm soát sinh hoạt kinh tế tài chánh cả nước, là bằng chứng nước Mỹ đang bước thêm một bước nữa qua ngưỡng cửa “xã hội chủ nghĩa”.
Sự thật dĩ nhiên ở khoảng giữa đâu đó. Bộ luật này là một bước tiến vĩ đại về hướng tả, tuy chưa đưa nước Mỹ vào chế độ xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng chẳng bảo đảm an toàn tài chánh tuyệt đối.
Thật ra, cũng như bất cứ bộ luật nào khác, bộ luật này không hoàn toàn xấu, cũng chẳng hoàn toàn tốt. Có những điểm hay, những điểm đang lo ngại, cũng có thiếu xót và… vài chuyện quái lạ.
CÁI HAY
Khủng hoảng tài chánh vừa qua thực sự là khủng hoảng tín dụng. Trong hơn hai thập niên, các ngân hàng đã lạm dụng, cung cấp tín dụng bừa bãi qua nợ mua nhà, mua xe, và thẻ tín dụng cho hàng triệu người không có đủ điều kiện vay mượn. Khách tiêu thụ đã bị choáng mắt bởi tín dụng quá dễ dãi, tưởng rằng mình có thể có được tất cả những tiện nghi vật chất một cách dễ dàng, không có hậu quả tai hại nào. Kết quả, một số lớn đã trở thành nạn nhân của các ngân hàng cũng như nạn nhân của lòng tham hay sự cẩu thả của chính họ. Đưa đến tình trạng nhà cửa bị xiết, xe cộ bị lấy mất, và thẻ tín dụng bị thu hồi. Khủng hoảng là hậu quả của lòng tham từ phía các ngân hàng, nhưng cũng là lòng tham từ phiá người tiêu thụ chúng ta. Nhìn nhận sự kiện đó để khỏi đổ thừa lên đầu TT Bush thì ta mới nhìn được rõ vấn đề.
Bộ luật cải tổ tài chánh mới ban hành sẽ mang lại cho người dân bình thường chúng ta một số những bảo đảm căn bản, vì chúng ta là những người chẳng hiểu mô tê ất giáp gì về luật lệ tài chánh, về cách các ngân hàng tính tiền lãi và lệ phí, cũng chẳng biết đọc những hàng chứ li ti trên hàng xấp giấy nợ ngân hàng bắt phải ký, v.v…
Bộ luật mới lập những rào cản thực tế bảo vệ người tiêu thụ khỏi bị các ngân hàng lừa, bắt các ngân hàng sáng tỏ các điều kiện vay mượn, giúp chúng ta hiểu rõ chúng ta đang làm gì hơn. Luật mới cũng không cho phép ngân hàng cho vay quá dễ dàng, tức là chúng ta sẽ không còn cơ hội vay mượn tiền ngân hàng bừa bãi như trước. Sẽ không còn vay mượn với “no down”. Cũng không còn loại nợ gọi là “NINJA loan” nữa (NINJA tức là No Income, No Job and Assets, cũng là loại nợ liều mạng kiểu võ sĩ cảm tử Ninja Nhật!).
CÁI ĐÁNG LO NGẠI
Bộ luật này cũng không khác gì các bộ luật vĩ đại kiểu Obama: dày hơn 2.300 trang. Cũng như bộ luật cải tổ y tế, các chuyên gia và luật gia sẽ phải làm việc và cãi nhau trong vài tháng nữa mới hoàn tất được các chi tiết về thủ tục áp dụng. Do đó, cho đến nay, cũng chưa ai rõ được tất cả chi tiết và hậu quả thực tế của luật mới.
Nhưng giới doanh gia đã công khai bày tỏ sự lo ngại của họ. Phòng Thương Mại Mỹ (American Chamber of Commerce) là tổ chức doanh gia lớn nhất nước, đã công khai chống đối luật mới vì họ cho rằng luật này không thân thiện gì lắm đối với doanh giới, trái lại chỉ gây khó khăn khi họ cần mượn tiền làm ăn, qua hàng hàng lớp lớp thủ tục giấy tờ, với lãi suất vay mượn và lệ phí dịch vụ cao hơn. Lệ phí ký chi phiếu, chuyển ngân, bảo quản tài khoản,… chắc chắn sẽ gia tăng. Và công ty càng nhỏ thì những khó khăn trên càng lớn, gánh nặng của lãi xuất và lệ phí càng cao.
Nạn nhân chính không phải là các đại gia, mà sẽ là các tiểu thương, trong đó có hầu hết các cơ sở kinh doanh của dân Việt tỵ nạn. Hậu quả dĩ nhiên sẽ là việc tăng giá cả cho tất cả những người tiêu thụ. Một ông chủ tiệm phở ở khu Bolsa nếu phải trả tiền lãi và lệ phí ngân hàng cao hơn thì dĩ nhiên sẽ kiếm cách bù đắp bằng tăng giá tô phở thôi.
Nạn nhân kế là giới trung lưu, cũng sẽ khó vay tiền mua nhà, mua xe, hay để trả tiền nhà thương, hay tiền học hành cho con cái, và sẽ phải trả lệ phí ngân hàng cao hơn.
NHỮNG THIẾU XÓT
Bộ luật được quảng bá sẽ giúp nước Mỹ tránh được tình trạng khủng hoảng đe dọa sự sống còn của những đại tập đoàn tài chánh, khiến Nhà Nước phải dùng tiền thuế của dân để cứu họ, như TT Bush đã làm cuối năm 2008, với luật TARP. Theo luật mới, nếu ngân hàng bị khó khăn thì sẽ phải khai phá sản, tài sản sẽ bán để thanh toán nợ nần, Nhà Nước không can thiệp. Thực tế không giản dị như vậy.
Không phải như phe Dân Chủ tố giác là TT Bush dùng cả tỷ tiền thuế của dân để cứu các tài phiệt, nên bây giờ TT Obama phải làm luật để cho các tài phiệt này chết mà sẽ không cứu. Đây chỉ là lập luận mỵ dân rẻ tiền để lường gạt người khờ. Từ xưa đến nay, đảng Cộng Hòa là đảng chủ trương không can thiệp vào guồng máy kinh tế, trong khi đảng Dân Chủ chủ trương ngược lại. Nhìn vào việc TT Obama cứu hai hãng xe GM và Chrysler thì rõ.
Từ đầu năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chánh đã manh nha. Nhưng đúng theo chủ trương của Cộng Hòa, TT Bush không can thiệp, đưa đến sự phá sản của hai đại công ty tài chánh Bear Stearns và Lehman Brothers mùa thu năm đó. Nhưng rồi khủng hoảng lan rộng mau chóng vì những liên hệ chặt chẽ về dịch vụ và nợ nần qua lại giữa các ngân hàng lớn trên khắp thế giới. Sau khi Lehman khai phá sản, thì hàng loạt đại tập đoàn tài chánh từ Mỹ qua Âu Châu, Á Châu cũng bị đe dọa xập tiệm theo. Những ngân hàng này quá lớn, không thể để bị đồng loạt phá sản được. Chẳng đặng đừng, TT Bush phải can thiệp, cứu nguy.
Sự thật là các đại tập đoàn này quá lớn, nếu để phá sản sẽ tạo ảnh hưởng dây chuyền giết luôn toàn bộ hệ thống ngân hàng Mỹ và thế giới. Trong tương lai, nếu có một đại tập đoàn nào bị đe dọa, Nhà Nước Obama bất chấp luật mới sẽ vẫn phải can thiệp để cứu cả hệ thống tài chánh Mỹ và thế giới.


 Trước cuộc khủng hoảng cuối năm 2008, hệ thống tài chánh Mỹ nằm trong tay khoảng hai chục tập đoàn tài chánh lớn. Cuộc khủng hoảng giết đi một mớ qua phá sản hay qua sát nhập, và đưa đến tình trạng tập trung lớn hơn trước nữa! Hiện nay, không phải hai chục mà chỉ năm tập đoàn lớn đã kiểm soát được một nửa thị trường tài chánh Mỹ. Đó là các đại tổ hợp Bank of America, JP Morgan, Wells Fargo, Citi Group, và Goldman Sachs. Tổng tài sản của họ được ước lượng là khoảng 9.000 tỷ Mỹ kim, và tổng số khách hàng của họ lên đến hàng trăm triệu người. Bất cứ một tổ hợp nào phá sản sẽ kéo theo sự phá sản của các tổ hợp còn lại, tức là sự phá sản của cả hệ thống tài chánh thế giới.
Một cách thực tế, luật mới không can thiệp để cứu nguy các ngân hàng bị khó khăn sẽ chỉ được áp dụng cho những ngân hàng hạng trung hay nhỏ, nhưng tuyệt đối không thể áp dụng được với các đại tổ hợp, bất kể những lời quảng bá của TT Obama. Nói như TT Obama là sẽ để cho các tập đoàn này phá sản mà không cứu là… nói láo không hơn không kém. Trước đây, các tập đoàn này được coi là “too big to fall”, bây giờ họ đã trở thành “too much bigger to fall”.
Một điểm thiếu sót cực kỳ quan trọng nữa liên quan đến hai đại tổ hợp quốc doanh Fannie Mae và Freddie Mac, là hai tổ hợp chuyên mua lại các nợ mua nhà của các ngân hàng, để giúp các ngân hàng có tiền mặt cho thiên hạ vay tiếp tục.
Fannie Mae (và sau này thêm Freddie Mac) là cơ quan bán công được thành lập ngay sau cuộc khủng hoảng kinh tế đầu thập niên 30 để giúp tài tái trợ nợ mua nhà. Từ ban đầu, một chính sách tín dụng bảo thủ được áp dụng: 20% trả trước (down payment), phải có việc làm liên tục hai năm, và tiền nợ trả hàng tháng phải dưới 28% tiền lương trước khi trừ thuế. Đến thời TT Clinton (chứ không phải Bush), ông quyết định thả lỏng chính sách tín dụng ngân hàng. Hàng loạt luật lệ kiểm soát ngân hàng được ông bãi bỏ. Fannie Mae nhận được lệnh phải gia tăng số nợ dành cho “dân nghèo” với lợi tức thấp qua những dễ dãi của một loại nợ mới, gọi là nợ thứ cấp dưới tiêu chuẩn (sub-prime loans). Những tiêu chuẩn bảo thủ cũ biến mất. TT Clinton cũng chỉ thị số lượng nợ thứ cấp phải trên 55% tổng số nợ tái tài trợ của Fannie Mae. Dưới trào Clinton, tổng số nợ của Fannie Mae tăng vọt từ 100 tỷ năm 1990 lên đến 900 tỷ năm 2002. Đến năm 2007, Fannie Mae và Freddie Mac sở hữu một nửa số lượng nợ mua nhà của cả nước Mỹ, trong đó hơn một nửa (55%) là nợ dưới tiêu chuẩn.
Khi đê vỡ bờ năm 2008, Fannie Mae và Freddie Mac là hai đại tổ hợp đầu tiên bị đe dọa phá sản vì hàng trăm tỷ nợ dưới tiêu chuẩn biến thành nợ thất thu, khiến TT Bush phải mau chóng quốc hữu hoá cả hai, tức là cho Nhà Nước gánh tất cả nợ của cả hai đại tổ hợp này.
Nói rõ ra, hai đại tổ hợp này, nhờ chính sách mua lại nợ mua nhà của các ngân hàng, đặc biệt là các nợ dưới tiêu chuẩn, là hai cơ quan chịu trách nhiệm lớn nhất trong vụ khủng hoảng tài chánh vừa qua. Nhưng bộ luật cải tổ tài chánh mới ra lại không có một chữ nào đề cập đến hai cơ quan này. Luật mới đề ra chỉ để kiểm soát các ngân hàng mà không áp dụng cho Fannie Mae và Freddie Mac. Một sự kiện cực kỳ vô lý, chỉ có thể được giải thích bằng lý do hai cơ quan này đang sở hữu cũng như chuyên mua lại tín dụng dưới tiêu chuẩn cho “dân nghèo”, do đó, vì lý do chính trị, không ai dám đụng đến khối “dân nghèo” này, phần lớn là dân da màu, cử tri của đảng Dân Chủ.
Đây là ta chưa nói đến mối quan hệ "loạn luân" về tiền bạc giữa hai tổ hợp này với các chính trị gia bên đảng Dân Chủ, trước tiên là hai tác giả của đạo luật, Dân biểu Barney Frank và Nghị sĩ Chris Dodd: họ được hai tổ hợp này chi tiền yểm trợ dồi dào trong những năm trước và khi hai cơ sở này rung chuyển vào đầu năm 2008, ông Frank còn gân cổ nói rằng đừng hốt hoảng, hai tập đoàn này vẫn lành mạnh! Chúng ta sẽ trở lại chuyện quái lạ này.
CÁI QUÁI LẠ
Năm 1999, bà Brooksley Born, người chịu trách nhiệm kiểm soát giao dịch thương phẩm phái sinh (hay "biến phiếu thương phẩm" - commodity derivatives) lên tiếng yêu cầu ra luật lệ kiểm soát chặt chẽ những dịch vụ này. Bà bị chỉ trích nặng nề và bị bộ trưởng Tài Chánh Larry Summers (hiện là Cố Vấn Kinh Tế cho TT Obama) ép từ chức. Một năm sau, tháng 12 năm 2000, một tháng trước khi TT Clinton bàn giao cho TT Bush, dưới sự bảo trợ của dân biểu Barney Frank tại Hạ Viện và TNS Christopher Dodd tại Thượng Viện, quốc hội Dân Chủ ra luật Commodity Futures Modernization Act, miễn tất cả các dịch vụ phái sinh khỏi phải chịu sự kiểm soát nào của Ủy Ban Chứng Khoán và Giao Dịch (Securities & Exchange Commission).
Năm 2005, TT Bush lo ngại về giá nhà tăng quá mạnh, chẳng hạn như ở California và Florida, do sự bành trướng quá nhanh của Fannie Mae và Freddie Mac, ra lệnh cho bộ trưởng Tài Chánh John Snow đề nghị Quốc hội ra luật giới hạn và kiểm soát nợ dưới tiêu chuẩn của hai cơ quan này. Đề nghị bị hai ông Frank và Dodd bác bỏ. Họ ồn ào tố cáo TT Bush âm mưu xiết chặt không cho ngân hàng cấp nợ mua nhà cho dân nghèo, và muốn biến quyền sở hữu nhà thành một đặc quyền của dân nhà giàu.
Năm 2009 sau khi Fannie Mae và Freddie Mac bị quốc hữu hóa, người ta khám phá hai vị dân cử ăn tiền yểm trợ nhiều nhất của hai cơ quan này chính là hai ông Frank và Dodd (người đứng hàng thứ ba là một thượng nghị sĩ từ Chicago tên là… Barack Obama !).
Năm 2010 này, cũng chính hai ông Frank và Dodd là hai vị dân cử lớn tiếng tố cáo TT Bush và đảng Cộng Hòa đã thả lỏng cho tài phiệt bóc lột dân mà không chịu kềm chế họ, gây ra khủng hoảng tài chánh. Hai ông đứng ra bảo trợ luật cải tổ tài chánh với mục đích kiểm soát chặt chẽ các dịch vụ phái sinh, nợ mua nhà, và các định chế tài chánh nói chung.
Nói cách khác, hai thủ phạm lớn nhất trong cuộc khủng hoảng tài chánh của thế kỷ, bây giờ lại là hai người đang khua chiêng gõ trống tố khổ Bush và hùng hổ bảo trợ luật cải tổ tài chánh. Tưởng chuyện đùa mà lại là chuyện thật một trăm phần trăm. (1-8-10)
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng mỗi Thứ Ba trên Việt Báo.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.